Góp Ý Về Việc Xử Dụng Hóa Chất Ở Việt
Kễ
từ khi có chính sách đổi mới năm 1986, lượng hóa chất xử dụng trong nông nghiệp
ở Việt
Theo báo cáo mới nhất ngày 24/2/2003 cùa Viện
Nghiên cứu Chulabhorn (Thai Lan) và Sở KH CN MT Hà nội dưới tựa đề “Những vấn đề
độc học môi trường do xử dụng hoá chất ở Việt Nam” (Environmental Toxicological
Problems Resulting from Chemical Uses in Viet Nam) cho thấy mỗi năm Việt Nam xử
dụng đến 9 triệu tấn hóa chất thuộc 500 loại khác nhau. Tuy
nhiên chỉ có 70 – 75% các loại hóa chất nầy được xác định với tên chính xác,
còn lại là những hóa chất không rõ xuất xứ. Đối với các hóa chất bảo vệ
thực vật, có trên 200 chủng loại dưới 700 nhản hiệu khác nhau, và có vô số hóa
chất “không tên” vẫn được lưu hành rộng rãi trong thị trường. Đây là báo cáo được
hai bên thực hiện do Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) từ năm 1998 đến
nay.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, lượng hóa chất bảo
vệ thực vật được xử dụng ở Việt Nam lên tới 220.000 tấn trong năm 1998, trong
đó phần lớn là thuốc trừ sâu và còn lại là trừ cỏ, trừ bịnh. Nhóm
hữu cơ phosphate chiếm khỏang 56%, phổ biến nhất là Wofatox và Monitor, một loại
thuốc độc hại cho môi trường và con người. Thậm chí ở
một số tỉnh như Hòa bình, Vĩnh phúc, Bắc thái, Tuyên quang, Yên bái thuốc trên
còn được phun cho cây trà và thuốc lá.
Theo khuyến cáo của Cơ quan Lương nông Quốc
tế (FAO) thì trên thị trường có hơn 30% hóa chất bảo vệ thực vật không đáp ứng
được tiêu chuẩn yêu cầu và chứa nhiều tạp chất độc hại cũng như có rất nhiều
hóa chất đã bị cấm xử dụng trên thế giới. Việt
Tuy nhiên, mặc dù có những điều cấm kỵ trên,
nông dân vẫn tiếp tục xữ dụng bvừa bãi tất cả mọi hóa chất mà họ có trong tay. Thậm chí những loại hóa chất nhập cảng lậu bị tịch thu cũng được “cán bộ quản lý” tiêu lòn và tung ra thị trường
nông nghiệp.
Theo ước tính, hàng năm thế giới tiêu thụ
khoảng 2,5 triệu tấn thuốc bảo vệ thực vật đủ loại và
là một nguồn lợi rất lớn cho những quốc gia sản xuất. Chỉ tính riêng cho ba hảng
hoá chất lớn ở Hoa kỳ là Monsanto, Dow, và DuPont, năm 2000 họ thu về tổng cộng
là 8,667 tỹ Mỹ kim chỉ tính riêng cho hóa chất bảo vệ thực vật mà thôi. Trung hoa là quốc gia thứ nhì trên thế giới sản xuất 424.000 tấn
cho năm 2000. Mặc dù DDT đã bị cấm sản xuất và tiêu dùng trên thế giới
nhưng Trung hoa, Mể tây cơ, Aán độ, và Ý đại lợi là những quốc gia còn lại vẫn
tiếp tực sản xuất bất chấp lịnh cấm của LHQ.
Ở Việt
Sau đây là danh sách một số hóa chất độc hại
được áp dụng rộng rãi ở Việt
Do đó, nguy cơ ô nhiễm môi trường sống ờ Việt
Vì vậy, cần phải có cái
nhìn chính xác hơn về việc xử dụng hóa chất trong nông nghiệp.
Hậu quả của việc áp dụng hóa chất không
thích hợp
Việc áp dụng hóa
chất bảo vệ thực vật không đúng cách (đúng liều lượng thích hợp), không đúng đối
tượng (sâu rầy.. .), và không đúng thời gian là ba yếu
tố làm cho:
·
Môi trường
thoái hóa nhanh;
·
Hiệu quả
kinh tế trong sản xuất thấp;
·
Và sức
khoẻ của nông dân bị ảnh hưởng vì không có biện pháp phòng bị an tòan khi tiếp cận với hoá chất.
Một thí dụ trong việc trồng
lúa. Nông
dân thường có thói quen phun xịt đồng ruộng trong tháng đầu tiên sau khi gieo mạ.
Điều nầy chẳng những không cần thiết mà ngược lại việc làm nầy
tiêu diệt các loại côn trùng “bạn” có khả năng diệt trừ sâu rầy. Thêm nữa, việc phun xịt sớm chỉ tiêu diệt được sâu rầy trưởng thành
nhưng không diệt được các trứng của chúng. Theo ước tính Việt Nam đã xử
dụng 42% trên tổng số thuốc bảo vệ thực vật để tiêu diệt sâu cuốn lá, nhưng
nghiên cứu đã cho thấy rằng cây lúa dù mất đi 50% lá vẫn giữ nguyên năng suất
lúc ban đầu. Viện Đại học Cần thơ và IRRI (
Vì các lý do trên, những quốc gia sản xuất
nông nghiệp trên thế giới đều có khuynh hướng giảm thiểu tối đa việc dùng hóa
chất.
Quản lý toàn diện sâu rầy – Trường hợp
Thêm nữa, chính quyền
Sau mười năm áp dụng,
·
Việc xử
dụng thuốc bảo vệ thực vật hầu như chấm dứt trong việc trồng lúa;
·
Năng suất
lúa gạo tăng 10%;
·
Chi phí
y tế do bị nhiễm độc giãm từ khi áp dũng chính sách Quản lý tòan diện sâu rầy.
Do đó bài học của
Từ mô hình cân bằng giữa quản lý môi trường
và phát triển quốc gia của Chí lợi mà ngườiviết đã trình bày vào năm 2002,
Qua các nhận định trên, dù muốn dù không Việt
Kỹ nghệ lúa gạo
Trong việc trồng lúa, nông dân cũng nên thẩm
thấu các khái niệm mới (đúng đắn) để dứt khoát thay đổi cung cách và quan niệm
cổ điển do việc không được huấn luyện đúng cách, và có những thông tin sai lạc
nhất là việc xử dụng hóa chất trừ sâu rầy.
Diện tích đất trồng trọt và môi trường: Trước
kia, khi chưa có vấn nạn gia tăng dân số, mô hình điển
hình cho một gia đình nông dân là một miếng ruộng, một miếng vườn nhỏ có cây
bao bọc chung quanh nhà. Đây là mô hình lý tưởng cho quan niệm
môi sinh mới. Nơi đây có chu kỳ sinh-diệt tự
nhiên của ếch nhái, muỗi mòng, chim chót, nhện, rắn, chuột, và một số côn trùng
khác. Các loại kễ trên tiêu diệt lẫn nhau tạo ra một sự cân bằng sinh thái mà
không cần thiết phải bón phân hay dùng thuốc bảo vệ thực vật. Đây cũng là một mô hình lý tưởng cho việc phát triển bền vững.
Kiểm soát sâu rầy bằng sinh vật: Theo
nguyên tắc tự nhiên, bất kỳ một loài sinh vật nào cũng có một loài khác cấm kỵ.
Do đó nông dân cần phải đủ trình độ (được huấn luyện) để nhận diện các loại côn
trùng, thấu hiểu cung cách ăn uống hay săn mồi của chúng để từ đó dùng các loại
thích ứng để bảo vệ mùa màng. Thí dụ như các loại côn trùng cánh cứng (lady
beetles), nhện đồng (wold spiders)….. có thể tiêu diệt
được sâu rầy ăn lá lúa.
Kiểm soát cỏ dại: Cần nên giải quyết vấn
đề nầy trước khi bắt đầu một chu kỳ trồng trọt mới.
Các biện pháp cơ học như lật đất, nhổ cỏ, hay thiêu đốt là phương pháp đúng đắn
để bảo vệ và làm tăng năng suất cây trồng hơn là dùng thuốc diệt cỏ dại.
Chọn giống lúa có khả năng đề kháng
sâu rầy cao, kiểm soát hạt giống: Hạt giống cần được bảo quản kỹ lưỡng, thoáng
khí và khô. Năng suất có thể tăng thêm 10% với hạt giống tốt.
Thời gian xử dụng thuốc trừ sâu rầy:
Dù muốn dù không cũng cần phải dùng một số thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên phải
cần xử dụng đúng nơi, đúng lúc. Kenneth Fisher thuộc viện IRRI khuyến cáo là
nên bắt đầu xịt thuốc trừ sâu rầy 40 ngày sau khi gieo mạ. Nếu làm sớm hơn, các
loại côn trùng “hữu ích” chưa đủ sức đề kháng sẽ bị tiêu diệt cùng một lúc với
sâu rầy, và sẽ không còn đủ số lượng để tiêu diẹt sâu bọ còn sống sót sau cơn
phun xịt. Nên nhớ trứng sâu bọ sẽ không bị hủy diệt nếu phun xịt sớm.
“Con cá ôm cây lúa”: Mộât chính sách đề ra
cách đây 5 năm của Việt Nam đã thất bại là chính sách “con tôm cây lúa”, chính
sách “con cá ôm cây lúa” đề ra đây sẽ giúp cho nông dân vừa tăng năng suất lúa
lại có thêm nguồn protein động vật phụ trội. (Vào những năm
1980-81, trong khi còn kẹt lại ở Việt
Thêm nữa, nếu ruộng được dẫn thủy nhập điền
đúng cách và đúng chu kỳ, mô hình nầy có thể làm tăng năng suất lên đến 25-30%
không kễ nguồn đạm chất (do cá cung cấp) có thêm sau mùa gặt.
Việc
xử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong kỹ nghệ rau đậu rất cao so với việc trồng
lúa. Theo Cơ quan Lương
nông quốc tế (FAO), một mẩu lúa chỉ cầm 1 – 2 lít thuốc, trong lúc đó một mẩu đất
trồng hoa màu cần đến 72 lít. FAO khuyến cáo là nên kiểm soát
sâu rầy bằng sinh vật hơn là dùng liều lượng thuốc mạnh hơn khi sức đề kháng của
sâu rấy lên cao.
Tại Việt
·
Liều lượng
xử dụng quá nhiều và không đúng cách;
·
Khoảng
thời gian thu hoạch và chuyển tải ra thị trường quá ngắn;
·
Thực phẩm
thu hoạch không được tẩy rữa kỹ lưỡng trước khi được
tiêu thụ.
Khoa học đã chứng
minh một cách rõ ràng là các loại thuốc bảo vệ thực vật dù dưới dạng hữu cơ chứa
chlor hay phosphate đều là những hóa chất độc hại làm ô nhiễm môi trường. Đó là
nguyên nhân của rất nhiều “bịnh lạ” xảy ra ở Việt Nam như: dị hình dị dạng, cơ
thể bị liệt, hệ thống thần kinh không hoạt động bình thường, thiếu một bộ phận
trong cơ thể, ung thư, hệ thống nội tiết bị đão lộn v. v.. . Do đó, hạn chế việc
xử dụng hóa chất trên cho nông nghiệp cần phải được đẩy mạnh tối đa.
Với 9 triệu tấn hóa chất độc hại tiêu thụ
hàng năm không kễ một số lượng lớn ước tính hàng triệu tấn được nhập cảng lậu từ
Trung hoa và Thái lan, Việt Nam hiện tại lại phải đối mặt với hai vấn nạn lớn:
môi trường thoái hóa nhanh, và sức khỏe nông dân bị đe dọa trầm trọng. Thêm nữa,
việc phát triển xã hội không cân đối, nhất là trong lãnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi càng làm cho hệ sinh thái bị hủy diệt
mau hơn. Và điều sau nầy đã vô tình đi ngược lại nguyên tắc phát triển bền vững
do LHQ đề ra qua Nghị trình-21.
Cân bằng phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
qua bài học của Chí lợi cùng với chính sách quản lý tòan vẹn sâu rầy của Nam
dương là hai bài học lớn Việt Nam cần phải áp dụng vào điều kiện xã hội hiện tại
trước vấn nạn gia tăng dân số và việc giải quyết vấn đề gia tăng lương thực cho
quốc gia. Do đó, giãm thiểu tối đa việc dùng hoá chất bảo vệ thực vật là bảo vệ
môi trường, bảo vệ sức khỏe của nông dân bằng cách giãm thiểu nguy cơ bị nhiễm
độc, và nhất là không lệ thuộc vào nguồn hóa chất phải nhập cảng hàng
năm.
Tăng gia diện tích trồng trọt để có đủ lượng
thực phẩm cần cho chỉ tiêu “xuất khẩu” chỉ làm cho môi trường thoái hóa thêm mà
đời sống nông dân vẫn không được cải thiện đúng mức.
Xin hỏi, lợi nhuận hay ngoại tệ nặng có được
do việc xuất cảng hàng triệu tấn gạo có cân bằng được số lượng ngoại tệ phải
chi ra để đổi lấy phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hay không? Hay đó chỉ là giải
đáp của bài tóan giải quyết hàng triệu lao động nông dân có việc làm để đổi lấy
một đời sống “con trâu với cái cày” và những di hại không thể lường được cho sức
khỏe trong tương lai?
Mai Thanh Truyết,