VIỆT NAM:
Phát Triển & Hội Nhập
Mai
Thanh Truyết
Tham luận Hội thảo Chính
trị do Phong trào Thống Nhất Dân Tộc & Xây
Dựng Dân Chủ tổ chức tại trụ sở
American Enterprise Institute (AEI) tại Washington ngày 8/12/2003.
Nh́n lại
bối cảnh Việt Nam đang đi vào thiên kỷ
thứ ba, chúng ta thấy rằng mặc dù có nhiều
cố gắng trong việc giải quyết một số
vấn đề kinh tế của đất nước,
thí dụ như nạn lạm phát được kiểm
soát tương đối chặt chẽ và việc
chuyển hướng mở cửa giao dịch với
thế giới bên ngoài làm cho Việt Nam không c̣n bị cô
lập như trước kia nữa. Tuy nhiên, Việt Nam
vẫn c̣n lúng túng trong những toan tính giải quyết
nạn nghèo đói của dân, tŕ trệ của nền kinh
tế quốc gia cùng lúc với những nhu cầu xây
dựng hạ tầng cơ sở, an sinh xă hội, giáo
dục và bảo vệ tài nguyên và môi sinh của đất
nước. Trong bối cảnh đó, Việt Nam hiện đang
đứng trước hai nhu cầu đối nghịch
nhưng vô cùng cấp bách: Nhu cầu phát triển công
nghệ sản xuất để sinh tồn và nhu cầu
giải quyết các phế phẩm để giữ
sạch và làm sạch môi trường do chính phát triển và
do dân số gia tăng gây ra. (Nhu cầu giải quyết gia
tăng dân số quá nhanh hay hạn chế sinh sản là
một vấn đề bức thiết cần được
lưu tâm và giải quyết ưu tiên nhưng không nằm
trong phạm vi bài tham luận nầy).
Vấn đề là làm thế nào để có một cân
bằng hài ḥa cho hai nhu cầu phát triển và bảo vệ
môi trường để từ đó hội nhập vào
tiến tŕnh phát triển ṭan cầu. Nếu
đặt trọng tâm vào nhu cầu phát triển và coi
nhẹ nhu cầu giải quyết môi trường sẽ
là một đại nạn cho Việt Nam trong một
tương lai rất gần. Và nếu làm như
thế, thế hệ hôm nay không những làm cạn
kiệt tài nguyên của đất nước mà c̣n hủy
hoại môi trường sống của thế hệ tương
lai. Nếu trái lại, đặt ưu
tiên hàng đầu cho việc bảo vệ môi sinh và làm
chậm mức phát triển th́ sẽ không đáp ứng
được nhu cầu tiêu dùng của người dân và
đất nước sẽ ch́m đắm trong nghèo
đói lạc hậu. Việt Nam là một
nước đặt trọng tâm vào nông nghiệp và các
công nghệ biến chế nông phẩm và lương
thực.
Kỹ nghệ dầu hỏa c̣n mang một số
nhược điểm sau:: i/ khai thác
dầu thềm lục địa để xuất
cảng, ii/ kỹ nghệ biến chế dầu c̣n
đang ở trong giai đoạn khởi đầu và iii/
công cuộc tinh chế dầu và công nghệ hóa chất
chuyển hóa từ dầu vẫn c̣n nằm trong giai
đoạn dự thảo..
Các công nghệ hóa chất như acid sulfuric, chlorhydric,
sút, acetylene, và một số hóa chất căn bản khác
trong kỹ nghệ vẫn c̣n trong t́nh trạng sản
xuất cá thể chưa tập trung vào các quy mô lớn...
Công nghệ chế biến cao su cũng c̣n ở mức ban
đầu và chưa có những công nghệ cao cấp
để cho ra những thành phẩm sau cùng (end product) cho
nhu cầu xă hội. Công nghệ dược phẩm
vẫn c̣n ở mức nhập cảng thành phẩm
với khối lượng lớn để rồi pha trộn thành dược liệu và cung
cấp cho thị trường. Ngay cả kỹ nghệ
phân bón của Việt Nam vẫn c̣n đứng
ở giai đoạn pha trộn hơn
là đích thực sản xuất phân bón. Các nhà máy nhập
cảng hầu như ṭan bộ nguyên liệu hóa chất và
pha trộn với các chất phụ gia để có
những loại phân thích hợp với tỷ lệ
Nitrogen (N), Phosphor (P), và Kalium (K) áp dụng cho từng
loại cây trồng.
Từ những nhận xét
sơ khởi trên đây, chúng ta có thể rút tỉa ra
những nguyên nhân chính yếu gây ra t́nh trạng phát
triển không đồng bộ và là cản ngại chính cho
việc hôị nhập vào phát triển ṭan cầu.
1. Chính sách xin-cho: Đây là
một chính sách làm thui chột hầu hết các sáng
kiến của người dân, tạo nên một năo
trạng ban ơn của thượng cấp, và cũng là
một nguyên nhân làm tŕ trệ sự phát triển quốc
gia. Các ư kiến cải tiến kỹ thuật, dự án mới... đều phải qua sự
chấp thuận của cấp trên, những
người thường không có đủ chuyên môn
để giải quyết vấn đề. T́nh trạng nầy đă đưa đến
t́nh trạng xuất năo chất xám tại ngay chính nội
địa. Trong thời gian đổi
mới (1986) trở đi, có rất nhiều chuyên viên,
nghiên cứu sinh được gữi ra ngoại quốc
để học hỏi thêm và cập nhật hóa tŕnh
độ khoa học kỹ thuật cùng các công nghệ
mới của nước ngoài. Nhưng
khi về nước, lại không được sắp
xếp đúng vị trí v́ các chỗ béo bở đă có các
chuyên viên hồng hơn chuyên chiếm lấp rồi. Họ không c̣n con đường nào khác hơn là
xin chuyển qua phục vụ cho các công ty ngoại quốc
ở Việt Nam, vừa
được bảo đảm tài chính gia đ́nh,
vừa có cơ hội thi thố tài năng.
2. Giáo dục thần-phục:
Mục tiêu của phần tham luận là không đề
cập đến tính hợp lư hay bất hợp lư của
nội dung chương tŕnh giáo dục ở Việt Nam
từ cấp tiểu học đến đại học
mà chỉ lưu ư đến tinh thần và tâm lư trên vấn
đề giáo dục ở Việt Nam. Có
lẽ đây là hâụ quả đương nhiên của
một chính sách chuyên chính vô sản. Người
dưới chỉ biết tuân phục người trên.
Ở tầm mức quốc gia th́ đàn em
phải biết tuân phục đàn anh nước lớn.
Cũng v́ chính sách và tâm lư nầy mà nhiều khi trong nội
bộ của nhà cầm quyền đương thời
thường hay tái diễn cảnh trống đánh
xuôi, kèn thổi ngược. Do đó khó có thể có
một chính sách đồng bộ và có tính cách dài hạn.
Tất cả tùy thuộc vào quyết định sau cùng
của đàn anh.. Kinh
nghiệm đă được thấy trong tiến tŕnh
hội nhập vào Tổ chức Thương maị
Thế giới (WTO) của Việt Nam.
3. Chính sách
băo vệ môi trường: Luật môi trường của
Việt Nam đă được
quốc hôị chấp thuận và đem vào áp dụng
kễ từ ngày 8/1/1994. Luật
gồm 7 chương và 35 điều. Ngoài ra, Việt
Nam c̣n có một số luật khác liên quan
đến môi trường như luật băo vệ rừng , luật đất đai, luật
dầu khí, luật đất lâm nghiệp. Nh́n chung, tất cả các bộ luật nầy
không minh định rơ ràng, và không có tính cách xuyên suốt. Do đó,
thật khó cho người dân và xí nghiệp cũng như
các cơ sở sản xuất căn cứ vào đó mà phát
triển dịch vụ sản xuất. Tiếng nói sau cùng
vẫn là tiếng nói của quyền lực vừa
thiếu chuyên môn và vừa đứng trên mọi căn
bản pháp lư. V́ vậy, gần 10 năm sau
ngày ban hành luật Môi trường vẫn c̣n rất
nhiều sự cố xảy ra trong việc
quản lư môi trường.
4. Niềm tin của
người dân: Thiết nghĩ đây là mấu chốt
của vấn đề Việt Nam. Ngoài các nguyên nhân phụ,
hệ lụy của 3 nguyên nhân trên la øtham nhũng, phát
triển không kế họach, thiếu điều nghiên
v.v... Yếu tố thứ tư nói lên năo
trạng chán chường của tuyệt đại đa
số người dân trong nước. Sự hợp
tác giữa người dân và nhà cầm quyền để
cùng phát triển và đưa đất nước đi
lên ḥan ṭan bị cắt đứt ngoại trừ một
thiểu số cực nhỏ dựa bám theo
quyền lực để vinh thân ph́ gia mà thôi. Sự đánh
mất niềm tin nầy được thấy rơ nét qua
hai sự kiện điển h́nh là thị trường
chứng khoán Việt Nam và Ngân hàng
Thương măi Á châu (ACB). Thị trường chứng khoán đă
mở ra từ hơn 3 năm nay vẫn hầu như không
có sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân hay
ngoại quốc lớn ngoại trừ vài mươi doanh
nghiệp quốc doanh, và dịch vụ nầy gần
như dậm chân tại chỗ. Trao đổi chứng
khoán hàng ngày chỉ tính theo vài mươi
triệu đồng bạc Việt Nam so với một quốc
gia 80 triệu dân. Và biến cố của ngân hàng ACB tháng 10
vừa qua cho thấy người dân hoàn toàn mất
niềm tin nơi lănh đạo qua việc rút tiền kư
thác vội vă ra khỏi ngân hàng trong vài ngày khiến cho ngân
hàng Trung ương phải tháo khoán 61 triệu Mỹ kim
để cứu nguy cho ngân hàng trên. Và tin đồn trong
những ngày gần đây (3/11) là Việt Nam lại sắp sữa
chuẩn bị đổi tiền và tiền mới
được in từ Uùc và đă được
chuyển về Việt Nam. Trên đây là những
yếu tố căn bản tạo ra các cản ngại cho
tiến tŕnh hội nhập vào thế giới của
Việt Nam. Tiếp theo
sau là vài thí dụ cụ thể về sự thất
bại của chính sách phát triển hàng đầu của
Việt Nam.
Nh́n chung, kễ từ sau
khi kế hoạch đổi mới 1986, Việt Nam đạt được
nhiều thành tựu đáng kễ trong việc phát
triển quốc gia. Một số nông phẩm trước
kia cần phải phải nhập
cảng như gạo mà nay mặt hàng nầy đă
được góp mặt vào thương trường
thế giới. Đối với Việt Nam, nếu nh́n
vào các con số thống kê, không ai có thể phủ nhận
mức phát triển tăng vọt hàng năm. Về mặt xuất
cảng trên thế giới, Việt Nam được lên
hàng thứ nh́ về gạo, thứ ba về cà phê, cao su,
tiêu, trà, hột điều; các mặt hàng nầy đă
chiếm vị trí quan trọng trong cán cân xuất cảng
chỉ sau dầu hoả. Ngược lại
Việt Nam phải
trực diện với muôn vàn vấn nạn ô nhiễm môi
trựng. Do
đó, người dân chẳng những không
được hưởng những phúc lợi do họ
làm ra mà c̣n phải chịu đựng thêm nhiều áp
lực kinh tế trong đời sống hàng ngày và sức
khỏe ngày càng bị đe doạ nhất là đồng
bào miền Đồng bằng sông Cửu Long. Ở trong nước, nhu cầu tiêu thụ
về các mặt hàng như cà phê, hột điều, tiêu
rất nhỏ. Do đo,ù một khi
có biến động thị trường trên thế
giới về giá cả th́ Việt Nam lại lâm vào khủng
hoảng và nạn nhân vẫn là nông dân. Càng
tăng gia sản xuất càng phải đối mặt
với đời sống khó khăn thêm. Đó là một nghịch lư lớn nhất cho công
cuộc phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, nhất là
đồng bào ĐBSCL và Cao nguyên Trung phần.
Nếu cần phải biện giải cho các
tệ trạng trên, chúng ta có thể đan cử ra đây
một số lư do chính: Nông dân và người trồng
tỉa không được sự hướng dẫn
của các nhà chuyên môn cũng như Việt Nam không có kế hoạch
sản xuất ngắn hạn hay dài hạn. (Về
mặt nầy, nông dân hầu như có tự do tuyệt
đối để quyết định công việc canh
tác của ḿnh!). Nông dân không có thông tin chính xác về
thị trường thế giới và chỉ lấy
quyết định gieo trồng dựa theo
t́nh h́nh trong nước và nhất là sự rỉ tai. V́ không có căn bản khoa học cũng như
không được hướng dẫn, nông dân xử
dụng hoá chất rất bừa băi và phí phạm; và
đây sẽ là một vấn nạn lớn trong
tương lai cho các kỹ nghệ xuất cảng chính như
gạo, trà và cà phê. Quy định
của thế giới về sự hiện diện
của hoá chất trong các sản phẩm kễ trên ngày càng
khó khăn và Việt Nam sẽ khó
vượt qua như trường hợp hàm lượng
chloramphenicol trong tôm xuất cảng qua Liên hiệp Aâu châu và
Hoa kỳ. Hệ
thống thu mua và t́m thị trường
cũng là một trở ngại lớn cho nông dân. Lănh đạo Việt Nam chưa
đặt tầm quan trọng đúng mức ở khía
cạnh nầy.
Một thí dụ sau đây
về sự thay đổi giá cả của cà phê trên
thị trường thế giới để giải thích
sự thất bại của nông dân v́ lượng sản
xuất quá tải làm rớt giá trên thị trường
thế giới. Giá một tấn cà phê cho năm 1998 là 1.525 Mỹ kim; sang năm 1999 c̣n 1.144; và năm 2000, 854;
qua đến 2001 chỉ c̣n 472 Mỹ kim mà thôi. Nguyên do
chỉ v́ Việt Nam sản xuất quá nhiều. Trong lúc
đó giá thành cho một tấn cà phê vẫn không thay
đổi là 500 Mỹ kim. Do đó vào
năm 2001, nông dân sản xuất cà phê bị lỗ
nặng trung b́nh 90 Mỹ kim cho một
hecta, không kễ công lao động.
Thí dụ thứ nhất: Lối giải
quyết phát triển kinh tế có tính cách nhất thời
và hủy diệt môi trường một cách tệ
hại. Đồng bằng sông Cửu Long hiện đang
bị nhiễm mặn trầm trọng, nước
mặn ngày càng lấn sâu vào đất liền v́ nhiều
nguyên do khác nhau. Nhưng lư do chính yếu là do việc xử
dụng nước sông một cách thái quá trên thượng
nguồn làm cho mực nước sông xuống thấp và
không đủ lưu lượng để đuổi
mặn trong mùa khô; cũng như việc thiết lập
các đê bao riêng rẽ của từng địa
phương đă làm cho nhiều vùng bị úng thủy
trước khi múa lũ lụt đến. Trước nhu
cầu xuất khẩu tôm v́ cần ngoại tệ, chính
quyền địa phương và trung ương
khuyến khích việc chăn nuôi thủy sản nầy, do
đó dân chúng đổ xô vào khả năng kinh tế có
lợi nhuận to lớn mà tự do khai mương mở
rạch để dẫn nước mặn sâu vào nội
địa và khai khẩn việc nuôi tôm. Việc
làm nầy trước mắt tuy có đem lại phúc
lợi cho người dân và nhà nước, nhưng trong dài
hạn sẽ là một đại nạn cho toàn vùng.
Trong hiện tại, đại nạn đó đang
xảy ra ở Trà Vinh, Bạc Liêu và Cà Mau nơi có diện
tích nuôi tôm quan trọng nhất. Nước
biển sẽ mang nguồn sulfide từ biển vào sâu trong
đất liền, và sẽ làm tăng lượng sulfate
trong đất. Và chất sau nầy là một trong
những nguyên nhân phóng thích kim loại
độc như arsenic, một nguyên tố cực
độc nằm yên trong ḷng đất, vào nguồn
nước sinh hoạt của dân chúng trong vùng.
Một thí dụ thứ hai: Nhằm
đẩy mạnh xuất khẩu để có thêm
ngoại tệ, chính quyền khuyến khích việc tăng
gia diện tích trồng cà phê. Và dân chúng
đổ xô vào việc phá rừng để trồng cây
công nghiệp cho nhiều năng xuất nầy.
Rừng bị phá không theo một quy
hoạch hay điều nghiên nào. Nhiều nơi trên vùng cao
nguyên v́ thiếu nước tưới tiêu trong mùa khô mà
một số nông trại bị thiệt hại trắng!
Thêm nữa, v́ nạn phá rừng bừa băi, lớp
đất mặt không c̣n các rễ cây rừng tựa
nhờ vào, cho nên bị xói ṃn trong mùa mưa và đất
trở thành chai ṃn không thể khai khẩn được
trong những mùa sau đó!
Một thí dụ thứ ba: V́ nhu cầu
điện khí hóa nông thôn, chính quyền đă ưu tiên
đầu tư vào việc nhập khẩu thiết
bị cần thiết cho việc xây đập thủy
điện từ hơn mười năm về
trước. Và v́ không điều tra kỹ lưỡng tác
hại môi trường của đập thủy
điện cũng như không học hỏi kinh nghiệm
của các quốc gia đi trước, Việt Nam đă có một lực
lượng lao động đáng
kể cho công nghệ nầy với một số thiết
bị lỗi thời... Tệ hại hơn nữa,
để giải quyết vấn đề lao động,
chính quyền đă cho xây cất nhiều đập
thủy điện ở miền Trung là nơi có những
con sông với độ dốc thấp không thích hợp cho
việc xây đập! Việc làm nầy
đă gây di hại lớn là nhiều nơi không c̣n
đủ nước để trồng trọt cho vùng
trên.
Một thí dụ thứ tư: Như đă
nói ở phần trên, v́ muốn đem lại quân b́nh lao
động và kinh tế cho những vùng đất chậm
phát triển, chính quyền Việt Nam hiện tại
đang thực hiện hai khu công nghiệp biến chế dầu
hỏa ở Dung quất (Quảng Ngải) và Thanh hóa. Hạ tầng cơ sở ở hai vùng nầy
như đường xá, hệ thống cống rănh,
điện nước... hầu như chưa có. Lao động chuyên môn cho công nghệ dầu
hỏa chưa được chuẩn bị đúng
mức với nhu cầu. C̣n thềm
lục địa, nơi cung cấp dầu thô cho công
cuộc chế biến th́ quá xa, măi tận miền đông
nam của đất nước. Với những tính
toán c̣n quá nhiều trở ngại như đă nêu trên th́
chắc chắn tương lai của hai dự án lớn nầy sẽ khó thoát khỏi t́nh
trạng phá sản như hầu hết các cơ sở
trong hệ thống quốc doanh.
Bốn thí dụ trên là những chứng minh
hùng hồn rằng, hơn lúc nào hết và trong giai
đoạn phát triển ban đầu nầy, việc cân
bằng bài toán phát triển và môi trường là ưu tiên
hàng đầu cho chính quyền hiện tại trước
khi bắt đầu hội nhập vào tiến tŕnh ṭan
cầu hóa. Trở về quá khứ, thiết
nghĩ Việt Nam cần phải học tập kinh
nghiệm của Nhật BaÛn trong vấn đề phát triển
nông nghiệp. Ngay sau khi tàu chiến Hoa kỳ
đỗ bộ vào Nhật Bản năm 1853, người
Nhật đă biết chớp thời cơ và nhận ngay
rằng nước Nhật cần phải có một
cuộc cách mạng về sản xuất nông nghiệp.
Mutsihito, vị ḥang đế tuổi c̣n thiếu niên khi lên
ngôi đă ban hành ngay chính sách Tái lập Giác ngộ Ḥa b́nh
(Meiji Restoration) trong đó việc cải cách ruộng
đất và giảm thiểu thuế nông nghiệp là hai
quyết định sáng suốt. Từ đó
nhu cầu phân bón nảy sinh ra để cung ứng cho
sản xuất. Từ năm 1886,
Nhật bản đă có nhà máy sản xuất acid sulfuric và
các loại phân phosphate lấy từ đá. Do nhu
cầu cấp thiết, Nhật đă gữi sinh viên qua
học tại Đức quốc và không quản ngại áp
dụng ṭan bộ chương tŕnh đào tạo chuyên viên
kỹ thuật của Đức để giảng
dạy cho sinh viên trong nước. Tiếp theo là việc
thiết lập các nhà máy phân bón tổng hợp
được xây cất do các chuyên viên Đức giúp
đơ.ơ Qua các kế hoạch trên chỉ trong một
thời gian ngắn, năm 1920, Nhật Ban đă có
đầy đủ nhân sự chuyên môn, xây dựng
thừa thải nhà máy hoá chất để cung ứng nhu
cấu phân bón và thuốc sát trùng, diệt cỏ cho nền
nông nghiệp và công nghiệp Nhật. Đây là một bài
học lớn cho Việt Nam nếu
muốn đưa người dân thoát ra khỏi t́nh
trạng đói nghèo.
Thay lời kết
Đất Nước là Đất
Nước của chung, của cả
dân tộc. Từ người lănh đạo quản lư
Đất Nước cho đến người dân cùng
đinh trong xă hội cần phải được dự
phần và chia xẻ trách nhiệm đối với
Đất Nước. Ở các quốc gia tiến bộ
và phát triển, người có quyền hạn càng cao th́
trách nhiệm càng lớn. Một tai
nạn xe lữa hay máy bay có thể khiến cho ông/bà Bộ
trưởng Giao thông phải nhận lănh trách nhiệm và
từ chức. Huống chi trong việc quản lư một
Đất Nước. Việt Nam từ bao năm nay, có
biết bao chính sách, kế hoạch... bị phá sản mà
nhân sự đề ra chính sách vẫn ung dung tự tại
trên cương vị cũ, có khi càng cao hơn để
có điều kiện đề ra những chính sách phá
sản khác! Đó là một trong nhiều
nghịch lư làm tŕ trệ sự tiến hóa và phát triển
của Dân tộc. Để kết luận, chúng ta
thử h́nh dung các mắc xích có thể kết nối
bốn sự kiện đang được khai triển
ở Việt Nam và các quốc gia lân
cận. Đó là các công tŕnh xây dựng xa lộ
Trường sơn, đường số 9 nối
liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông, nhà máy lọc
dầu Duing Quốc, và dự án quốc tế giữa Trung
Quốc và Thái Lan trong việc khai thông ḷng sông Cửu Long
để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên
thủy lộ nầy. Trước hết, theo
quan điểm về chiến lược quân sự
mới, xa lộ Trường sơn sẽ không c̣n là con
đường chiến lược một khi có chiến
tranh như lănh đạo Việt Nam biện minh cho việc xây
dựng nầy. Thiết nghĩ đây là con
đường chiến lựơc dành cho mục đích
kinh tế-chính trị, nhưng không hẳn để áp
dụng cho Việt Nam v́ trong suốt chiều dài của xa
lộ là vùng thưa dân cư nếu không nói là hoang dă. Quốc lộ I, con đường huyết
mạch của Việt Nam, cần
phải được nâng cấp nhất là từ
Quảng trị trở ra Bắc nhưng không
được lưu tâm đến. Đường số 9
được nới rộng thành một xa lộ
để mở một huyết mạch đông tây từ
Thái Lan ra biển Đông. Về nhà máy
lọc dầu Dung Quốc, tuy vùng nầy không có hạ
tầng cơ sở như giao thông, điện nuớc, và
dân cư thưa thớt, và rất xa trung tâm sản
xuất dầu thô hàng ngàn dậm. Địa
điểm nầy phải chăng được chọn
lựa để đáp ứng mục tiêu chuyển
vận dầu khí vào vùng đất phía Tây Nam của Trung
Quốc? Và công tŕnh quốc tế thứ tư là trục
vớt cùng nới sâu ḷng sông Cửu Long không ngoài mục
đích vận chuyển của các tàu vận tải hàng hóa
lớn nối liền Vân Nam (Tây Nam Trung
Quốc), Thái, Lào, và Việt Nam? Nếu tổng hợp
bốn mắc xích trên lại với nhau, chúng ta có thể
h́nh dung được một sự phối hợp
chiến lược nhuần nhuyễn về kinh tế-chính
trị. Nhưng sự phối hợp đó có thể
chỉ để phục vụ cho nhu cầu của
đàn anh nước lớn để: Chuyển vận hàng hóa xuất cảng từ
lục địa Tây Nam Trung Quốc sang Thái, Lào, Việt
Nam và quốc tế. Sản phẩm nhập
cảng chiến lược của Trung Quốc là dầu
khí, và Dung Quốc sẽ là nguồn cung cấp quan trọng
cho vùng nầy. Nếu
dự kiến cảnh tượng trên đây là một
sự thật th́ đây sẽ không thể hiện tinh
thần hội nhập và phát triển bền vững theo
tinh thần của Liên Hiệp Quốc đề ra mà
chỉ tô đậm thêm lư tính thần phục, nếu không
nói là nô lệ của cường quyền để
phục vụ cho nhu cầu kinh tế, chính trị, và quân
sự của Trung Quốc hơn là tạo thêm phúc lợi
cho người dân Việt. Xuyên qua bốn cản ngại
đă phân tích ở phần trên để lư giải cho
việc phát triển không đồng bộ đưa
đến t́nh trạng bế tắc hiện tại
của Việt Nam trong vấn đề hội nhập vào
tiến tŕnh ṭan cầu hóa trên thế giới, Việt Nam
đang tiếp tục đi theo chiều hướng kinh
tế chỉ huy do đó không c̣n đủ sức quán tính
mạnh để vượt ra khỏi rào cản phần
thục và xin-cho, để rồi cuối cùng giải pháp thần
phục vẫn là giải pháp dễ nhất và an toàn
nhất cho công cuộc băo vệ quyền lực. Từ
những lư do đó, làm sao lănh đạo Việt Nam có
thể đem lại niềm tin cho người dân
được. Biết đến bao giờ
thái độ thần phục của Việt Nam
được chấm dứt để cho người
dân Việt có khả năng đứng vững trên hai chân
của ḿnh. Lịch sử Việt Nam
trong tương lai chắc chắn sẽ không quên ghi
lại những trang sử đen tối của dân tộc
trong giai đoạn nầy.