Ô NHIỄM THUỐC
SÁT TRÙNG: D D T
Mai Thanh Truyet Ph. D.
Abstract:The widespread and indiscriminate use
of pesticides in
MỤC
LỤC:
·
Nhận
dịnh
·
Thuốc
trừ sâu rầy.
·
Cách
xâm nhập vào cơ thể của thuốc trừ sâu
·
T́nh
trạng ô nhim thuốc trừ sâu rầy tại Việt
·
Ảnh
hưởng và tác động của thuốc trừ sâu
rầy trên cơ thể
·
Đề
nghị giải quyết.
1.
Nhận định
Tin tức từ giới
truyền thông Việt Nam cho thấy rằng hầu như
hàng ngày, trên một phần đất nào đó ở
Việt Nam, từ Bắc chí Nam ... có loan tin về một
vài trường hợp bị ngộ độc chết do
ăn phải thực phẩm có nhiễm thuốc trừ
sâu rầy, hoặc ói mửa v́ ăn phải rau cải
không được rửa sạch và khử trùng ... T́nh
trạng trên đây cho thấy rằng việc sử
dụng thuốc trừ sâu rầy không được
hướng dẫn, nguyên tắc vệ sinh không
được phổ biến và áp dụng thuốc không
đúng qui cách.
Thêm nữa, trước
t́nh trạng kinh tế và xă hội không ổn định
ở Việt Nam hiện tại, chính quyền tỏ ra
bất lực trong việc kiểm soát sản xuất,
nhập cảng, và sử dụng thuốc trừ sâu
rầy và diệt cỏ dại. Tại Sài G̣n hiện có ba
xí nghiệp sản xuất thuốc trừ sâu rầy,
đó là: Xí nghiệp thuốc sát trùng B́nh Triệu, Tân
Thuận và Xí nghiệp thuốc trừ sâu Sài G̣n. Sự
thiếu am tường về mỗi loại hoá chất và
liều lượng sử dụng đă góp phần
đưa dến t́nh trạng ngộ độc nêu trên.
Thêm vào đó, tệ nạn nhập cảng bất hợp
pháp, pha chế thuốc giả v́ lợi
nhuận, tăng thêm t́nh trạng ngộ độc và gây ra
ô nhiễễm môi trường.
2.
Thuốc trừ sâu rầy
Để thấy
được một cách quy mô mức độ nguy
hiểm do sự nhiễm độc v́ các thuốc sát trùng,
thuốc trừ sâu rầy... trên cây cỏ, súc vật và
nhất là nguồn nước dùng cho dân chúng, ta cần làm
sáng tỏ một vài định nghĩa và khái niệm
tổng quát về các loại hóa chất trên..
Dick Irwin, một chuyên gia Hoa Kỳ nổi tiếng về
ngộ độc đă nhận định rằng:
"Hóa chất đă thay thế vi khuẩn và siêu vi
khuẩn trong các nguy cơ cho sức khoẻ con
người. Các bịnh bắt nguồn
từ hóa chất đang trở thành nguyên nhân hàng
đầu trong tử suất của loài người vào
cuối thế kỷ XX và sẽ qua cả thế kỷ
XXI. "
H́nh 1. Pestiides dùng để
tăng năng xuất thu hoạch.
Pesticides là một nhân
tố chính mà nông nghiệp thế giới dùng để làm
tăng năng xuất thu hoạch song
song với việc sử dụng phân bón, từ đó gia
tăng mức sống kinh tế của loài người. Tuy nhiên Pesticides cũng là nguyên nhân của những
thảm trạng khác mà loài người phải trả.
Khi xâm nhập được rồi, các
chất Pesticides sẽ ảnh hưởng đến
sức khoẻ con người và biến đổi môi
trường sống xung quanh một cách khắc nghiệt.
Các tác động của Pesticides trên môi sinh chưa
được khoa học nghiên cứu đúng mức do
đó biện pháp pḥng ngừa và kiểm soát cũng chưa
được sát thực.
Ảnh hưởng lâu dài
của Pesticides trên con người vẫn chưa
được nghiên cứu kỹ lưỡng
trước khi Pesticides được cho phép mang ra sử
dụng. Chỉ sau quá tŕnh sử dụng lâu
dài và các phản ứng phụ phát hiện ra rồi
mới biết ảnh hưởng của các tác hại mà
thôi.
Pesticides nói chung
là các hóa chất độc, phân loại tùy theo khả
năng: Herbicides: Tiêu diệt cây cỏ được
xếp vào loại thuốc trừ cỏ dại.
Insecticides: Tiêu trừ một số côn trùng thuộc
loại thuốc trừ sâu rầy. Fungicides: Tiêu diệt
một số nấm độc hại thuộc loại
thuốc trừ nấm mốc. Ngoài hóa
chất chính cấu tạo thành ba loại thuốc kể
trên, phần phụ gia chiếm tỷ lệ từ 90-98%
của hỗn hợp. Các chất phụ gia này c̣n có
thể là mầm móng của bịnh ung thư
và một số bịnh khác.
3. Cách xâm
nhập vào cơ thể của thuốc trừ sâu rầy
Các thuốc trên xâm nhập
vào cơ thể con người từ nhiều cách khác nhau:
·
hấp
thụ xuyên qua các lỗ chân lông ở ngoài da;
·
đi
vào thực quản theo thức ăn hoặc nước
uống;
·
hoặc đi vào khí quản qua đường hô
hấp.
Tùy theo
vùng sinh sống và cách làm ăn sinh hoạt, con người
có thể bị nhiễễm độc trực tiếp
hay gián tiếp:
·
dân
sống trong vùng nông nghiệp chuyên canh về lúa
thường bị nhiễễm độc qua
đường nước;
·
vùng
chuyên canh về thực phẩm xanh như các loại hoa
màu, bị nhiễễm qua đường hô hấp
nhiều nhất; và sau cùng,
·
dân vùng thị tứ bị nhiễễm khi tiêu thụ
các thực phẩm đă bị nhiễễm độc.
·
Phải
liệt kê thêm một số gia súc và thú rừng ... đă
bị nhiễễm độc, làm người tiêu thụ
khi ăn phải sẽ bị nhiễễm theo
(t́nh trạng này chiếm đa số các vụ
nhiễễm độc ở Việt
4. T́nh
trạng ô nhiễm thuốc trừ sâu tại Việt
Trung Tâm Kiểm Định
Thuốc Bảo Vệ Thực Vật đă báo cáo về
t́nh trạng ô nhiễm thuốc trừ sâu rầy ở
Việt Nam là: "Sau khi rửa sạch nấu chín dư
lượng độc chất trong
thuốc trừ sâu Methamidophos (loại pesticide chứa
phosphat hữu cơ) c̣n lại trong rau tươi vẫn
vượt quá mức cho phép và c̣n có thể gây ngộ
độc. Dư lượng thuốc trên trong cải
ngọt là 315.3 mg/kg; sau khi rửa sạch và nấu chín
cải ngọt, dư lượng thuốc c̣n 0.183 mg/kg,
vượt quá 46 lần mức cho phép ăn
được của một người nặng 50 kg.
Trong kết quả phân tích 256 mẫu rau tại chợ Mai
Xuân Thưởng, Cầu Muối, Bà Chiểu trong năm
1996 cho thấy 57% số mẫu có dư lượng
Methamidophos vượt mức cho phép từ 50 lần
trở lên." (Thông Tấn Xă VN 7/98)
H́nh 2. Đồng Lúa ở DBSCL.
Khó tưởng
tượng hơn nữa là gần đây, một chuyên gia
thuộc công ty cấp nước thành phố HCM cho
biết rau muống được trồng rải rác
khắp các mạng lưới kinh rạch trong thành phố
và được xịt thuốc trừ sâu bằng ...
cặn nhớt xe phế thải.
Nhớt tưới lên cây rau muống có mục đích làm
tăng độ xanh tươi của cây và ngăn
chận sự xâm nhập của sâu bọ !
Các dự kiện trên cho
thấy rằng v́ sinh kế khó khăn thêm nên nhà trồng
tỉa cố t́m đủ phương cách để làm
tăng lợi nhuận. V́ dân trí c̣n quá thấp kém nên các
di hại về sau cho người tiêu dùng không
được lưu tâm. Hơn nữa chính quyền
không đủ khả năng và nhân lực để
kiểm soát mọi vi phạm (hoặc
xem đây là một ưu tiên thấp so với các khó khăn
khác như quốc pḥng, kinh tế, an ninh nội chính v.v.)
Đa số các Pesticides
đang được sử dụng ở Việt
5.
Ảnh hưởng và tác động của thuốc
trừ sâu trên cơ thể.
Bài viết nầy nhằm chú
trọng vào các ảnh hưởng và tác động
ngắn hạn và dài hạn của DDT trên cơ thể con
người cũng như đưa ra một số
đề nghị để giải quyết vấn
đề ô nhiễm nói trên.
DDT [ 1,1,1-trichloro-2,2-bis-(p-chlorophenyl)ethane]
đă được tổng hợp vào năm 1874, nhưng
măi đến 1930, Bác sĩ Paul Muller (Thụy Sĩ )
mới xác nhận DDT là một hóa chất hữu hiệu
trong việc trừ sâu rầy và từ đó
được xem như là một thần dược và
không biết có ảnh hưởng nguy hại đến
con người. Khám phá trên mang lại cho ông giải Nobel
về y khoa năm 1948 và DDT đă được sử
dụng rộng răi khắp thế giới cho việc
khử trùng và kiểm soát mầm mống gây bịnh
sốt rét.
Nhưng chỉ hai thập
niên sau đó, một số chuyên gia thế giới đă
khám phá ra tác hại của DDT trên môi trường và sức
khỏe người dân. Do đó, tại Hoa Kỳ từ năm 1972
DDT đă bị cấm sử dụng hẳn. Tuy nhiên cho đến hôm nay, các nhà chế tạo
Mỹ vẫn tiếp tục sản xuất DDT để
xuất cảng qua Phi châu và các nước Á châu trong đó
có Việt
DDT tuy đă bị cấm
ở Hoa Kỳ từ năm 1972 nhưng đến nay hoá
chất này vẫn c̣n là một vấn nạn cho EPA Hoa
Kỳ ở những vùng nông nghiệp và những vùng quanh
nhà máy sản xuất ra DDT. Hiện tại DDT vẫn c̣n
ngưng tụ nơi thềm lục địa vùng Palos
Verdas (ngoài khơi vùng biển Los Angeles) v́ nhà máy sản
xuất DDT Montrose Chemical, Co. tại Torrance đă thải DDT
vào hệ thống cống rănh thành phố vào năm 1971. Việc xử lư ô nhiễm DDT cho vùng này
ước tính sẽ tốn kém vào khoảng 300 triệu
USD.
Tuy không có số liệu
chính xác về số lượng DDT đang được
sử dụng ở Việt Nam, nhưng tin tức từ
quốc nội cho biết rằng thuốc này vẫn c̣n
đang được áp dụng rộng răi đặc
biệt ở vùng châu thổ sông Cửu Long v́ là vùng có
nhiều sông rạch và nhiều muỗi mồng.
Lượng DDT tích tụ
trong môi trường tăng dần theo thời gian và tùy
liều lượng sử dụng của dân chúng; sau khi
sử dụng DDT vẫn tiếp tục tồn tại
trong nguồn nước, ḷng đất và bụi DDT
vẫn lơ lửng trong không khí ... DDT không ḥa tan trong
nước nhưng ḥa tan trong dung môi hữu cơ và
được EPA Hoa Kỳ xếp vào danh sách các loại
hóa chất phải kiểm soát v́ có nguy cơ tạo ra ung
thư cho người và vật.
Tiếp xúc trực tiếp
vớI DDT làm cho da bị ngứa, khó chịu khi chạm vào
mắt và làm chảy nước mủi khi hít vào. - liều
lượng cao hơn, có thể ảnh hưởng lên
hệ thần kinh và khi trực tiếp tiếp xúc vớI
DDT trong thời gian dài có thể bị sơ gan (dạng
necrosis).
H́nh 3.
Thu hoạch lúạ..
Trẻ con bú sữa mẹ
hay sữa tươi bị nhiễm độc DDT trực
tiếp qua sự hiện diện của DDT trong sữa
tươi hay gián tiếp v́ thức ăn
của người mẹ. Các hiện tượng sau
đây được quan sát trong trường hợp
bị nhiễm DDT từ nhẹ như: nhức
đầu, cảm thấy người yếu dần, tê
các đầu ngón tay ngón chân,
thường hay bị chóng mặt; cho tới nặng
hơn như: mất trí nhớ, sống trong tâm trạng
hồi họp thường xuyên, bị co thắt ở
cơ
ngực, không kiểm soát
được đường tiểu, thở rất khó
khăn và đôi khi bị động kinh. Tệ hại
hơn nữa, nhiều bà mẹ đă bị xảy thai trong vùng ảnh hưởng của DDT.
Nhiều nông dân sống trong những vùng trên đă từng
bị ung thư đường tiêu hóa. Điều nầy đă nói lên tầm quan
trọng của hậu quả của DDT sau một
thời gian sử dụng dài hạn. Nên nhớ,
việc sử dụng hóa chất trên trong một thời
gian dài sẽ làm tăng thêm sức đề kháng của
chính các sinh vật DDT phải tiêu trừ, từ đó
người ta lại phải tăng thêm liều
lượng sử dụng DDT thêm lên!
Gần đây DDT c̣n là
một trong 12 loại hoá chất được các nhà khoa
học thế giới xếp vào hạng Persistent Organic
Pollutants (POPs)- đó là các hạt bụi ô nhiễm hữu
cơ không bị hủy diệt trong không khí. Theo báo Chemical
& Engineering News (7/98), đại diện của 92
quốc gia trên thế giới đă tụ họp tại
Montreal (Gia Nă Đại) để bàn thảo về các
biện pháp như cấm sản xuất và sử dụng
các hoá chất trên v́ lư do độc hại của chúng do
sự tích lủy lâu dài trong không khí, ḷng đất và
nguồn nước, kết tụ vào các mô động
thực vật - nguồn thực phẩm chính của loài
người. Tuy nhiên cuộc hội thảo vẫn chưa
đưa ra một giải đáp xác đáng nào cả v́
c̣n nhiều trở ngại do quyền lợi riêng của
các quốc gia liên hệ. Tuy nhiên thế
giới vẫn lạc quan và hy vọng sẽ đạt
được một hiệp ước toàn cầu
về việc cấm sử dụng các hóa chất trên vào
năm 2000.
Việc sản xuất
Pesticides và một số hóa chất hữu cơ POPs kể
trên đem lại lợi ích kinh tế thật đáng
kể cho quốc gia sản xuất , v́
trên quả đất nầy c̣n hơn ba tỷ
người ở các nước đang mở mang vẫn
c̣n dùng đến các hoá chất trên như "phương
tiện duy nhất để khử trùng và sát trùng".
Do đó việc cấm
sử dụng hoàn toàn các hóa chất trên cần phải
đứng trên b́nh diện thật nhân bản: Các quốc
gia tiên tiến cần hy sinh, giảm đi lợi nhuận,
ngưng cung cấp các hóa chất vốn đă biết là
độc hại này, và nhận trách nhiệm nghiên cứu
giúp các nước kém mở mang t́m ra các hóa chất hay
phương sách khác tốt hơn để khử trùng,
trừ sâu rầy và diệt cỏ dại...
6.
Đề nghị giải quyết
Ngành công nghệ sinh học
(Biotechnology) đang được nghiên cứu và áp
dụng rộng răi ở các nước tiên tiến sẽ
là biện pháp hữu hiệu nhất để kiểm
soát cỏ dại và sâu rầy. Công nghệ này áp dụng phương
pháp cấy mô hay tế bào vào cây cỏ hay động
vật để tạo ra kháng thể tự nhiên cho các
thế hệ về sau do đó cây cỏ và gia súc sẽ
được miễn nhiễm và từ đó cho năng
suất cao ...
Trở lại t́nh trạng
Việt Nam hiện tại, như đă tŕnh bày ở
phần trên và với cái nh́n tích cực hướng về
tương lai, một số đề nghị để
giải quyết vấn nạn sử dụng thuốc
trừ sâu rầy bừa băi, không đúng liều
lượng được lần lượt tŕnh bày sau
đây:
Trước hết về
phía chính quyền, phải lưu tâm hơn nữa về
vấn đề kiểm soát chặt chẽ việc
sản xuất và nhập cảng hóa chất liên hệ,
chận đứng việc nhập cảng bất hợp
pháp ... kiểm kê và kiểm tra các hóa chất sử dụng
để bào chế thuốc cũng như liều
lượng hóa chất nhập cảng và phân phối cho
từng vùng. Biết được lượng thuốc
và loại thuốc sử dụng ở từng vùng sẽ
mang lại một lợi ích rất lớn là khi có ngộ
độc cá nhân hay tập thể, việc tích trữ
thuốc chữa, truy t́m nguyên nhân sẽ dễ dàng hơn,
việc cứu cấp được nhanh chóng hơn và có
thể pḥng ngừa, hạn chế hay chặn đứng
được các vụ nhiễễễm độc
đó.
H́nh 4. Lúa được thu hoạch.
Phổ biến những tài
liệu chỉ dẫn dểễ hiểu về từng
loại hóa chất, cách dùng và liều lượng áp
dụng cho từng loại hoa màu và gia súc (mức ấn
định sử dụng DDT theo tiêu
chuẩn EPA Hoa Kỳ là < 2.5% tinh chất). Từ
đó người dân được học hỏi và
biết dùng hóa chất trong đời sống hàng ngày,
nhất là đối với dân sống ở nông thôn ít
được tiếp xúc với thành phố v́
phương tiện giao thông bị hạn chế.
Về phía người dân,
cần phải vứt bỏ những định kiến
sai lầm đă có từ đời này
sang đời khác trong cách dùng
thuốc, bỏ các thói quen để chấp nhận
phương cách mới hầu thâu đạt năng
xuất sản xuất, giảm thiểu việc sử
dụng thuốc bừa băi và không hợp lư để
bảo vệ môi trừơng sống của chính ḿnh và
những người chung quanh.
Sử dụng thuốc khi
thật sự cần thiết và đúng thời
điểm tùy theo sự tăng
trưởng của từng loại nông phẩm hoặc
gia súc nhằm tránh lạm dụng và ảnh hưởng
đến năng suất.
Và sau hết để
bảo vệ sức khoẻ, cần cố tránh tiếp
xúc trực tiếp với thuốc để thuốc
khỏi phải thấm vào da thịt, và cố tránh việc
dùng thuốc gần các nguồn nước sinh hoạt hàng
ngày. Nên
nhớ dù DDT không ḥa tan trong nước nhưng những
hạt bụi li ti vẫn có thể lơ lửng trong
nước hay trong không khí hoặc trong đất và
rất dểễ xâm nhập vào cơ thể con
người.
Việt
Mai Thanh Truyết 9/98