Vài Suy Nghĩ Về
Quản Lư Môi Trường ở Việt
Đối với các
quốc gia đang trên đà phát triển như Việt
Bài viết dưới đây nhằm mục đích
khai triển t́nh trạng phát triển của Việt
Như đă biết, Việt
- Nạn phá rừng,
- Đất bị thoái hoá
và sa mạc hoá do đó diện tích
đất canh tác ngày càng bị thâu hẹp hơn,
- Nguồn nước
mặt bị ô nhiễm,
- Nguồn nước
ngầm cũng không tránh khỏi t́nh trạng trên và bị
giảm thiểu tạo ra t́nh trạng lún đất
như ở một số vùng ở ĐBSCL,
- Nguồn nước sinh
hoạt ngày càng bị hạn chế do t́nh trạng phát
triển đô thị,
- Không khí bị ô nhiễm
nặng nhất là ở các thành phố lớn,
- Và sau cùng t́nh trạng di
dân từ nông thôn ra thành phố tạo ra hiện
tượng thiếu lao động trong
canh tác và việc di dời dân chúng từ Bắc vào cao nguyên
Trung phần.
Theo thống kê của Việt Nam vào tháng 7 năm 2003,
dân số của Việt Nam là 81.624.716 người chung
sống trên một diện tích 325.000 Km2. Nh́n chung, Việt
Nam có nhiều thuận lợi hơn nhiều quốc gia
đang phát triển trong vùng v́ thời tiết vũ
lượng tương đối thích hợp cho nông
nghiệp. Nhưng ngược lại,
Việt
Về rừng, năm 1944, cả nước có 14
triệu mẫu rừng chiếm một diện tích là 43,8%. Nhưng hiện nay chỉ
c̣n khoảng độ 17% diện tích rừng tự nhiên.
Cũng theo ước tính, Việt
Do đó, mặc dù phải đối diện với
nhiều nghịch lư và mâu thuẫn trong bài toán phát triển
quốc gia và bảo vệ môi trường, mặc dù
cần phải nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của người dân trong một quốc gia
đang phát triển, Việt Nam cần phải nhận
thức việc cân bằng sản xuất, chấp
nhận hy sinh một số thu nhập ngoại tệ
nặng do xuất cảng để đổi lấy
một t́nh trạng cân bằng hợp lư cho đất
nước. Việt
Năm tiếp
cận sau đây lần
lượt được đề nghị với
mục đích truy t́m nguyên nhân và một số giải
đáp cho vấn nạn môi trường ở Việt
Tiếp cận 1:
Đổi mới quan niệm
quản lư môi trường
Đối với các
nước ASIAN trong vùng, ngân sách trung b́nh cho việc
quản lư môi trường chiếm 1,0% ngân sách quốc gia
và có khoảng 70 cán bộ quản lư trên 1 triệu dân. Trong
lúc đó Việt
Việt Nam đă thiết lập Bộ Luật Môi
trường từ cuối năm 1993 và đă chuẩn y
hầu hết các luật lệ liên quan đến môi sinh
toàn cầu như: Luật về Đa dạng sinh học
(Biodiversity), Luật Thay đổi thời tiết ( Climate
Change), Luật Sa mạc hoá đất đai (Desertification),
Luật Bảo toàn các loài có nguy cơ bị tiệt
chủng (Endangered Species), Luật về Phế thải
độc hại (Hazardous waste), Luật về Biển và
Tầng ozone (Law of the Sea & Ozone layer), Luật Bảo toàn
rừng ngập nước (Wetlands Protection), Luật ô
nhiễm do tàu biển ( Ship Pollution), Và Nghị định
thư Kyoto (Kyoto Protocol).
Nh́n chung, Việt
Trước mắt, các việc đầu tiên cần
phải làm là:
* Mời những cơ quan
tư vấn môi trường hay cá nhân ở trong
nước cũng như ở nước ngoài để
tham khảo và thẩm định lại hiện trạng
môi trường ở Việt Nam để từ đó
hoạch định kế hoạch quy định các
điều luật về môi trường thích ứng
với các tiêu chuẩn của thế giới về
định mức giới hạn của các hóa chất
độc hại hấp thụ trong đất,
nước, con người, gia súc và nhất là các sản
phẩm cần xuất cảng. Có làm như
thế việc giao thương với các quốc gia trong
tương lai sẽ dễ dàng hơn.
* Giải thể hoặc chuyển
đổi những quy tŕnh công nghệ quốc doanh đă
lỗi thời, và hiện đang là một gánh nặng cho
ngân sách quốc gia. Thay vào đó bằng
những quy tŕnh sạch để bảo vệ môi
trường. Cần áp dụng tinh thần quản lư
mới hợp lư về năng suất và cho lợi
nhuận hơn là duy tŕ chế độ bao cấp hay bù
lỗ.
Thành lập một ṭa án môi
trường để giải quyết các vấn
đề tranh tụng giữa chính phủ và nhà sản
xuất, hay giữa các nhà sản xuất vơí nhau, thậm
chí để xử kiện những vi
phạm môi trường của người dân. Ṭa án môi
trường sẽ là tiếng nói sau cùng để phê
chuẩn và kết án các vi phạm môi
trường cũng như không có trường hợp
ngoại lệ nào để có thể đi ngược
lại quyết định chung quyết của ṭa án.
Nếu thực hiện được ba việc trên,
thiết nghĩ sự quan tâm và đóng góp tích cực vào
công cuộc bảo vệ môi trường của
người dân sẽ tăng dần theo
tŕnh độ nhận thức và thời gian. Và từ đó, người dân sẽ thay
đổi dần năo trạng thụ động trong cung
cách ứng xử trước những nguy cơ có thể
làm ô nhiễm môi trường. Đây là một
việc làm chung và là bổn phận
của tất cả mọi công dân trong nước. Từ
đó, những mục tiêu sau đây có thề dần
dần sẽ được giải quyết như:
- Bảo vệ và pḥng
vệ an toàn lao động và môi
trường ở các công nghệ sản xuất,
- Phục hoạt lại
môi trường ở những nơi đă bị ô
nhiễm,
- Và quản lư chặt
chẻ hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên như ao hồ,
sông ng̣i, kinh rạch, và đất đai.
Tiếp cận 2 :Thực hiện việc đổi mới
môi trường
Ở giai đoạn tiên
khởi, để thực hiện việc đổi
mới môi trường thiết nghĩ Việt
Ngoài ra, cho đến nay
luật lệ về quản lư nước và rừng
vẫn c̣n nhiều thiếu sót và cần phải bổ túc
thêm để tránh bớt lạm dụng v́ c̣n nhiều quy
định chưa được minh bạch.
Một thí dụ
điển h́nh là đối với trên 30.000 công ty sản
xuất đủ loại ở nội thành Tp HCM cần
phải di dời ra khỏi khu dân cư. Việc làm trên chỉ
đạt được hiệu quả của công
cuộc đổi mới môi trường nếu nhà
cầm quyền quy định rơ ràng và đ̣i hỏi biên
bản NCTDMT của từng cơ sở trước khi
chấp thuận việc di dời. Làm như
thế mới hy vọng tránh được cảnh di
dời phế thải lỏng và rắn từ một
địïa điểm đông dân cư đến một
địa điểm khác thưa dân hơn, chứ
thực sư không giải quyết được vấn
đề ô nhiễm môi trường.
Dĩ nhiên, vai tṛ của ṭa
án nơi đây rất quan trọng và
cần phải thật sự vô tư và độc lập
với nhà cầm quyền để cho những vụ
kiện tụng và xét nghiệm cũng như biên bản
NCTDMT có được đầy đủ tính khoa học
và khách quan.
Sau khi đă giải
quyết căn bản và áp dụng biên bản NCTDMT cho
hầu hết các loại công nghệ đang
được sản xuất trong nước,
bước tiếp theo là thực hiện những kế
hoạch đặc biệt và tùy theo mức độ ô
nhiễm để sắp xếp thứ tự ưu tiên
của những nơi cần phải xử lư ô nhiễm
trong nước. Thí dụ trước mắt là
đặt ưu tiên vào việc giải quyết ô nhiễm
không khí ở thành phố HCM, và áp đặt hệ
thống xử lư phế thải rắn và long ở hơn
40 khu công nghiệp trên toàn quốc.
Tiếp cận 3 :
Nhu cầu cho công cuộc đổi mới môi
trường
Đối với công cuộc đổi mới môi
trường, yếu tố nhân sự đứng hàng
đầu tiếp theo là yếu tố
tài chính cũng như tính xuyên suốt và nhất quán trong
quản lư, và sau cùng cũng cần nên kễ đến
sư lưu tâm và tham dự của dân chúng trước
vấn đề chung của quốc gia:
Tuy nhiên, vấn đề nhân sự
chuyên môn là một trong những cản ngại lớn
của Việt
Ngoài yếu tố nhân sự, yếu tố tài chính
cũng chính là một cản ngại then chốt thứ
hai, và trở ngại nầy đă gây khó khăn cho việc
quản lư rất nhiều, và cũng là lư do chánh trong
việc tŕ trệ cứu xét các định mức
độc hại.
Yếu tố thứ ba là thiếu tính
nhất quán trong quản lư. V́ khả năng chuyên môn
của nhân sự quản lư không được huấn
luyện đồng bộ, v́ chính phủ không đủ
điều kiện để cập nhật hóa các thông tin
về luật lệ mới để thích ứng với
t́nh h́nh, cho nên việc thi hành luật ở nhiều nơi
đôi khi mâu thuẫn với nhau khiến phải mất
nhiều thời gian để điều chỉnh và dàn
xếp ở ṭa án thay v́ tập trung vào việc soạn
thảo các quy định c̣n thiếu sót.
Tuy luật môi trường
đă được quốc hội thông qua từ năm
1993 và có thêm nhiều bổ túc tiếp sau đó, nhưng
sự hiểu biết của dân chúng về vấn
đề nầy vẫn c̣n mơ hồ do sự thiếu
phổ biến và dân trí của người dân trong
nước vẫn c̣n hạn chế. Cho nên
việc tham gia đóng góp trong công cuộc giải quyết
vấn nạn môi trường chưa được
thể hiệnđúng mức, trừ khi ô nhiễm ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống
và sức khỏe người dân.
Tiếp cận 4 :
Giải quyết những vấn đề ưu tiên ở
Việt
Về việc nhận thức nguy cơ của các
thảm nạn môi trường đă, đang và sẽ
xảy ra song hành với việc phát triển quốc gia,
Việt
Không khí: Ô nhiễm không khí là một vấn nạn môi
trường nguy hiểm nhất là ở các thành phố
lớn như TpHCM, Hà Nội, Hải Pḥng, và các vùng khai thác
quặng mỏ. Các biện pháp làm giảm mức ô nhiễm
nitrogen dioxide NO2, sulfide dioxide SO2, carbon monoxide CO, thán khí CO2,
các hạt lơ lửng trong không khí (particles in suspension),
hợp chất hữu cơ nhẹ (VOCs)....là những
mối quan tâm hàng đầu mà Việt Nam cần phải
giải quyết càng sớm càng tốt. Một thí dụ
điển h́nh về ô nhiễm không khí: Nhà máy xi măng
Hải Pḥng ở khu công nghiệp Thương Đ́nh
đă bị ô nhiễm nặng nề khí SO2 và bụi, tác
động trực tiếp lên sức khỏe người
dân sống trong vùng. Số người bị bịnh
đường hô hấp tăng từ 1,5
đến 2,5 lần so với các khu vực không bị ô
nhiễm.
Thay đổi thời tiết: Bộ Khoa học, Công
nghệ & Môi trường cùng phối hợp với các
đại học liên hệ, các viện nghiên cứu,
Bộ năng lượng để thiết lập
bộ luật về bảo vệ và giảm thiểu
sự hâm nóng toàn cầu trong phạm vi quốc gia theo tinh
thần Nghị định thư Kyoto năm 1997.
Nước: Ô nhiễm nguồn nước là một
hiểm họa quốc gia. Do sự phân phối không
đồng bộ của thiên nhiên, miền
Đất canh tác: Giống như trường
hợp của các quốc gia đang phát triển, ba vấn
nạn căn bản của đất đai dùng
để canh tác ở Việt Nam nhằm mục đích
tăng nguồn sản xuất nông nghiệp là: sự xói
ṃn (erosion), sự sa mạc hóa (desertification), và sự ô
nhiễm. Hiện tại có thể nói rằng phần
lớn đất đai ở Việt
Do đó, trước những nguy cơ trên, Việt
Nam cần nên bắt đầu theo dơi, kiểm soát các
kế hoạch phát triển nông nghiệp cũng như
hạn chế sản xuất một số nông phẩm
dư thừa dùng để xuất cảng để bảo
vệ đất và giữ cho đất có đủ
thời gian để tái tạo trở lại giống
như t́nh trạng nguyên thủy.
Quản lư chất phế
thải rắn: Chất phế thải từ các
đơn vị gia cư vẫn c̣n được
đổ vào những băi rác mỡ (open dump site). T́nh
trạng chất phế thải kỹ nghệ cũng
chẳng khá hơn, tuyệt đại đa số công
nghệ hiện có đều không có hệ thống xử
lư và phế thải vẫn phải đi vào các băi rác
nếu là chất rắn, và vào sông, hồ, biển nếu
là chất lỏng.
Đề nghị cần
phải có một chương tŕnh hành động nhắm
vào từng mục tiêu riêng biệt để giải
quyết t́nh trạng trên:
* Thiết lập cơ quan
giáo dục công cộng về môi trường có mục
đích giải thích cho người dân hiểu rơ thêm về
các vấn nạn môi trường;
* Khai triển thêm các
luật lệ chi tiết để quản lư từng
loại phế thải;
* Thành lập những băi
rác theo tiêu chuẩn quốc tế
nghĩa là có vách ngăn nước rỉ để
bảo vệ nguồn nước ngầm và hệ
thống xử lư nước rỉ để bảo vệ
sức khỏe người dân;
* Khuyến khích và hỗ
trợ sự tham gia của các nhà sản xuất công
nghiệp vào việc giảm thiểu phế thải (waste
minimization) kỹ nghệ.
Tiếp cận 5 : Bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên
Nhận thức được nguồn
tài nguyên thiên nhiên không phải là một nguồn vô tận,
đó là một nguồn dự trữ thiết yếu
của quốc gia, và là một vấn đề sống
c̣n của đất nước. Đây
chính là nguồn nội lực cần phải
được bảo vệ. Do đó việc khai thác
các hầm mỏ và nguồn tài nguyên rừng cần
được lưu tâm kỹ lưỡng.
Mơ: Đây là một nguồn tài nguyên lớn của
quốc gia cần phải được khai thác có tính toán
và cần có sự cân bằng trong việc bảo vệ môi
trường. Việt
Rừng: Do thiếu kiểm soát và không có kế
hoạch khai thác từ đầu, nạn phá rừng thiên
nhiên đă đưa Việt
1- Cấm phá rừng không theo quy hoạch;
2 - Cấm và hạn chế
xuất cảng một số gỗ;
2- Quy định kế
hoạch trồng rừng để tái tạo rừng
nguyên sinh. Hành động cứng rắn nầy sẽ mang
lại cân bằng hệ sinh thái của quốc gia, một
điều cần thiết để bảo vệ môi
trường.
Nông nghiệp: Trong khoảng 15 năm trở lại,
sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp của
Việt Nam tăng vọt mạnh về lúa, trà, tiêu,
hột điều, cà phê, và tôm cá. V́ phải tập trung vào
việc xuất cảng nông phẩm tối đa, Việt
Nam hiện nay phải trực diện với t́nh trạng
đất xói ṃn, bị sa mạc hóa, và ô nhiễm môi
trường do phân bón tồn đọng trong đất và
sự hiện diện của đủ loại thuốc
trừ sâu rầy, diệt cỏ dại. Hiện
tại, đất bị xói ṃn, và lượng thuốc
trừ sâu rầy khổng lồ được nhập
cảng hàng năm. Hầu hết các loại thuốc
bị cấm sử dụng như DDT, Aldrin, Endrin,...đều đang được sử
dụng rộng răi ở Việt
Kết luận
Từ 5 tiếp cận trên đây, chúng
ta có thể có một tầm nh́n khái lược về
những vấn đề trọng tâm của Việt
Nếu các quyết định và cung cách giải
quyết sáng suốt những vấn đề môi
trường trên chắc chắn sẽ đem lại tin
tưởng cho người dân, từ đó Việt
1- Tạo dựng tăng
trưởng kinh tế;
2- Cân bằng môi sinh;
3- và
Tiến bộ xă hội.
Không ai có thể phủ nhận mức phát triển
của Việt
Do đó, lănh đạo Việt Nam cần có
đủ đởm lược để tiếp
nhận ư kiến đóng góp của người dân trong việc
quản lư đất nước nhất là phải
biết chấp nhận lỗi lầm để dứt
khoát có những thay đổi thích hợp và đúng lúc,
hợp với ḷng người, hợp với bối
cảnh, và hợp với thiên nhiên. Cần phải thực
tế! Nên nhớ Phát triển (Nhân) và Ô nhiễm môi
trường (Quả) phải có cân bằng. Nếu tạo
được Nhân lành như phát triển có kế
hoạch, có kiểm soát, và sử dụng công nghệ
sạch, th́ chắc chắn sẽ gặt hái
được Quả lành do môi trường ít bị ô nhiễm.
Đây là cái lư đương nhiên mà con người không
thể nào làm khác hơn được.
Thời gian đă quá dài để cho dân tộc
Việt phải can qua quá nhiều vấn nạn trong
đời sống kinh tế, xă hội, và tâm linh rồi. Đă đến lúc cần phải chấm
dứt t́nh trạng trên. Muốn t́m câu giải đáp
cho bài toán phát triển Việt
Mai Thanh Truyết,