Biên tập viên Đức Duy (ĐD) đài
Á châu Tự do (Radio
Free
ĐD: Trong nhiều bài viết mà anh có nhã ý gữi cho chúng tôi
tại đài Á Châu Tự Do, tôi đã nhận thấy là anh nói nhiều đến kinh
nghiệm ô nhiễm arsenic ở Bangladesh. Xin anh cho biết
qua về vấn đề nầy tại
MTT: Thưa anh,là một chuyên viên
trong việc quản lý và xử lý môi trường tại Hoa kỳ gần 20
năm, chúng tôi đã hằng lưu tâm đến những vấn đề môi sinh liên quan
đến ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí. Nhưng từ khi Hội nghị
Thượng đỉnh về Toàn cầu hóa tại Rio de Janeiro năm 1992 tại Ba Tây,
vấn đề Việt Nam trở thành ưu tiên hàng đầu của chúng tôi trong
nghiên cứu.
Năm 1997,chúng
tôi đã đọc bài tham luận về tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở thành
phố Hồ chí Minh trong ngày Đại hội của Hội Khoa học & Kỹ thuật
Việt Nam (VAST) tại khách sạn Hyatt, Garden Grove. Tiếp theo
đó, trong năm 1998, chúng tôi đã cảnh báo vấn nạn D D T và nitrate
hiện diện trong nguồn nước ở ĐBSCL. Và sau cùng, ô nhiễm arsenic trong
nguồn nước trở thành trọng tâm nghiên cứu của chúng tôi sau khi vấn
đề arsenic ở Bangladesh và Tây Aán độ đã được thế giới xem như là
một thảm nạn của thế kỷ. Thảm nạn nầy ảnh hưởng lên hơn 50 triệu
người sống trong vùng sau hơn 25 năm được UNICEF tài trợ, khoan đào hơn
4 triệu giếng với mục đích để cho người dân có nguồn “nước sạch”.
Qua kinh nghiệm ở
ĐD: Có phải vì
MTT: Thưa anh, sông Hằng hà (
ĐD: Qua kinh nghiệm của Bangladesh, anh đã đặt vấn đề với Quỷ Nhi Đồng LHQ (UNICEF) vào thời điểm nào và về vấn
đề gì?
MTT: Với mục đích truy tìm thêm thông tin, chúng tôi, qua email,
đã hội ý với giáo sư Chappel, thuộc viện đại học Colorado ở Denver,
và là Chief Investigator của Hoa kỳ về điều tra và xử lý ô nhiễm
tại Bangladesh. Chúng tôi cũng nhiều lần trao đổi với
giáo sư qua Hội nghị Quốc tế về Arsenic tổ chức hàng năm tại
ĐD: Công việc phân tích mẫu nước ở Việt
MTT: Với những trao đổi trực tiếp và qua các tài liệu tham
khảo về nguy cơ ô nhiễm arsenic trên thế giới, chúng tôi bắt đầu thu thập dữ kiện. Qua bạn bè và
thân nhân có dịp về thăm quê hương, chúng tôi chuẩn bị sẳn các chai
lọ đặc biệt để chứa mẫu nưốc và nhờ họ đi lấy mẫu ở tất cả
những nơi đã thăm viếng. Các mẫu nước được thu
thập từ Hà Nội đến tận vùng ĐBSCL và được phân tích tại Hoa kỳ.
Kết quả đã
được công bố trong ngày Hội thảo do MekongForum và HKHKTVN đồng tổ
chức tại đại học Santa Ana vào tháng 11, 2000. Tuy là kết quả ban đầu
và cần phải phân tích thêm nhiều mẫu nữa, nhưng chúng tôi có thể
kết luận rằng nguồn nước ở nhiều vùng tại ĐBSCL đã bắt đầu bị
nhiễm độc arsenic. Cũng xin nói
thêm là các mẫu nước thu thập đã được phân tích tại phòng thí
nghiệm WECK Labs ở
ĐD: Chúng ta hảy tạm ngừng ở đây để nói một vài điều về
arsenic. Nó là một kim loại có sẳn trong lòng
đất, từ đó nó thẩm lậu vào nước ngầm ở sâu dưới đất. Còn có xuất xứ nào khác khiến có arsenic trong nước
không?
MTT: Ngoài sự hiện diện của arsenic dưới dạng phù sa
arseno-pyrite như đã nói trên, các cuộc nghiên cứu năm 1999 do TS
Gustafson (Thụy Điển) tại ĐBSCL cho thấy hàm lượng của arsenic trong
đất ở vùng nầy khá cao từ 20 – 130 mg/Kg so với mức trung bình trong
thiên nhiên là 4 mg/Kg. Cũng cần nên kễ thêm là GS Chappel có nhấn
mạnh đến sự hiện diện của 26 đại công ty hóa chất ở cao nguyên Vân
Nam (1999), đặc biệt là các công ty khai thác hầm mõ luyện kim, và
tinh chế acid sulfuric; do đó ngoài sự hiện diện của arsenic cần phải
lưu ý đến các kim loại khác qua phế thải của các công ty nầy.
Thêm nữa, việc
xử dụng quá tải các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cũng có
thể là một nguồn cung cấp arsenic trong nguồn nước và lòng đất vì
arsenic là một trong những tác nhân chính trong việc điều chế các
loại thuốc kễ trên.
ĐD: Nói đến nhiễm độc bởi arsenic. Vậy những ảnh hưởng đối
vơiù sức khỏe của con người như thế nào?
MTT: Đây là một ảnh hưởng dài hạn. Trường hợp xảy ra ở
ĐD: Những kết quả phân tích mẫu nước đã được các anh công
bố tại một khóa hội thảo của Hội KH&KT Việt
MTT: Sau khi công bố kết quả
năm 2000, chúng tôi vẫn tiếp tục lấy mẫu nước thêm, mỗi khi có dịp
để có thêm dữ kiện. Mãi cho đến khi bài phỏng vấn chúng tôi và kỹ
sư Nguyễn Minh Quang do nhật báo Orange County Register ngày 3/1/2002 xuất
hiện trên mặt báo, có một số người trong và ngoài nước kết án
chúng tôi là “ăn cắp”, “chuyển lậu” chất độc ở Việt Nam qua Hoa kỳ
và còn đe dọa yêu cầu chính phủ Việt Nam kiện chúng tôi ra tòa. Xin thưa với anh là chúng tôi vẫn tiếp tục nhận mẫu nước
từ bên nhà cho đến ngày nay. Năm 2000, chúng tôi có thêm mẫu
nước ở Vỉnh Long, Cần Thơ, Sa Đéc, Long Xuyên,
Tân Châu và Châu đốc. Và đặc biệt hơn nữa, mới vừa cách đây 10
ngày (09/6/2001), một người bạn có mang về 4 mẫu nước ở vùng Biên
Hòa, nơi mà tôi đã tìm thấy Arsenic có nồng độ cao trước đây (35ppb).
Trong số các mẫu nầy, có một mẫu ở hồ Biên Hùng, mà cách đây
không lâu Bác sĩ Schecter (Texas) đã tìm thấy sự hiện diện của Dioxin
với nồng độ cao (?!); chúng tôi sẽ phân tích mẫu nước nầy mặc dù phải chịu
một chi phí rất cao (US$900.00/mẫu) mà phòng thí nghiệm của chúng tôi
không có giấy phép để phân tích hóa chất nầy.
ĐD: Ngay tại Việt
MTT: Chúng tôi có nghe qua cuộc hội thảo về tình trạng môi
trường ở Việt
ĐD: Còn có điều gì khác rút ra từ cuộc hội thảo nói trên
không?
MTT: Có chứ, thưa anh. Chúng tôi vừa được biết
các cuộc điều tra về ô nhiễm arsenic đã được các khoa học gia Việt
ĐD: Sau khi các anh trong Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam
công bố những kết quả phân tích nước, chính quyền ở Việt Nam đã có
đáp ứng nào không? Thuận lợi hay bất lợi?
MTT: Trong ngày Hội thảo năm 2000 tại đại học Santa Ana, chúng
tôi phát biểu bằng Anh ngữ, và các bài viết bằng Việt ngữ đã được
tạp chí Đi Tới (Montréal) đăng tải, cũng như các báo chí trong vùng. Tuy nhiên chúng tôi không ghi nhận được phản ứng nào của
chính quyền Việt
Mãi cho đến
ngày 03/01/2002, nhật báo Orange County Register cho đăng tải bài phỏng
vấn chúng tôi và kỹ sư Nguyễn Minh Quang về tình trạng môi trường và
các vấn nạn ô nhiễm hóa chất ở Việt Nam, họ mới có phản ứng rất
tiêu cực hướng về phía chúng tôi. Phản ứng đầu tiên
là phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Việt
ĐD: Điều mà anh vừa cho biết rất là dễ hiểu nếu ta xét đến
tính chất chế độ hiện hữu ở Việt
MTT: Thưa anh, đúng như vậy. Chúng tôi không để tâm nhiều đến
những điều họ nói mặc dù sau đó, chúng tôi liên tiếp nhận được
những thư nặc danh, cùng nhiều bài viết trên báo chí ở Việt Nam và
hải ngoại, công kích, hăm dọa, bôi lọ đời tư cá nhân chúng tôi. Trong
lúc đó, chúng tôi vẫn tiếp tục đi con đường của mình là cố thu thập
thêm dữ kiện hầu mong có điều kiện để trang trải những điều cảnh
báo đến những người dân chơn chất đang sống tại quê hương.
ĐD: Nhưng mà dù họ chỉ trích hay vu cáo, song sự thật, nhất là
những dữ liệu khoa học, là những gì không phủ nhận được. Và nghe
đâu, gần đây chính họ (thủ tướng Phan văn Khải) đã nhìn nhận vấn đề
ô nhiễm sẽ là một thảm trạng lớn của Việt
MMT: Vâng, thưa anh, sau khi báo Lao Động đăng tải các kết quả
đo đạc của các khoa học gia chúng tôi vừa nói trên, có một sự kiện
cần phải nêu ra là, vào cuối tháng tư vừa qua, thủ tướng Phan Văn
Khải của chính quyền hiện tại đã công bố chính thức rằng nạn ô
nhiễm arsenic trong nguồn nước có thể là một thảm nạn trong tương lai
cho Việt Nam cũng như đã chỉ thị cho Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường phải lập phương án, điều tra và nghiên cứu vấn đề nầy. Khi
nghe được tin nầy, chúng tôi không nghĩ rằng họ đã nghe được những
lời cảnh báo của chúng tôi mà thi hành biện pháp kễ trên; tuy
nhiên chúng tôi cũng cố gắng có một suy nghĩ tích cực là ước mong
cho chỉ thị trên trở thành hiện thực!
ĐD: Trở lại với công cuộc nghiên cứu của anh. Anh chú trọng đến vùng ĐBSCL. Tại sao, xin anh cho
biết.
MTT: Có nhiều nguyên nhân làm cho chúng tôi chú trọng đến
vùng ĐBSCL. Thú nhất là các liên hệ tương tự về địa chất và dòng
chảy của hai dòng sông Hằng Hà và Cửu Long, cũng như thảm nạn ở
ĐD: Từ các kết quả anh có trong tay, anh
có suy nghĩ thêm về các biện pháp giải quyết vấn đề nhiễm độc
arsenic ở Việt
MTT: Trước khi trình bày các biện pháp giải quyết tình trạng
nhiễm độc arsenic, thiết nghĩ việc truy tìm sự hiện diện của nguyên
tố nầy là một việc làm ưu tiên và cần thiết. Có rất nhiều cá
nhân hay cơ quan trên thế giới đang tập trung trí tuệ để cố gắng tìm
ra một hệ thống thử nghiệm tại hiện trường (test kit) dựa trên các
tác dụng hóa học và vật lý. Tùy theo điều
kiện thí nghiệm, các phương pháp nầy cho thấy mức độ chính xác tương
đối, cho phép chúng ta ước lượng ban đấu tình trạng nhiễm độc ở
những vùng khảo sát.
Đối với tình
trạng hiện tại ở Việt Nam do sự thiếu phương tiện như nhân sự, tài chính, kỹ thuật, dụng cụ,
và đồng thời với việc điều ra ô nhiễm, chúng tôi cố tìm một phương
cách rẽ tiền, dễ xử dụng để có thể thử nghiệm tại chỗ để làm
khảo sát sơ bộ (screening) hầu thu thập được nhiều dữ kiện hơn thay vì
phải lấy mẩu và chuyển về Hoa kỳ phân tích (phí tổn cho một mẩu
phân tích là US$100.00/mẩu). Chúng tôi đang đi gần đến việc hoàn tất cho
công cuộc xét nghiệm nầy bằng phương pháp dùng sulfate đồng để đo
đạc nồng độ của arsenic. Tuy độ chính xác chưa đạt
được tiêu chuẩn cao, nhưng cũng đủ cho ta có khái niệm về nồng độ ở
những nơi tình nghi có ô nhiễm. Độ chính xác
của phương pháp nầy ước tính vào khoảng 15 phần tỷ. Do dễ xử
dụng và ít tốn kém, phương pháp nầy rất thích hợp cho Việt
Về việc xử lý
những vùng nước bị nhiễm độc, chúng tôi cũng cố truy tìm những phương
thức rẽ tiền thích ứng với điều kiện Việt Nam, mặc dù trên thế
giới đã có quá nhiều biện pháp để giải quyết hữu hiệu bằng các
phương pháp hóa học, vật lý như: dùng hydroxid sắt III, phương pháp
thẩm thấu nghịch (reverse osmosis), trao đổi ion v. v.. .. Những phương
pháp nầy đòi hỏi thiết bị tối tân và chi phí cao, không thể thực
hiện được trong điều kiện Việt
ĐD: Nói một cách thực tế, người dân vùng ĐBSCL phải tự mình
ý thức vấn nạn arsenic mà tự mình bảo vệ sức khỏe cho mình dù là
chính quyền có thể lơ là. Theo ý kiến của anh Truyết, những người
dân nầy nên làm gì?
MTT: Một lần nữa, qua các cuộc thăm dò, điều tra từ hơn ba
năm nay, chúng tôi chắc chắn rằng nạn ô nhiễm arsenic trong nguồn
nước, đặc biệt ở vùng ĐBSCL là một thực tế, một sự thật không cần
phải chứng minh thêm nữa. Do đó, việc làm cấp bách trong hiện tại
là phải tìm những phương cách để chế ngự nhiễm độc, song hành với
việc truy tìm những phương sách khác để cung cấp nguồn nước an toàn cho người dân ĐBSCL
Việc xử dụng
nguồn nước mặt sau khi đánh phèn là một thói quen mà người dân vùng
ĐBSCL đã áp dụng từ ngàn xưa, hiện nay vẫn còn giá trị không những
về mặt tập tục mà vẫn bàng bạc tính khoa học trong phương cách đối
phó vơi thiên nhiên. Thêm nữa, vũ lượng hàng năm ở ĐBSCL hơn 2000 mm;
điều nầy sẽ giúp người dân có đủ lượng nước sạch tiêu dùng cho nhu
cầu ăn uống cả năm nếu người dân có phương tiện trử nước trong mùa
mưa.
Thêm nữa, việc
lạm dụng nguồn nước hiện có qua các giếng đào để đẩy mạnh nông
nghiệp đã và đang gây ra hậu quả không lường được là môi trường bị
ô nhiễm qua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tệ hại hơn nữa là
mạch nước ngầm đã bị sụt giảm. Tính đến năm 2000, mạch nước ngầm
của tỉnh Trà Vinh giảm từ 2 đến 2,5 thước. Điều
nầy sẽ giúp cho nước mặn có cơ hội tiến sâu vào đất liền trong mùa
khô, và làm giảm diện tích đất canh tác. Chúng tôi
mong rằng các nông dân vùng ĐBSCL lưu ý vấn đề nầy.
ĐD: Trong khuôn khổ giải quyết nạn ô nhiễm arsenic, nhà nước
Việt
MTT: Về phía chính quyền hiện tại, chúng tôi nghĩ, họ cần yêu
cầu UNICEF chấm dứt việc khuyến khích và tài trợ công tác đào và
khoan giếng, và thay thế bằng việc tài trợ cho việc lấp đặt hồ chứa công cộng và
thiết lập hệ thống khử trùng bằng tia cực tím cho người dân ĐBSCL.
Họ cũng cần
phải có kế hoạch và nhân sự giải thích cho người dân hiểu được nguy
cơ nhiễm độc arsenic và mức độ nguy hiểm cùng cách xử dụng các lọai
thuốc bảo vệ thực vật để tránh những vụ ngộ độc hoặc tai nạn cho
người dân như đã xảy ra từ mấy tháng nay ở Việt Nam.
Vì thông tin và
giáo dục người dân là biện pháp phòng bị hay nhất trước các vấn
nạn môi trường đang xảy ra ở Việt
ĐD: Liên hệ trong đó là vấn đề xử dụng bừa bãi những hóa
chất gọi chung là thuốc bảo vệ thực vật. Anh
có nghĩ là với tình trạng hiện nay ở Việt Nam, đây là một vấn đề
khó giải quyết hoặc không thể giải quyết không nhất là về tính
chất xã hội?
MTT: Như đã trao đôi với anh và thính giả trong lần phỏng vấn
cách đây hơn một tháng cũng trên chương trình Khoa học Kỹ thuật nầy,
vấn đề xử dụng bừa bãi các loại thuốc bảo vệ thực vật đã là một
đề tài nóng cho Việt Nam từ mấy tháng nay. Từ Hà Nội đến Sàigòn,
báo chí trong nước đã loan tải những tin tức người dân bị ngộ độc vì
ăn phải các thực phẩm như rau muống, đậu đủa, ngó sen, cà, đậu,
mồng tơi,.. . thậm chí đến giá cũng bị nhiễm
độc! Chúng tôi nghĩ đây là một vấn nạn có tầm vóc
quốc gia và dường như về phía chính quyền chưa có một giải pháp thích
nghi nào để giải quyết vấn đề. Sau bao chương trình đề ra như
tháng làm sạch môi trường, tăng cường nhân viên kiểm soát .. . Các biện pháp trên chỉ là
hình thức không thể giải quyết được vấn đề một cách có hiệu quả
được.
Vấn đề môi trường ở Việt
ĐD: Đến đây chúng tôi xin mời anh Truyết có ý kiến gì xin
nói thẳng với thính giả của đài chúng tôi.
MTT: Thưa quý
thính giả trong và ngoài nước, Quý vị đã nghe qua phần trao đổi giữa
chúng tôi và Biên tập viên Đức Duy của đài Á Châu Tự Do. Trước
hết, xin cám ơn đài đã tạo cơ hội cho chúng tôi có dịp trình bày
những suy nghĩ về các vấn nạn môi trường của Việt
Việc xử dụng
phân bón quá liều lượng, và việc tận dụng triệt để đất đai qua
thâm canh chỉ đem lại lợi nhuận trước mắt. Nhưng trong một tương lai
rất gần, nguồn đất và môi trường sẽ xuống cấp, để rồi đất sẽ chai
đi, và không còn điều kiện để nuôi sống người trồng trọt nữa.
Qua việc xử
dụng thuốc bảo vệ thực vật để tăng năng xuất, bảo quản nguồn thực
phẩm trước mắt, xin đừng quên di hại sẽ kéo dài trong nhiều thế hệ
do sự tích tụ lâu ngày của các hóa chất nầy trong cơ thể. (Chu Phạm
Ngọc Sơn mới vứa công bố trên báo Lao Động (14/6/2002) là trong năm
1999 là 91% trong mẫu thịt bò, 77,8% trong mẫu thịt gà, và 88,9% trong
thức ăn gia súc có chứa hàm lượng dexamethasone, một loại thuốc kích
thích tăng trưởng. Hóa chất nầy là tác nhân làm xáo trộn sự trao đổi hormone
trong cơ thể con người).
Nếu vì lý do
nào, chính quyền hiện tại chưa có điều kiện giải quyết hay giúp đở
người dân, chúng tôi nghĩ, đã đến lúc chính người dân phải đứng lên
tự cứu lấy mình. Mới vừa đây, nhân ngày Môi trường Thế giới, UNICEF
đã cảnh báo rằng 51,7% dân số Việt
Sau cùng, những
chính sách cải tạo nông nghiệp của chính quyền tương tự như “chính sách con tôm ôm cây lúa”, hay
là nuôi tôm và trồng luá cùng một thời vụ trong vùng nước lợ, là
một trong những chính sách vừa phi khoa học và phản thiên nhiên! Các loại chính sách trên sẽ là sự bắt đầu của một cuộc
cách mạng mới trong tương lai.
Cuộc cách mạng nầy chắc
chắn không phải là một cuộc cách mạng nông nghiệp.
Xin kính chào Quý thính giả nghe đài.