Phân Tích Nước Sông ĐBSCL
Chúng tôi nhận
được một mẫu nước đă
được lấy trên ḍng sông Hậu gần Cần
thơ ngày 12/11/03. Ngay sau đó mẫu nầy đă
được chuyển sang Hoa kỳ và được
gữi đi phân tích ở một pḥng thí nghiệm phân tích
môi trường certified đúng với quy định
của EPA Hoa kỳ.
Các yếu tố sau đây
đă được phân tích: pH, Tổng lượng
chất rắn lơ lững (TSS), Nhu cầu oxy hóa học
(COD), Tổng lượng chất hữu cơ (TOC), Các
Ions, Hoá chất trừ sâu rầy, diệt cỏ dại,
PCBs (Pesticides, Herbicides, PCBs), và kim loaị gồm Tổng
lượng kim loại (có ly
trích acid), và Arsenic hoà tan (không ly trích).
Sau đây là kết quả
phân tích, phương pháp EPA xử dụng, cùng với các
dụng cụ tương ứng để đo
đạc.
Sample: Hau Giang/CanTho
Kết quả
Units Detection
Method Prepared
Analyzed
pH 7,55 0.01 150.1 Joe 24/11/03
TSS 96.0 mg/L 0.1 160.2 Joe 26/11/03
COD 0.6
mg/L 0.5 410.1 Joe
25/11/03
TOC 7,4
mg/L
0.5
415.1 Alan
02/12/03
Ions: Cl- 11,0
mg/L
1.0 300.0(IC)
Alan 24/11/03
NO3- 2,0 1.0
SO4- 16.3 1.0
Br- N/D 1.0
NO2- N/D 1.0
PO4- N/D 1.0
Pesticides/PCBs
Alpha-BHC N/D ug/L 1.0 8081/8082(GCMS) Alan 08/12/03
Beta-BHC, Gamma-BHC, Delta-BHC,
Heptachor, Aldrin, Endosulfan I, DDE, DDT, Diedrin, Endosulfan II, DDD,
Methixychlor, Endrin Aldehyde, Chlordane, Toxaphene, PCB-1016, PCB-1221,
PCB-1232, PCB-1242, PCB-1248, PCB-1254, PCB-1260: N/D
Metals: Total
ug/L
1.0 6020(ICPMS) Joe 24/11/03
|
Al 897 |
Mn 154 |
|
As 18 |
Mo 40 |
|
B 226 |
Na 11.230 |
|
Ba 26 |
Ni 7 |
|
Ca 25.950 |
P 189 |
|
Cd 1,0 |
Pb 7,5 |
|
Co 1,0 |
Sb 14 |
|
Cr 6,0 |
Se N/D |
|
Cu 54 |
Sn 3,5 |
|
Fe 2.893 |
Zn 254 |
|
K 3.000 |
As (Dissolved) 2 ug/L
10/12/03 |
|
Mg 5.257 |
Ag 1,5 ug/L |
Nhận xét:
1- Nh́n
chung, mẫu nước được lấy ngay giữa
mùa nước nổi (nước lớn) do đo có ḍng
chảy mạnh. Độ pH kiềm (7,55) và lượng
Chloride thấp (11 mg/L) chứng tỏ hiện tượng
nhiễm mặn không xảy ra tại đây trong mùa
nầy.
2- Lượng
COD (0,6 mg/L) và TOC (7,4 mg/L) cho thấy có sự hiện
diện của các hợp chất hữu cơ với hàm
lượng thấp. Điều nầy có thể
được giải thích là do sự hiện diện
của chất hữu cơ trong chất phế thải
của vô số bè cá nằm răi rác từ Tân châu và Châu
đốc đổ về. Chúng tôi không thể phân tích các
hợp chất hữu cơ
(trên 300 chất) bằng phương pháp EPA 8260 và 8270 (GCMS)
được v́ phương pháp bảo quản mẫu
không đúng với tiêu chuẩn quy định.
3- Lượng
Nhu cầu oxy (DO) để đo sự hiện diện
của oxy trong nước (điều kiện để
cá tôm có thể sống được) cũng không thể
đo đạc v́ mẫu nước đă vượt quá
hạn cho phép phân tích (24 giờ).
4- Lượng
Phosphate (PO4 3-), Sulfate (SO4=), Nitrate (NO3-) hiện diện
rất ít hay không được khám phá chứùng tỏ
mẫu nước trên không bị nhiễm phân bón
đến từ nông nghiệp.
5- Hàm
lượng thuốc sát trùng, trừ sâu rầy, DDT,
PCBs
.. . ḥan ṭan không hiện diện nơi đây. (DDT
đă được t́m thấy trong một mẫu
nước giếng vào năm 2000 và có hàm lượng 0,11
ug/L, nghĩa là 110 ppt (phần ức 10 -12).
6- Về
kim loại: Nhôm (Al) 0,9 mg/L; Calcium (CA) 26; Sắt (Fe) 2,9;
Magnesium (Mg) 5,3; Natrium (Na) 11,2; Kẽm (Zn) 0,25.. .Hàm
lượng các kim loại trên cho thấy mức độ
nhiễm mặn nhiễm phèn không quan trọng (trong mùa
nầy).
7- Tuy
nhiên, lần đầu tiên, trong khi so sánh kết quả
phân tích Arsenic (As) trong hai phương pháp: As ḥa tan (2 ug/L), và
As tổng cộng (18 ug/L), chúng tôi từ đó có thể
ước tính được hàm lượng của As
hiện diện ở ĐBSCL:
· Từ
hàm lượng của phù sa đo đạc
được là 96 mg/L (TSS), và lưu lượng sông
Cửu long chảy xuyên qua ĐBSCL trung b́nh là 400 tỷ
m3/năm, và phù sa sông Cửu long gồm sulfur sắt (FeS2) và
As kết nối với FeS2 bằng kết nối
chelating (As...FeS2) được tích tụ lại
trong trầm tích của ĐBSCL, th́ ḍng sông nầy đă
để lại 4,6 triệu tấn As hàng năm trên
một diện tích 3,9 triệu hecta của đồng
bằng (vùng Đồng tháp mười chiếm 700.000
hecta). Có thể đây là một con số ước tính
rất quan trọng chưa được t́m thấy trong
các tài liệu nghiên cứu để so sánh, ngay cả
những nghiên cứu trên lưu vực sông Ganges, nơi
xảy ra nạn nhiễm độc As trầm trọng gây
nguy hại trên 40 triệu người dân Bangla Desh.
· Từ
kết quả của As ḥa tan và As tổng cộng, ta có
thể suy ra được tỷ lệ hiện diện
của phân tử (mole) As...FeS2 trong tổng số phân
tử FeS2. Kết quả là trong 1.000 moles FeS2 chứa 0,2
mole As...FeS2 hay tỷ lệ As...FeS2/FeS2 là 1/5.000. Tỷ
lệ nầy sẽ góp phần rấr quan trọng trong
tương lai về phương pháp ước tính
lượng As trong trầm tích của ĐBSCL.
Nên nhớ, trong các báo cáo và
tham luận trong những năm 1999, 2000, 2001 chúng tôi đă
nêu lên sự hiện diện của As trong nguồn nuớc
giếng ở nhiều nơi ở ĐBSCL. Hàm
lượng trung b́nh là từ 8 đến 11 ug/L, có
nhiều nơi đạt đến 35 ug/L như ở
B́nh đại( Bến tre) và G̣ công. Tuy hàm lượng
tương đối c̣n nằm trong định mức an
ṭan theo tiêu chuẩn của LHQ là 10 ug/L, nhưng đây là
một chỉ dấu cho thấy As đăø bắt
đầu xâm nhập vào nguồn nước ở
ĐBSCL nầy.
Theo kinh nghiệm nghiên
cứu vấn nạn nhiễm độc ở Bangla Desh,
As hiện diện trong nguồn nuớc là do việc đào
giếng để có nước sinh hoạt và tưới
tiêu cho nông nghiệp. Và kết quả nghiên cứu đă
chứng minh rằng, việc đào giếng là nguyên nhân
chính phóng thích As ḥa tan vào nguồn nước. Trong khi
đào giếng, các phân tử As...FeS2 (trong phù sa trầm
tích) được tiếp xúc với oxy trong không khí và các
phản ứng hóa học đă tạo ra Arsenite (AsO3-) và
arseniate (AsO4-) ḥa tan trong nước.
Nên nhớ, LHQ qua
chương tŕnh UNICEF đă tài trợ, giúp đở, và
khuyến khích việc đào giếng cho cả nước
Việt Nam từ cuối thập niên 80. Tính đến hôm
nay, chỉ riêng ĐBSCL đă có trên 250.000 giếng đào.
Sư hiện diện của những giếng đóng
nầy ḥan ṭan phá vỡ tập tục từ ngàn xưa
của nông dân ĐBSCL là quen dùng nước mặt và
đánh phèn (khử phù sa) cho sinh hoạt. Thữ hỏi
thảm trạng As trong tương lai có thể đổi
lấy lượng gia tăng nông phẩm do nguồn
nước tưới tiêu từ giếng đào?
Thêm một lần nữa,
đây là một cảnh báo quan trọng để Việt
Nam cần lưu ư hơn nữa trong việc ngăn
chặn và đề pḥng nạn ô nhiễm As trong nguồn
nước ờ ĐBSCL. Chúng tôi được biết,
vào năm 2002, thủ tướng Việt Nam hiện
tại, Phan Văn Khải đă ra chỉ thị cho Bộ
Kế hoạch và Bộ Khoa học, Công nghệ & Môi
trường đứng ra thành lập Uûy ban điều
tra t́nh trạng ô nhiễm As ở ĐBSCL. Chúng tôi cũng
hy vọng được chia xẻ các thông tin khoa học
nầy, nếu có.
Như đă dẫn
giải trong các bài tham luậm về As trước đây,
cấu trúc địa chất của ĐBSCL có thể
khiến cho nạn nhiễm độc As tiến hành nhanh
hơn so với hiện tượng nhiễm độc
ở Bangla Desh (khơang 20 năm sau khi có chương tŕnh
đào giếng ṭan quốc). Thời gian sau 10 năm bị
nhiễm độc As, bắt đầu có những
vết đen trong ḷng bàn tay của nạn nhân. Đây là
chỉ dấu đầu tiên báo hiệu hàm lượng As
đă tích tụ nhiều trong cơ thể. Do đó,
Việt Nam cần phải tiếp cận tích cực
hơn nữa về vấn đề hệ trọng
nầy để khỏi ảnh hưởng đến
nhiều thế hệ về sau.
Đề nghị:
· Cần
chấm đứt ngay việc đào giếng ở
ĐBSCL;
· Giúp
đở và khuyến khích nông dân xử dụng trở
lại nguồn nước mặt, và lưu trử
nước mưa để dùng trong mùa khô cho sinh hoạt
ăn uống (vũ lượng ở ĐBSCL là 2.000
mm/năm);
· Yêu
cầu UNICEF phải chịu trách nhiệm và giúp đở
nông dân ĐBSCL để chống lại nạn ô nhiễm
As như họ đă làm cho Bangla Desh;
· Và
sau cùng, gữi chuyên viên tham dự Hôị nghị thế
giới về As diễn ra hàng năm tại San Diego (Hoa
kỳ) vào tháng sáu để theo dơi, rút kinh nghiệm trong
việc giải quyến vấn nạn ô nhiễm Arsenic.
Mai Thanh Truyết
West Covina, 12/2003
Ghi chú: V́ lư do tế nhị
của vấn đề và t́nh trạng cá nhân của tác
giả, người viết chưa tiện công bố danh
tánh người lấy mẫu và tên pḥng thí nghiệm phân
tích môi trường certified (của EPA) thể theo
đúng thủ tục của một baó cáo có tính cách khoa
học.