Phát Triển Bền Vững Ở Việt
Biên
tập viên Đức Duy (ĐD), đài Á châu Tự do (Radio Free Asia) phỏng vấn
Tiến sĩ Mai Thanh Truyết (MTT) ngày 5/11/02 về sự phát triển bền vững
của Việt Nam theo tinh thần của Nghị
trình-21 do Liên hiệp quốc đề ra sau Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro
năm 1992. Bài phỏng vấn sẽ được phát đi ngày
Trước
khi đi vào nội dung cuộc phỏng vấn, sau đây là những trao đổi giữa
hai Thông tín viên Thanh Quang (TQ) và Đức Duy (ĐD) về vấn đề môi
trường ở Việt
TQ: Vào
trung tuần tháng 9 vừa qua, Ngân hàng thế giới, chi nhánh tại Việt
Nam, đã cho công bố một tài liệu cho biết tình trạng môi trường ở
Việt Nam. Bản tường trình được soạn thảo với sự hợp tác của Cục
Môi trường VN và Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan mạch, tạo một hình
ảnh đáng lo ngại do sự suy thoái môi trường trầm trọng tích lũy trong
nhiều thập niên gây ra. Đức Duy đề cập đến bản tường trình dài hơn
40 trang nầy và phỏng vấn Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, một nhà khoa học
VN đang cư ngụ tại California và cũng là một người từng viết nhiều
tài liệu về môi trường ở VN.
ĐD: Bản
tường trình của Ngân hàng Thế giới chứa đựng rất nhiều dữ kiện và
số liệu cho thấy hiện trạng môi trường của VN qua một sự theo dõi, hay quan sát
chặt chẽ. Tóan nhân viên của ngân hàng phụ trách nhiệm vụ theo dõi được sự tiếp tay của nhiều cộng sự viên
thuộc nhiều cơ quan hữu trách, do đó bản tường trình có một tính đáng
tin cậy cao.
Một nhận định tổng quát là cho rằng tại VN đã có một sự
thoái hóa mau chóng về phẩm chất của môi trường và về các tài
nguyên thiên nhiên. Một thí dụ được đơn cử là
trong 5 thập niên qua, diện tích đất đai có rừng thiên nhiên che phủ
đã sụt giảm từ 43% xuống còn 29%. Sự sụt giảm nầy đưa đến
một sự mất mát lớn lao những môi trường sống
tự nhiên cho các loài thú vật và chim muông, và nhiều loài đang bị
đe dọa tuyệt chủng. Bên cạnh đó, vẫn theo bản
tường trình, tình trạng dân cư tại các vùng đô thị quá đông đúc đặt
ra những gánh nặng cho hạ tầng cơ sở và các dịch vụ ngay cả những
nhu cầu sinh sống tối thiểu của người dân cũng không được thỏa mãn
đầy đủ. Vấn đề người dân ở nhiều nơi không có nước
trong sạch để uống, không có những tiện nghi để dùng. Tỉ như những bãi rác chồng chất không được xử lý, chất
thải từ cống rãnh không được đụng tới, cũng đủ nói lên tình trạng
thiếu kém nầy.
TQ: Đối
với VN, những vấn đề thiếu xót, hay có thể nói những thách thức,
cần vượt qua thì rất nhiều, từ việc giáo hóa người dân để họ có ý
thức về môi trường đến việc thi hành một cách cụ thể những luật
lệ bảo vệ môi trường vẫn chỉ có trên giấy tờ. Bản
tường trình nêu lên một ưu điểm. Đó là Chiến
lược tòan quốc về bảo vệ môi trường 10-năm mà VN đã đưa ra năm
ngoái để áp dụng cho đến 2010. Chiến lược nầy
đặt ưu tiên vào việc hiện đại hóa và tăng cường những luật lệ môi
trường hiện hữu.
Theo Ngân hàng Thế giới, VN cần phải thực thi những chiến
lược hữu hiệu và phải chú trọng đến phát triển xã hội và môi
trường nếu muốn giữ vững mức độ phát triển kinh tế như trong 10 năm
qua. Đây là một nhu cầu được đặt ra cho tất cả mọi
nước đang phát triển, không cứ gì VN, tại Hội nghị thượng đỉnh về
Phát triển bền vững họp ở Jehannesburg, Nam Phi hồi cuối tháng tám
vừa qua.
ĐD:
Nhân có bản tường trình của Ngân hàng Thế giới về tình trạng môi
trường ở VN, chúng tôi có dịp trở lại tiếp xúc với TS Mai Thanh
truyết, một nhà khoa học hiện ở California. Oâng là đương kim Chủ tịch Ban chấp hành Hội Khoa học và Kỹ thuật
VN. Cuộc phỏng vấn mà Quý vị nghe sau đây đã được
thâu thanh trên điện thoại hôm thư ba vừa qua.
Sau
đây là nội dung của cuộc phỏng vấn.
ĐD:
Tình trạng môi trường ở Việt
MTT:
Theo chủ quan của tôi, những vấn nạn môi trường mà Việt Nam đang đối
phó có thể kễ theo thứ tự ưu tiên như sau: 1- Vấn đề ô nhiễm nguồn
nước mặt (sông ngòi, kinh rạch) và nước ngầm; 2- Việc xử dụng phân
bón và thuốc bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu rầy, chống nấm
mốc, diệt cỏ dại, v. v...; 3- Phế thải lỏng do các nhà máy xản xuất
hóa chất và kỹ nghệ thải hồi; 4- Phế thải gia cư và phế thải rắn
kỹ nghệ; 5- Ô nhiễm arsenic do công cuộc khai thác nguồn nước ngầm
qua việc đào giếng do UNICEF hổ trợ. Ngoài ra, cũng
cần kễ thêm nhiều nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp
đến việc ô nhiễm nguồn nước như việc phá rừng và vấn đề thủy lợi
như dẫn thủy nhập điền và việc thiết lập các đê bao quốc gia và địa
phương.
ĐD:
Quay sang bình diện quốc gia, đối với Việt
MTT:
Những vấn nạn môi trường đan cử ở phần trên đều là những ưu tiên
hàng đầu nếu đứng trên bình diện quốc gia. Tyu nhiên,
tôi xin mượn lời của chính phủ Pháp trong cuộc tiếp kiến với ông
Trần Đức Lương ngày
ĐD:
Những vấn đề nầy trực tiếp liên quan đến phát triển bền vững, vậy
giới lãnh đạo Việt Nam phải làm gì
để giải quyết , với mục đích thực hiện công cuộc phát triển
cho đất nước và đồng thời làm cho người dân trở thành những người
thụ hưởng?
MTT:
Đây là một câu hỏi lớn mà tôi không có tư cách cũng như khả năng
để trả lời. Và đây cũng là “công việc” của lãnh
đạo Việt
Cũng cần nên nhớ thêm là,
từ năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Tòan cầu tại
Nói tóm lại, muốn thực hiện công cuộc
phát triển bền vững cho đất nước Việt
ĐD:
Phát triển bền vững có thể nói đồng nghĩa với chấn hưng kinh tế. Xin anh Truyết cho biết ý kiến về điểm nầy. Tôi không muốn nói là làm cho kinh tế mạnh lên để làm
nặng thêm túi của các vị lãnh đạo.
MTT:
Việt
Tháng
4/1997, trong một báo cáo Chương trình Hành động của Nghị trình-21 do Bộ
KH, CN & Môi trường, Việt
·
Hợp tác quốc tế để đẩy mạnh tiến trình
bền vững ở các quốc gia đang phát triển;
·
Chiến tranh chống nghèo đói;
·
Bảo vệ và đẩy mạnh y tế công cộng;
·
Chiến tranh chống nạn phá rừng;
·
Quản lý hệ sinh thái: chiến tranh chống
hạn hán và sa mạc hóa đất đai;
·
Đẩy mạnh phát triển bền vững trong nông
nghiệp và nông thôn;
·
Bảo tồn đa dạng sinh học;
·
Bảo vệ biển và các nguồn sinh vật sống
gần bờ biển;
·
Bảo vệ phẩm chất và nguồn dự trử của
nguồn nước ngọt;
·
Quản lý phế thải độc hại;
·
Đẩy mạnh giáo dục môi trường và huấn
nghệ.
Như
chúng ta đã thấy, tất cả chương trình căn bản của LHQ trong phát
triển bền vững đều nằm trong báo cáo nầy. Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết, gần 90% nội dung của các
tiết mục trên hòan tòan để trống. Điều nầy có thể được ghi
nhận là, Việt
Nhìn chung và trong một chừng mực nào đó, Việt
Trong
xã hội Việt Nam hiện tại, những “tinh hoa” hay “chuyên viên” cần phải
có thêm tiêu chuẩn “hồng” mới được đón nhận vào ngạch hành chính
để điều hành các nghiệp vụ phát triển. Do đó, lượng nhân sự kỹ
thuật tham gia vào công cuộc phát triển vốn đã ít ỏi lại càng vơi
dần thêm trước nhu cầu gia tăng nhân sự. Có lẽ vì mang nặng nhiều
mặc cảm có khả năng làm trì trệ việc phát triển đất nước, cho nên
Việt Nam đã để lỡ nhiều cơ hội tiếp nhận đầu tư ngoại quốc, thay vì
có khuynh hướng tăng dần kễ từ khi áp dụng chính sách “đổi mới” từ
năm 1986; trái lại, mức đầu tư đã bị khựng lại từ năm 1993, và tiếp
tục bị giảm sút cho những năm kế tiếp cho đến ngày nay.
Đễ
kết luận, chúng ta có thể nói rằng, Việt
ĐD: Nói
đến phát triển bền vững, chúng ta nên nhắc đến kỳ Hội nghị Thượng
đỉnh họp cuối tháng 8 ở
MTT:
Cũng xin nhắc lại mục đích chính của Hội nghị Thượng đỉnh tại
Johannesburg là thẩm định lại các tiến bộ của những chương trình đã
được đề ra trước đây, và các vấn đề còn tồn tại do Hội nghị Tòan
cầu hóa đề ra 10 năm trước. Hội nghị kỳ nầy do Hội đồng Quốc tế
các Hiệp hội Hóa chất bảo trợ (International Council of Chemical
Associations). Đây là một tổ chức phi chính phủ (NGO),
cho nên Hội đồng quốc tế nầy có đủ tư cách khách quan trong việc
thẩm định kết quả các quyết nghị trước đây.
Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện, nhiều mặt
tiêu cực vẫn còn tồn tại như:
·
Các quy định ở Thượng đỉnh
·
Các ký kết cũng không được các quốc gia
kỹ nghệ áp dụng triệt để;
·
Hình ảnh một thế giới phát triển “không
bền vững” lại được tô đậm hơn, hòan tòan đi ngược với tinh thần
Thượng đỉnh năm 1992. Đó là: 1- Khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc
gia càng lớn dần so với các nước Bắc bán cầu và Nam bán cầu; 2-
Đối với các quốc gia đang phát triển, giai cấp giàu chiếm thiểu số,
giai cấp nghèo chiếm tuyệt đại đa số, và giai cấp trung lưu, thể hiện
cho sức mạnh của quốc gia, lại chiếm tỷ lệ rất khiêm nhường; 3-
Trên thế giới vẫn còn có 2,4 tỷ người không có điều kiện tiếp cận
và xử dụng nguồn nước sạch, hệ thống vệ sinh thường thức hàng
ngày, có mức dinh dưởng tối thiểu, có nơi cư trú an tòan, và được
chăm sóc sức khỏe; 4- Tệ hại nhất, môi sinh tòan cầu đang phải gánh
chịu hậu quả do sự phát triển “không bền vững” gây ra.
Có
rất nhiều vấn đề đã được đem ra bàn thảo ở Hội nghị kỳ nầy như:
giải quyết vấn đề giàu nghèo, hạn chế đánh cá để bảo tồn nguồn
protein thiên nhiên, vệ sinh và y tế công cộng, vấn đề tham nhũng ở
các quốc gia đang phát triển, đa dạng sinh học, bảo tồn năng lượng,
phối hợp với các tổ chức môi trường như Greenpeace để giải quyết
vấn nạn môi trường ở các nước nghèo v. v. ..
Trong
bản thông cáo chung ở ngày cuối cùng, Hội nghị cũng không đưa ra một
sự đồng thuận nào mới mẻ ngoài những cam kết chung chung về: giảm
thiểu và hạn chế sự hâm nóng tòan cầu, khuyến cáo việc xử dụng
nước “sạch”; trong lúc đó việc bảo tồn năng lượng, phát triển nông
nghiệp, và duy trì đa dạng sinh học vẫn chưa đạt đến một sự đồng
thuận nào cả. Nhất là vấn đề giúp các quốc gia
nghèo có điều kiện tài chính và kỹ thuật để phát triển như yêu cầu
của Nghị trình-21 không được các quốc gia giàu lưu tâm và thành thật
thảo luận.
Nhìn chung, Hội nghị Thượng đỉnh kỳ nầy cũng không mang
thêm kỳ vọng gì cho tương lai thế giới cả nhất là vấn đề giải quyết
những vấn nạn môi trường cho các nước nghèo.
ĐD:
Cuối cùng, thưa anh Truyết, anh có điều gì muốn nói thêm với thính
giả đài Á châu Tự do không?
MTT:
Điều cuối cùng chúng tôi muốn nhắn gữi đến Quý thính giả đài Á
châu Tự do là, hy vọng có thêm nhiều cơ hội trong tương lai để chia
xẻ những vấn đề đất nước thân yêu của chúng ta với thính giả ở
quốc nội cũng như ở hải ngoại. Xin thưa một lần nữa, là tình trạng
môi trường ở Việt Nam đã và đang xuống cấp trầm trọng, và chính
quyền hiện tại chưa chứng tỏ quyết tâm giải quyết vấn đề, vì vậy,
chúng ta, những con dân nước Việt cần phải tự đứng dậy để tự cứu
lấy chính mình.
Xin
cảm ơn anh Đức Duy và đài Á châu Tự do.