Chiều Hướng
Phát Triển VIỆT
Thế
giới ngày nay đang chuyễn dịch dần theo xu hướng
toàn cầu hóa trong mọi lãnh vực từ chính trị, quân sự, kinh tế đến
khoa học, phát triển và môi sinh.... Lằn ranh biên giới giữa các
quốc gia đang lần lần được tháo gở để nhường bước cho những qui định chung đã được bàn thảo và đồng ý trước. Các quốc gia trong Liên hiệp Âu châu đã đi tiên phong trong
việc áp dụng cùng một hệ thống tiền tệ (đồng Euro dollar), và thuế
khóa khi giao dịch. Do đó chiều hướng mới của lịch sử toàn cầu
là sẽ khó có thể chấp nhận một nước nào trên thế giới đứng độc
lập hay tự cô lập. Không một hiện tượng hay vấn nạn nào xảy ra cho
một quốc gia mà không liên đới ảnh hưởng đến các quốc gia khác.
Biên giới địa dư đang bị xóa dần dưới nhiều hình thức khác nhau và
tùy thuộc vào các liên hệ tương quan về chính trị – kinh tế giữa các
quốc gia với nhau.
Bầu
khí quyển bao bọc thế giới cần được mọi người lưu tâm đúng mức và
có biện pháp xử lý cấp thời. Nguồn nước sinh hoạt, các
mạch nước ngầm...cần phải được san sẻ giữa các quốc gia để tránh
cảnh thiếu-thừa. Các giòng sông lớn sẽ không
còn là tài sản của bất cứ quốc gia nào. Các nước không thể
viện dẫn một lý do nào để quản lý và sử dụng tắc trách nguồn
nước chảy xuyên suốt qua địa phận mình mà không có sự tham dự và
thảo luận của các quốc gia liên hệ. Một thí dụ điển hình là sông
Mekong: Mọi quyết định trên dòng sông nầy sẽ PHẢI được sự đồng
thuận của 7 quốc gia liên hệ, chứ không tùy thuộc vào quyết định đơn
phương của “chủ nghĩa nước lớn” Trung Quốc như hiện nay. Đó là: Tây
Tạng, Miến Điện, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Cao Miên, và Việt Nam.
Tất cả phải cùng
chăm sóc các đại dương để bảo vệ nguồn tài nguyên biển cho nhân
loại, ngăn chặn kị+p thời các vi phạm đến từ
bất cứ quốc gia nào. Sẽ không còn một địa danh nào trên quả địa cầu
được xem là miễn nhiễm hoàn toàn cả!
Ngay
cả trong lãnh vực tôn giáo, Tây phương đã lần lần từ bỏ ý niệm
dân tộc của họ là con của Thượng đế, là một giống người đã được
soi sáng và co nhiệm vụ khai phóng cho các dân tộc khác. Ngày
nay đã có ít nhiều cảm thông về lòng tin giữa các tôn giáo với
nhau. Tuy nhiên, trên trái đất nầy vẫn còn tồn
tại nhiều xung đột gay gắt giữa Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Tình trạng nầy cần phải được dứt điểm trong những ngày
sắp đến. Và trong tương lai tôn giáo sẽ không còn là những
cuộc tranh chấp dành quyền lãnh đạo tinh thần của con người, mà phải
là một tác hợp liên đới trong đó mọi đức tin của mỗi tôn giáo đều
được tôn trọng như nhau. Đây cũng chính là hiện tượng toàn cầu hóa
cho vấn đề tâm linh của con người.
Việt
Do đó, với chiều
hướng suy nghĩ trên, các gợi ý sau đây là những đề nghị cho Việt
Việt
Phát triển quốc gia
và ô nhiễm môi trường là hai yếu tố liên quan chặt chẻ với nhau, và không còn là
vấn đề của từng quốc gia riêng rẽ nửa. Không khí ô nhiễm của các
nhà máy sản xuất ở Vân
Chấp hành qui tắc chung của thế giới để phát triển hài hòa cho đất
nước là con đường tối ưu phải đi. Không thể nào vì muốn có thêm
ngoại tệ nặng để trang trải ngân sách thiếu hụt mà phải khai thác
tận cùng nguồn tài nguyên đất đai, sử dụng thuốc sát trùng và phân
bón hóa học một cách vô trách nhiệm ... để mang đến kết quả sau
cùng là người dân phải chịu thêm tình trạng khan hiếm nguồn nước và
môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai.
Chúng ta đã nghe
nhiều tin tức về chất màu da cam (chứa độc tố dioxin) trong thuốc khai
quang mà Hoa Kỳ gieo rắt trong thời gian chiến tranh Việt
Đối với các qui
luật về quản lý môi trường, đất, nước, không khí...đang được áp
dụng rộng rãi trên thế giới cũng như các định mức về ô nhiễm đang
được các nước chấp hành nghiêm chỉnh, Việt Nam cần tuân thủ các
luật lệ trên để tránh khỏi bị tụt hậu ngay cả về phát triển kinh
tế quốc gia cùng phúc lợi cho người dân. Từng bước
học hỏi và chấp hành các qui luật trên hầu tìm biện pháp giải
quyết thích ứng cho từng vấn nạn đặc biệt của đất nước nhất là vấn
nạn ô nhiễm môi trường. Thay vì tiếp tục kêu
gào trên báo chí, kêu gọi sự giúp đở của thế giới, cần nên tập
trung trí tuệ hiện có và các phương tiện khả thi của chính mình để
lần lần tháo gở các vấn nạn trên. Có làm
được như thế dân trí sẽ tăng trưởng dần và người dân sẽ là những
trợ lý đắc lực để giúp chính quyền lần lần hoàn chỉnh quy trình phát
triển quốc gia phù hợp với điều kiện Việt
Việt Nam đang
có nhiều lợi điểm: 1- lực lượng lao động còn non trẻ và có khả
năng thích ứng với thị trường sản xuất, 2- kinh tế-kỹ nghệ đang phát
triển và đang cần được phát triển mạnh, 3- nhu cầu của người dân
còn quá lớn so với mức sản xuất của quốc gia. Từ ba lợi điểm căn
bản trên, bất cứ quốc gia có kỹ thuật cao nào cũng đều muốn đầu tư
vào để trục lợi. Do đó cần cân nhắc đắn đo mọi đề xuất để có một
phương án chung hài hòa cho điều kiện Việt
Mặc cảm bị ngoại
quốc khai thác cũng như rụt rè trong quyết định sẽ làm cho đất nước
mất cơ hội thu ngắn sự cách biệt giữa phúc
lợi quốc gia so với các nước trên thế giới. Chấp nhận đầu tư bừa
bãi không cân xứng với nhu cầu quốc gia và không theo qui luật chẳng
hạn như phát triển không đồng bộ về du lịch, khách sạn, giải trí
...sẽ không mang lại phúc lợi cho đại đa số mà ngược lại, chỉ làm
tăng thêm hố cách biệt giữa các tầng lớp dân chúng trong nước.
Việc sản xuất dư
thừa các nguồn tiêu thụ không cần thiết cho người dân như rượu, bia,
và thuốc lá chỉ làm tăng ngân sách quốc gia và địa phương một cách
“biểu kiến” và quên đi gánh nặng y tế trong việc chửa trị các chứng
bịnh nan y, hệ lụy của việc tiêu dùng các sản phẩm trên cho các thế
hệ tiếp nối.
·
Từ những hợp tác quốc tế và đầu tư, Việt
Việt Nam cần rút
kinh nghiệm từ những thất bại do việc thiếu quy hoạch cho phát triển
trong quá khứ, mà hai thí dụ điển hình là nhà máy giấy do Thụy Điển
viện trợ ở Thái Nguyên và nhiều nhà máy đường rãi rác từ Quảng
Ngãi đến các tỉnh miền Đông Nam Việt. Ở từng địa
phương, nguyên liệu tre, nứa, mía không đủ để cho các nhà máy trên
hoạt động có hiệu quả về năng suất vì nhu cầu nguyên liệu chỉ có
khả năng cung ứng vài tháng trong năm. Suy nghĩ
“có đâu làm đó” chỉ là một suy nghĩ hết sức ấu trỉ, không thể áp
dụng cho một kế họach có tầm vóc quốc gia. Cho
nên cần phải chấm dứt tình trạng nầy ngay tức khắc.
·
Rốt ráo hơn nữa, Việt Nam hiện tại đang ở giữa ngã ba đường
trước các cực kinh tế – quân sự có ảnh hưởng gián tiếp hay trực
tiếp lên vận mạng đất nước như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật, Đại Hàn,
Úc châu, Âu châu, và thế giới Hồi giáo. Mỗi cực đều có ít nhiều
lý do liên hệ và ảnh hưởng đến Việt
Không
một quốc gia nào trên thế giới có thể tự nhận hoàn toàn độc lập
và không liên hệ đến thế giới bên ngoài. Ngay
cả hai cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc. Hiện tại, Hoa Kỳ có
còn hoàn toàn miễn nhiễm về bịnh sốt rét và lao
phổi như đã từng công bố cách đây mấy chục năm không? Trung Quốc
cuối cùng rồi cũng phải dọn con đường mở cửa giao thương với thế
giới bên ngoài để hội nhập vào cộng đồng quốc tế, chấm dứt giai
đoạn bế quan tỏa cảng làm cho đất nước bị trì trệ trong suốt thời
gian dài. Người Việt với truyền thống hiền hòa và
dễ tha thứ sẽ sẵn sàng kết hợp lại để cùng đưa đất nước đi tới
nếu chính quyền thực sự tỏ quyết tâm mang niềm tin đến cho người
dân. Muốn được như thế việc điều hành quốc gia phải có tính
xuyên suốt – transparency- và mọi người dân đều phải được cư xử bình
đẳng với nhau căn cứ theo luật lệ hiện hành. Bất cứ ngoại lệ nào rồi cũng đưa đất nước đến
xáo trộn và bất ổn. Sự trong sáng trong
báo cáo chính thức, thành thật trong thống kê sẽ là chất kết dính
để tạo ra sự đoàn kết dân tộc trong bất cứ tình huống nào.
Làm được như thế, Việt
·
Hiện tại, ngân sách Việt Nam chỉ chiếm 0,1% tổng sản lượng
quốc gia để dùng cho việc quản lý môi trường tòan quốc, so với các
quốc gia ASIAN là 1,0%; cũng như Việt Nam chỉ cung ứng 3 cán bộ quản
lý môi trường cho một triệu người dân so với 70 cán bộ ở các nước
ASIAN. Điều nầy cho thấy Việt
·
Sau cùng, chế độ bao cấp, bù lỗ cho các công ty quốc doanh đã
là một trong nhiều nguyên nhân chính làm trì trệ đất nước. Chính chính
sách nầy tạo nên sự ỷ lại và thiếu trách nhiệm của cấp lãnh đạo
và kéo theo khuynh hướng ù lì, phó mặc của các
cấp thừa hành vì tâm lý “cha chung không cần khóc”. Từ đó, sáng
kiến cải tiến kỹ thuật khó có thể nẩy mầm từ các chuyên viên có
trách nhiệm hoặc công nhân có tay nghề cao vì
họ luôn mang nặng một não trạng thụ động trong đầu. Hàng năm Việt
·
Bài học thứ nhất cho Việt Nam là trường hợp
Liên Sô. Lịch sử đã chứng minh rằng ở hầu hết các quốc gia chịu sự
thống trị của chế độ xã hội chủ nghĩa đều theo
chính sách kinh tế “ảo”. Sau khi Liện Sô sụp đổ, bài học kinh tế ảo
của quốc gia nầy đã làm cho người dân của họ phải chịu lầm than
nhiều hơn so với các quốc gia phát triền cùng thời. Hơn 10 năm sau khi
chế độ marxít tan ra,õ người dân Nga Sô vẫn còn
phải chấp nhận hậu quả bi thảm của một chính sách kinh tế ảo trên.
Đối với một nền kinh tế nầy, một khi đã đưa vào ứng dụng thì một
lượng khổng lồ tài lực và nhân lực sẽ được đổ dồn vào một công
trình nào đó trong một thời gian thật ngắn mà không thu
lượm được sản phảm nào đáng kễ ngõ hầu có thể tăng phúc lợi cho
người dân. Công trình sẽ được hủy bỏ sau đó và được thay bằng những
công trình khác, mà kết quả vẫn không khác những kết quả trước kia. Do đó, tài nguyên và nhân lực ngày càng cạn
kiệt. Lenine và Staline đã khơi dậy một nền kinh tế ảo cố tạo ấn
tượng tốt để che đậy những tráo trở cũng như hành hạ chính dân Nga
bằng những chương trình kinh tế vĩ đại. Nhưng kết quả sau cùng vẫn là
làm kiệt quệ tài nguyên và nội lực của dân tộc. Cho đến ngày nay,
mặc dù có sự trợ giúp của Tây phương, kinh tế Nga sô vẫn còn thoi
thóp trong một xã hội hoàn toàn băng hoại về đạo đức. Nội lực dân
tộc hòan tòan biến mất trên đất nước nầy.
Một vài số
liệu trong báo cáo tháng 10,2002 của
International Energy Agency cho thấy mức phát triển “thụt lùi” của Liên
bang Sô viết (1990) và Liên bang Nga (2000). Năm 1990, Liên bang Sô
viết phóng thích ra 3,5 tỷ tấn thán khí (CO2)
trong lúc đó cũng trong năm nầy, tòan thể Liên hiệp Aâu châu phóng
thích 4,0 tỷ tấn. Mức thán khi thải hồi vào không khí
là một nhân tố thẩm định mức phát triển của một quốc gia. Sau
10 năm, Liên hiệp Aâu châu vẫn giữ nguyên nhịp độ thán khí được thải
hồi, trong lúc đó ở nước Nga hậu cộng sản, lượng thán khí thải hồi
đã bị sụt giảm còn 2,1 tỷ tấn mà thôi. Với mức
phát triển thụt lùi nầy, người dân Nga ngày nay phải “thắt lưng buộc
bụng” thêm nữa so với 10 năm trước đây. Đây
là một bài học quý cho Việt
·
Bài học thứ hai là trường hợp Chí Lợi. Vào cuối thập
niên 80, đất nước Chí Lợi dưới một chế độ độc tài, cũng đang lâm
vào một tình trạng bế tắc về kinh tế và môi trường do phát triển
không đồng bộ giống như trường hợp Việt
Với
thành tích đi giây giữa các đối cực quân sự trong quá khứ, chúng ta
cố nuôi hy vọng thêm một lần nữa để nhìn thấy Việt
Mọi
vấn nạn hiện tại của Việt
Nhìn lại 27 năm qua,
Việt Nam tuy đã đạt một số tiến bộ trong việc xây dựng và phát
triển quốc gia, nhưng chưa đủ mau và mạnh so với nguồn nhân lực, tài
nguyên và hiện co,ù cũng như nhu cầu cho dân tộc mà Việt Nam cần
phải chu tòan.
Có
phải vì những đắn đo, dằn co nội bộ trong chính sách tiếp cận tiến
trình toàn cầu hóa không?
Hay vì quan niệm
quốc gia cực đoan và mặc cảm trước đàn anh nước lớn Trung Quốc?
Hơn nữa thế kỷ qua,
Việt Nam điều hành quốc gia qua việc cấy “sinh tử phù sợ hãi” vào
lòng người dân Việt, thì ngày nay có phải vì tâm thức luôn bị ám
ảnh về nỗi lo sợ bị đào thải cho nên không dám mạnh dạn thay đổi?
Hoặc Việt
Cho dù dưới bất cứ
lý do gì đi nữa, yếu tố thời gian vẫn không cho phép Việt
Mai Thanh Truyết, West
Covina, 12/2002