PHÁT TRIỂN
VÀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT
Tiến sĩ Mai Thanh
Truyết và Kỹ sư Nguyễn Minh Quang
Tham luận tại Hội
thảo về Chiến lược Phát triển Khả
chấp tại Việt
Đại học
PHẦN DẪN
NHẬP
Phát triển và môi
trường có liên hệ mật thiết với nhau.
Phát triển không đúng hoặc thiếu kiểm soát
sẽ gây ảnh hưởng tai hại đến môi
trường, và ngược lại, ô nhiễm hoặc suy
thoái môi trường có thể là một trở ngại to
lớn trong việc phát triển kinh tế và xă hội. Sự liên hệ giữa phát
triển và môi trường đă được nhận
thấy trên khắp thế giới, nhất là ở các
nước phát triển nhanh như Nhật Bản,
Đại Hàn, Trung Hoa, và Thái Lan (1,2). Nhận thức được
ảnh hưởng nguy hại của ô nhiễm và suy thoái
môi trường đối với việc phát triển
khả chấp (sustainable development), Hội thảo về
Môi trường và Phát triển của Liên Hiệp Quốc,
được tổ chức từ ngày 3 đến 14 tháng
6 năm 1992 tại Rio de Janeiro, Brazil, đă thảo luận
và thỏa thuận trên một số vấn đề môi
sinh toàn cầu gồm có các tuyên bố về sự liên
hệ giữa việc thi hành các biện pháp bảo vệ
môi trường khả chấp và việc theo đuổi
các chương tŕnh phát triển xă hội và kinh tế. Một trong những
thỏa thuận đó là Nghị tŕnh 21, một
lượng định rộng răi các thành phần xă
hội và kinh tế với mục tiêu cải thiện
ảnh hưởng của việc phát triển đối
với môi trường và ngược lại.
Tại Việt Nam, chánh sách
đổi mới bắt đầu áp dụng từ
năm 1986 đă mang lại cho nền kinh tế một
mức độ tăng trưởng tương đối
nhanh, nhưng ... với một cái giá môi trường
khá cao... Mười
năm sau, theo lời Tiến sĩ (TS) Vơ Quư, giám
đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên Thiên nhiên và Môi
trường của trường Đại học
Quốc gia Hà Nội, Việt Nam đang đối phó
với một số vấn đề ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng, bao gồm việc phá rừng, đất
đai suy thoái, thiếu nước, tài nguyên sinh học
bị khai thác thái quá, hệ sinh thái bị đe dọa, và
gia tăng ô nhiễm môi sinh (3).
Mặc dù Việt
ẢNH HƯỞNG CỦA
VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG
Phá Rừng
Trong ṿng 60 năm qua,
việc phá rừng đă trở thành một hiểm
họa nghiêm trọng cho rừng rậm ở Việt
Các giới chức ở
Việt
Nếu ước tính trên
đây đúng với thực tế, ảnh hưởng
của 30 năm chiến tranh chỉ bằng 1/3 ảnh
hưởng của 18 năm thanh b́nh, do tăng trưởng
và phát triển, từ năm 1975 đến năm 1993. Theo De Koninck (4), việc phát
triển ồ ạt các Vùng Kinh tế Mới sau khi
thống nhứt đất nước năm 1976
dường như là nguyên nhân chính yếu.
Việc phá rừng ở
Việt
Kể từ thập niên
1990, hệ thống rừng Việt
Ô Nhiễm
Nước
Sự tăng trưởng
một cách nhanh chóng về kinh tế và xă hội từ
năm 1986 đă gây nên t́nh trạng ô nhiễm nước
ở đô thị và nông thôn trên cả nước, và
phẩm chất của các nguồn nước ở
Việt Nam dường như càng ngày càng suy thoái, ít
nhất là trong ngắn hạn.
Nước thải từ
các khu đô thị và kỹ nghệ đă được
xả trực tiếp vào đồng ruộng, kinh
rạch, ao hồ, và sông ng̣i mà không được gạn
lọc (xử lư) chất độc hại.
Trên toàn quốc, số lượng nước
thải gia dụng và kỹ nghệ không được
gạn lọc và xả trực tiếp vào sông ng̣i được
ước tính vào khoảng từ 240 đến 300
triệu m3 một năm. Theo
ước tính của Ngân hàng Thế giới, số
lượng nầy sẽ tăng lên gấp 10 lần trong
ṿng 15 năm tới [vào năm 2010]. (3)
Việc xả nước
thải không được gạn lọc chất
độc đă gây nên t́nh trạng ô nhiễm nước
nghiêm trọng ở các thành phố lớn như Hà Nội,
Hồ Chí Minh (Sài G̣n), Hải Pḥng, Việt Tŕ, và Biên Ḥa. Theo Báo cáo Hiện Trạng Môi
trường Việt Nam 2001, hầu hết các sông
được theo dơi đều bị ô nhiễm các
chất như N và P, từ 4 đến gần 200 cao
hơn tiêu chuẩn cho nước loại A [nước
uống] và từ 2 đến 20 lần cao hơn tiêu
chuẩn cho nước loại B [nước không uống
được]. T́nh trạng
ô nhiễm chất hữu cơ trong sông Sài G̣n, Vàm Cỏ
Đông và các kinh rạch rất nghiêm trọng, riêng sông
Đồng Nai th́ cực kỳ nghiêm trọng (8). Sông ở các thành phố lớn
có độ BOD [biochemical oxygen demand] cao gấp 2,5
đến 7,5 lần tiêu chuẩn nước uống
của Việt Nam và của Cộng đồng Châu Âu,
chứng tỏ nước có chứa nhiều chất
hữu cơ. Cá không thể
sống trong các con sông nầy, v́ nồng độ oxy
thấp hơn 4 mg/l (3).
Ngoài các chất hữu
cơ và chất đạm, hóa chất độc hại
cũng hiện diện trong nước thải.
Một số nghiên cứu về Nhà máy giấy Băi
Bằng trong tỉnh Vĩnh Phú đă phát hiện các
chất thuộc họ dioxin trong cây cỏ và bùn ở
hồ lắng và nguồn nước nhận nước
thải của nhà máy (9), và PCBs [polychlorinated biphenyls]
được t́m thấy trong nước thải gia
dụng của thành phố Hồ Chí Minh (3). Thuốc trừ sâu
có chứa chlorine và PCBs cũng được phát hiện
trong trầm tích ở cửa sông Hậu (10).
Ở vùng nông thôn, theo TS Vơ Quư, sản xuất nông nghiệp (bao
gồm kỹ nghệ thủy sản và các công tŕnh ngừa
lụt) đang gây ô nhiễm nước nghiêm trọng
cho nhiều vùng của đất nước (3). Nguồn nước mặt đă
bị ô nhiễm chất đạm và vi
khuẩn từ phân bón và chất thải của con
người và súc vật.
Theo một phúc tŕnh của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, trị số trung b́nh của vi
khuẩn, vào khoảng 1.500 đến 3.500 MNP/100 ml [MPN/100
ml] dọc theo sông Tiền và sông Hậu, tăng lên
đến 3.800 đến 12.500 MNP/100 ml [MPN/100 ml] trong các
kinh thủy lợi ở nội đồng (11). Tiêu chuẩn quốc tế
hiện nay không cho phép có vi khuẩn trong
nước uống. Thạch tín (arsenic) cũng được phát
hiện với nồng độ cao trong nước
ngầm ở nhiều nơi trong vùng Đồng bằng
sông Hồng (ĐBSH) (12).
Ở vùng ĐBSCL, nồng độ
thạch tín trong nước ngầm đang tiến dần
đến mức cho phép (13).
Vấn đề ô nhiễm thạch tín, tương
tự như trường hợp của Ấn Độ
và Bangladesh, dường như bắt nguồn từ
hơn 210.000 giếng khoan ở ĐBSH và ĐBSCL từ
năm 1980.
Ô Nhiễm Hóa
Chất
Việc sử dụng không
đúng cách một số lượng lớn hóa chất và
thuốc trừ sâu, trong việc sản xuất kỹ
nghệ và nông nghiệp và pḥng ngừa bệnh tật,
đă gây nên t́nh trạng ô nhiễm hóa chất nghiêm
trọng trên cả nước. Các hóa
chất nầy có thể chứa các chất hữu cơ
dai dẳng (persistent organic pollutants (POPs)) như PCBs, HCB
(hexachlorobenzene), HCHs (hexachlorocyclo-hexanes), các chất thuộc
họ dioxin, furans, và DDT.
Số lượng phân bón
dùng trong năm 1996 được ước tính vào
khoảng 3.300.000 tấn (14).
Tổng số lượng NPK (N cho nitrogen, P cho
P2O5, và K cho K2O) sử dụng trong 10 năm qua tăng trung
b́nh 11,6% mỗi năm. Đây là một trong các mức gia
tăng cao nhất ở Đông Nam Á; so với 3,2% ở Nam
Dương, 7,2% ở Phi Luật Tân, và 12,1% ở Thái
Lan (15).
Theo số liệu chính
thức của Bộ Thương mại, năm 2000, đă có gần 34.000 tấn
thuốc BVTV [bảo vệ thực vật] thành phẩm
được nhập khẩu.
Đó là chưa kể tới việc nhập lậu theo con đường tiểu ngạch. Ước tính có khoảng
15 [1.5?] triệu tấn thuốc BVTV cực độc,
được nhập lậu và lưu hành trôi nổi trên
thị trường.
Mặc dù hiện nay, cả nước có khoảng 50
nhà máy, công ty gia công sản xuất thuốc BVTV với
tổng công suất trên 130.000 tấn/năm, vượt
gấp đôi so với nhu cầu, nhưng t́nh trạng
nhập lậu hóa chất BVTV vẫn diễn ra rất
phức tạp (16).
Khoảng 27.000 đến
30.000 tấn dầu ô nhiễm PCBs đă được
nhập cảng từ Liên Sô, Trung Hoa, và
DDT được dùng
lần đầu tiên ở Việt
Việt
DDT có nồng độ cao
từ 4.220 đến 7.300 phần tỉ (ppb) đă
được phát hiện trong các mẩu sữa mẹ
trong một cuộc nghiên cứu của Bác sĩ (BS) Schecter
trong năm 1989. Một
cuộc nghiên cứu khác trong năm 1999 cũng đă phát
hiện nồng độ rất cao chẳng những
của DDT và các chất phân hủy của nó (lên đến
1.600 ppb cho DDT và 8.900 ppb cho DDE) mà c̣n của POPs chẳng
hạn như HCB (lên đến 2.2 ppb), mirex (lên đến
2.2 ppb), dieldrin (lên đến 0.63 ppb), và PCBs (lên đến
54 ppb) (20).
Trong một nghiên cứu vào
năm 2001, dioxin và các chất cùng họ như PCDDs
(polychlorinated dioxins), PCDFs (polychlorinated dibenzo-furans), và PCBs
đă được t́m thấy trong 20 mẩu máu của
cư dân thành phố Biên Ḥa. Nồng
độ thay đổi từ 2,4 đến 271 phần
ức (ppt) cho dioxin, từ 143 đến 1.133 ppt cho PCDDs,
từ 43,3 đến 184 ppt cho PCDFs, và từ 31 đến
156 ppt cho PCBs (21).
Trong một nghiên cứu vào
năm 2002, POPs lại được t́m
thấy trong 16 mẩu thực phẩm (cá, thịt heo,
thịt ḅ, vịt, và ếch) cũng được thu
thập từ thành phố Biên Ḥa.
Nồng độ thay đổi từ 0,025
đến 331 ppt cho dioxin, từ 17 đến 8.216 ppt cho PCB
118, từ 8,6 đến 919 ppt cho HCHs, lên đến 1.391 ppt
cho HCB, từ 46 đến 44.722 ppt cho DDT, và từ 305
đến 149.409 ppt cho DDE. PCDDs và PCDFs cũng được t́m thấy,
nhưng ở nồng độ thấp hơn (22).
Cũng chính v́ các vấn
đề sức khỏe và môi trường do POPs gây ra
trong việc sản xuất nông nghiệp và kỹ nghệ,
Chương tŕnh Môi trường của Liên Hiệp
Quốc (UNEP) đă chọn Việt Nam là một trong 9 thí
điểm nghiên cứu (case studies) về ảnh
hưởng của POPs (23).
Ô Nhiễm Không Khí
Bụi là chất ô
nhiễm không khí phổ biến nhất tại Việt
Nói chung, nồng độ
trung b́nh hàng ngày của CO và NO2 th́ thấp hơn TCCP ở
các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà
Nẳng, Hải Pḥng. Tuy
vậy ở một số nút giao thông lớn trong đô
thị nồng độ khí CO và khí NO2 đă vượt
trị số TCCP, như là ở ngă tư Đinh Tiên Hoàng -
Điện Biên Phủ (TP. Hồ Chí Minh) trị số trung
b́nh ngày năm 1999 của nồng độ NO2 = 0,255 [mg/m3],
gấp 2,55 lần trị số TCCP, nồng độ CO =
15,46 mg/m3, gấp hơn 3 lần trị số TCCP; ở
khu nhà máy thép Đà Nẳng trị số trung b́nh năm 1999
của nồng độ NO2 = 0,11 mg/m3, gấp 1,1 lần
trị số TCCP, nồng độ CO = 12,2 mg/m3, gấp
2,44 lần trị số TCCP; ở khu công nghiệp
Thượng Đ́nh (Hà Nội), 1999 có CO = 7,2 mg/m3, gấp
1,44 lần trị số TCCP; ở khu nhà máy xi măng
Hải Pḥng, 1999 có CO = 9,42 mg/m3, gấp 1,88 lần trị số
TCCP (8).
Ch́ là một chất ô
nhiễm không khí phổ biến khác, nhất là ở các
đô thị.
Trong năm 1991, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 750.000
xe gắn máy và 75.000 xe cộ các loại, tất cả
đều dùng xăng pha ch́.
Việc nầy làm cho nồng độ ch́ trong không
khí đo được trong khoảng từ 1 đến 4
micrograms/m3 (mg/m3). Để so
sánh, theo kết quả nghiên cứu đăng trên tạp
chí Pediatrics năm 1994, nồng độ ch́ trong không khí
ở thành phố Chicago trong năm 1988 th́ dưới
mức 0.5 mg/m3 (3). Nhiều nơi ở thành phố Hà Nội, nồng
độ ch́ vượt quá mức 4 mg/m3 trong năm 1998
(8).
Ô nhiễm không khí do một
số nhà máy xí nghiệp (ví dụ như nhà máy gạch
Cầu Đuống, nhà máy điện Phả Lại v.v.)
đă gây tác hại đối với sản xuất nông
nghiệp vùng xung quanh, làm giảm sản lượng lúa
từ 20 đến 50%. Môi
trường không khí ở một số xí nghiệp nhà máy
(như là nhà máy Xi măng Hải Pḥng, khu Công nghiệp
Thượng Đ́nh) đă bị ô nhiễm nặng nề
về bụi và khí SO2 và tác động trực tiếp
đến sức khỏe con người, làm tăng
tỷ lệ số người bị mắc bệnh
về hô hấp từ 1,5 đến 2,5
lần so với các khu vực dân cư bên cạnh không
bị ô nhiễm (8).
Rác
Rác gia dụng và kỹ
nghệ cũng là một nguyên nhân gây nhiễm môi
trường ở Việt
V́ thiếu một hệ
thống thu gom và đổ rác thích
hợp, rác thường được đổ bất
hợp pháp xuống sông rạch, gây nên t́nh trạng tắc
nghẽn lưu thông và ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng cho các thủy lộ nầy (24). Ở thành phố Hồ Chí Minh,
khoảng 100 tấn rác được đổ xuống 5
con kinh chánh mỗi ngày, và số lượng rác trôi nổi
trong các con kinh nầy được ước tính
khoảng 53.000 tấn (25). Các
băi rác tân tiến của thành phố Hồ Chí Minh như
Đông Thạnh, Tam Tân, và Phước Hiệp ... không
có lớp chống thấm ở đáy hoặc chung quanh
thành, không có hệ thống thu gom và kiểm soát nước
rỉ và khí, không được phủ kín hàng ngày, và không
có hàng rào chung quanh (8). Các
băi rác nầy đă trở thành nguồn ô nhiễm môi
trường cho những khu vực lân cận (26,27,28).
ẢNH
HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐỐI
VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN
Ô nhiễm môi trường
đă và đang ảnh hưởng đến việc phát
triển kinh tế và xă hội ở Việt
Ô nhiễm hóa chất đă và
đang đe dọa sức khỏe và sự an
toàn của người dân và ảnh hưởng
đến phẩm chất của các loại nông sản
như thịt, cá, trái cây, và rau cải. Mối đe dọa
lớn nhất chính là ngộ độc thực phẩm. Trong hai năm 1998 và 1999, có 10.034
người bị ngộ độc thuốc trừ sâu
trong 8.758 trường hợp được ghi nhận,
trong số đó có 198 người chết. Riêng trong năm 2001,
có tất cả 7.613 người bị ngộ độc
trong 6.962 trường hợp với 187 người
chết (35). Ảnh
hưởng lâu dài của ô nhiễm hóa chất, bao gồm
tử vong, ung thư, và dị thai đă được ghi
nhận và báo cáo (17,36). Một ngân khoản khoảng 130
triệu Mỹ Kim đă được chấp thuận
cho các chương tŕnh an toàn thực
phẩm trong năm 2003 (37).
Kỹ nghệ du lịch
cũng có thể bị ảnh hưởng v́ ô nhiễm môi
trường ở các địa điểm du lịch
(38), nhưng ảnh hưởng có thể chưa
được ghi nhận.
Rất khó xác định
hoặc ước tính ảnh hưởng của ô
nhiễm môi trường đối với việc phát
triển, hay giá trị kinh tế do ô nhiễm môi trường
gây ra. Theo các nghiên cứu
được thực hiện ở Trung Hoa, ... giá
trị kinh tế hàng năm do việc suy thoái môi
trường ở Trung Hoa có thể diễn tả bằng
mức thất thu lợi tức do
việc phá rừng, ô nhiễm môi trường, và suy thoái
tài nguyên thiên nhiên... Kết quả sau cùng th́ thật là chóng mặt. Hàng năm, Trung Hoa thất thu
khoảng 282,61 tỉ Nhân dân Tệ v́ suy
thoái môi trường. Con
số nầy chiếm khoảng 18,9 [%]
tổng sản lượng quốc gia (2.022,3 tỉ Nhân dân
Tệ trong năm 1992) (39).
Theo dữ kiện của
Tổng cục Thống kê Việt
CÁC BIỆN PHÁP VÀ
THÀNH QUẢ BẢO VỆ MÔI SINH
Các chánh sách bảo
vệ môi sinh của Việt Nam bắt đầu từ
năm 1985 với việc xây dựng Chiến lược
và Kế hoạch Bảo vệ môi trường quốc gia
nhằm duy tŕ tiến tŕnh sinh học và hỗ trợ
đời sống của các hệ sinh thái trên cả
nước và bảo tồn tính đa dạng sinh học của
chúng. Trong năm 1992, một
kế hoạch quốc gia đă được soạn
thảo để phối hợp việc soạn thảo
quy định, các hệ thống thông tin, và chiến
lược cho việc phát triển khả chấp, và
để khuyến khích việc lượng định
ảnh hưởng môi trường. Kế hoạch
nầy đă dẫn đến việc ban hành Luật
Bảo vệ môi trường năm 1993 và thành lập
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (3).
Ngoài Luật Bảo vệ
môi trường, nhiều luật và pháp lệnh khác cũng
được ban hành. Các luật và
pháp lệnh nầy gồm có Luật Bảo vệ và phát
triển rừng (1991), Luật Bảo vệ sức
khỏe nhân dân (1989), Luật đất đai (1993),
Luật dầu khí (1993), Luật khoáng sản (1996), Luật
tài nguyên nước (1998), Pháp lệnh bảo vệ đê
điều (1989), Luật h́nh sự (sửa đổi,
1999), Pháp lệnh về thu thuế tài nguyên (1989), Pháp
lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản
(1989), Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ (1996),
và Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực
vật (1993) (8).
Mặc dù hoạt
động bảo vệ môi trường đă
được tăng cường trong thập niên qua, môi
trường Việt
Giới chức có thẩm
quyền ở Việt Nam hiện nay và một vài tổ
chức phản chiến cáo buộc rằng môi
trường Việt Nam suy thoái là do hậu quả của
cuộc chiến Việt Nam và do ...Các quy
định về quản lư và bảo vệ môi
trường nước c̣n thiếu (chẳng hạn
như chưa có các quy định và quy tŕnh kỹ thuật
phục vụ công tác quản lư và bảo vệ nguồn nước).
Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ
quan, các ngành và địa phương chưa đồng
bộ, c̣n chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm
rơ ràng. Các chương tŕnh giáo
dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng c̣n
quá ít. Đội ngũ cán bộ quản lư môi
trường nước c̣n thiếu về số
lượng, yếu về chất lượng (Hiện
nay ở nước ta trung b́nh có khoảng ba cán bộ
quản lư môi trường/một triệu dân, trong khi
đó ở một số nước ASEAN trung b́nh là 70
người/một triệu dân) (41).
Nhưng nguyên nhân
thực sự dường như là sự khiếm
khuyết của hệ thống bảo vệ môi
trường hiện nay, nhất là trong lănh vực quản
trị và chiến lược tẩy xóa. Theo TS Judith Ladinsky, giảng sư
của Đai học Wisconsin ở Madison và là chủ
tịch Ủy ban Phối hợp Khoa học với
Việt Nam, th́ giới chức có thẩm quyền ở
Việt Nam hiện nay nên chú trọng ... bảo vệ
môi trường trên thực tế chứ không phải trên
giấy tờ... (3). Các chiến lược dùng
để tẩy xóa ô nhiễm hiện nay như đổ
thừa cho hậu quả của cuộc chiến Việt
Nam (42), di dời các cơ sở gây ô nhiễm từ thành
phố ra ngoại ô (43), và xả nước ô nhiễm
trong các kinh rạch ở thành phố Hồ Chí Minh vào sông
Vàm Cỏ và Sài G̣n (44,45) đă không chứng tỏ
được hiệu quả tích cực. Ngược lại, các chiến lược
tẩy xóa nầy không thể giải quyết t́nh trạng
ô nhiễm, và chúng có thể làm cho t́nh trạng ô nhiễm lan rộng ra những vùng chưa hoặc ít ô
nhiễm và làm cho t́nh trạng ô nhiễm nghiêm trọng
thêm. Thật
vậy, ... một số
nhà máy mới được di dời vào các khu công
nghiệp tiếp tục gây ô nhiễm môi trường (43).
KẾT LUẬN VÀ
ĐỀ NGHỊ
Kể từ khi chánh sách
đổi mới được thi hành vào năm 1986,
nền kinh tế Việt Nam đă tăng trưởng
tương đối nhanh, với tổng sản
lượng quốc gia tăng trung b́nh khoảng 7,5%
một năm trong ṿng 12 năm qua.
Nhưng môi trường đă phải trả một
cái giá khá cao cho sự tăng trưởng kinh tế. Và hiện nay,
Việt
Dữ kiện thống kê
cho thấy diện tích rừng bị phá hủy sau năm
1975 cao gấp 3 lần thiệt hại do chiến tranh gây
ra từ năm 1945 đến năm 1975, và việc phá
rừng vẫn đang tiếp tục ở mức
độ báo động.
Hệ thống rừng Việt
T́nh trạng ô nhiễm môi
trường đă có ảnh hưởng đến
việc phát triển xă hội và kinh tế ở Việt
Mặc dù các hoạt
động bảo vệ môi trường đă
được tăng cường trong thập niên qua, môi
trường Việt
Để có thể phát
triển khả chấp, Việt
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
(1) Harashima,
Yohei. July 2000. Effects
of Economic Growth on Environmental Policies in
(2) Faversham
House Group Ltd. 2002. Thai economic growth has been at the expense of
the environment. <http://www.edie.com>
(3) Tenenbaum,
David. December 1996. The Value of
(4) De
Koninck, Rodolphe. 1999. Deforestation
in
(5) Collins,
M., ed. 1990. The Last Rain Forests. A World Conservation Atlas.
(6) K.B.
Dinh.
(7) Environmental
Justice Foundation. 2003. Risky
Business: Vietnamese Shrimp Aquaculture - Impacts and Improvements. Environmental Justice Foundation,
(8) Ministry
of Science, Technology and Environment of
(9) Nguyen,
Kim Oanh T., Bengtsson, B-E, Reutergårdh, L-B, Bergqvist, P A, Hynning, P-C and
Remberger, M. 1995. Levels of contaminants in effluent, sediment, and
biota from bai bang, a bleached kraft pulp and paper mill in Vietnam.
Arch Environ Contam Toxicol 29: 506-516.
(10) Mai,
Nhuan T. et al. April 2002.
Primary Research on the Application of Molecular Markers in Investigation
of Environmental Organic Geochemistry in the Vietnamese Coastal
Zone. Presented at Symposium on
Tracing Pollutants from Agrochemical Use: Focus on EDC Pollution, 15-16 April
2002,
(11) Nhan
Dan Newspaper.
(12) Quang
Ha.
(13) Mai,
Truyet T. and Nguyen D. Son.
(14) GINC
(15) Nguyen,
Luong A. and Dang Quoc
(16) Ha
Phuong.
(17) Nguyen,
Sinh N. et al. March 1999. The
Persistent Organic Pollutants and Their Management in Vietnam. Proceedings of the Regional Workshop on the
Management of Persistent Organic Pollutants (POPs), Hanoi, Vietnam, 16-19
March, 1999.
(18) Nguyen,
Hien V. Malaria and Its Control in
(19) GINC
(20) Hatfield
Consultants Ltd. and 10-80 Committee. April 2001.
Development of Impact Mitigation Strategies Related to the Use of Agent Orange
Herbicide in the
(21) Schecter,
(22) Schecter,
(23) UNEP.
POPs Related Case Studies.
Proceedings of the Regional Workshop on the Management of Persistent
Organic Pollutants (POPs), Hanoi, Vietnam, 16-19 March, 1999.
(24) T.
Mai and N. Hau.