Giải Quyết Ô Nhiễm Môi Trường
Trong thế kỷ 21
Mai Thanh Truyet, Ph.D.
Tiến bộ khoa
học cùng với việc phát minh nhiều công nghệ mới trong thế kỷ 20 đã cho ra đời
nhiều ứng dụng hầu thỏa mãn nhu cầu mà con người cần đến hay nghĩù đến. Con
người ngày càng chìm đắm trong những khám phá mới, tìm thêm nhu cầu mới, dù cần
thiết hay không cần thiết cho cuộc sống. Cuộc chạy đua do chính con người đặt
ra dừơng như không có điểm đến! Và hơn nữa, cuộc đua nầy càng kích thích thêm
tham vọng ngự trị của con người, càng làm tăng thêm ngã vọng đến một mức độ khó
kềm chế nỗi.
Với các khả năng khoa học hiện có,
con người hầu như làm chủ thiên nhiên trong việc chế tạo các sản phẩm mới để
phục vụï cho nhu cầu của nhân loại.. Đôi khi những nhu cầu đó hoàn toàn không
cần thiết và vô ích nếu không nói là làm thoái hóa thêm quá trình phát triển
của con người.
Con người ngày càng sử dụng và tổng
hợp nhiều hóa chất khác nhau để kiến tạo ra những sản phẩm theo ý muốn hay theo
thị hiếu mới, và dĩù nhiên, trong hóa trình tổng họp hay phản ứng sẽ nảy sinh
một số sản phẩm phụ không cần thiết. Chính những chất không cần thiết nầy sẽ
trở thành những vấn nạn cho đời sống con
người. Do đo,ù con người bị bắt buộc phải giải quyết hay xử lý....
Vì thế, vấn đề Sinh (sản xuất ra sản
phẩm mới) và Diệt (xử lý các sản phẩm phụ, không cần thiết hay độc hại) là một
hiện tượng tuần hoàn, xoay dần liên tục trong đời sống con người. Con người cố
khai triển trí thông minh tối đa của mình đểá tạo ra nhu cầu mới thì đồng thời
cũng cần phải nặn óc nhiều hơn để xử lý các phế phẩm độc hại. Và, nếu nói theo
tinh thần Phật giáo, con người càng chạy theo cái NGÃ của mình thì phải gánh
chịu cái NGHIỆP càng nặng.
Sự cân bằng của vạn vật đã được sắp
xếp theo một thứ tự nào đó của thiên nhiên. Từ ngàn năm trước nếu nhìn lại, khi
khoa học chưa phát triển nhiều và con người có một hiểu biết rất hạn chế, thiên
nhiên vẫn ưu đải và tạo dựng ra một đời sống tương đối an lành cho con người.
Số mầm bịnh không nhiều so với hiện tại, và sự xuất hiện những mầm bịnh mới
chính là sản phẩm của khoa học và con người. Con người đã lạm dụng khoa học, và
với mặc cảm tự tôn, họ tin rằng sẽ chiến thắng được thiên nhiên, kiểm soát
thiên nhiên, và luôn cố gắng thỏa mãn lòng kiêu hãnh của mình qua việc chinh
phục thiên nhiên.
Tuy nhiên cuối cùng, thiên nhiên đã
đáp lại rằng, hãy còn quá nhiều ẩn số mà con người chưa thể giải đáp được!
Thiên nhiên đã vận hành tuần hoàn, có chu kỳ thời tiết mưa, nắng, bão,
lụt...cho từng khu vực trước kia; nhưng hôm nay, con người đã làm đão lộn các chu
kỳ trên một cách không kiểm soát nổi!
Hiện tựơng hạn hán, bão lụt xẩy ra
thừơng xuyên hơn không còn theo một chu kỳ tuần hoàn nào có thể tiên liệu như
trước kia cách đây vài thập niên nữa. Bầu khí quyển tiếp tục nóng dần và có
khuynh hướng tăng trưởng nhanh hơn theo thời gian. El Niùno là hiện tượng nước
biển bị hâm nóng theo chu kỳ tự nhiên khoãng tám đến mười năm vào các thập niên
trước; nay chu kỳ trên đã bị thu ngắn lại và không có những dấu hiệu báo trước
rõ ràng như xưa kia nữa. Một thí dụ căn bản giải thích hiện tượng lũ lụt ở miền
Nam Việt Nam qua việc đào kinh, đấp đê không hợp lý của con người đã làm đão
lộn tất cả chu kỳ vận hành của sông Cửu Long. Ngày xưa khi mực nước đo đạt được
ở Tân châu lên đến 2,5 mét, mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ mới bắt
đầu. Nhưng trong những năm gần đây, với mực nước tương đương miền ĐBSCL đã bị
ngập lụt và mức độ ngập lụt hầu như xảy ra hàng năm so với chu kỳ hàng chục năm
trước kia.
Tóm lại, con người càng thách thức
thiên nhiên càng phải gánh thêm nhiều hậu quả không thể lường trước đựơc!
Thiên nhiên hay môi trường sống của
con người tự nó đã được sắp xếp theo một hợp lý nào đó và còn quá nhiều ẩn số mà con người chưa đủ
khả năng để lý giải thì làm sao có khả năng để hàng phục thiên nhiên được. Do
đó, càng vận dụng khả năng của mình để thách đố, khiêu khích thiên nhiên, con
người càng đi vào ngõ cụt, không lối ra. Và hôm nay, con người đang đi gần đến
chỗ bế tắc hơn nữa khi tìm cách giải quyết những vấn nạn môi sinh trên thế giới
do chính con người tạo ra: - bầu khí quyển bị ô nhiễm đến mức báo động, - nguồn
nước sinh hoạt bắt đầu cạn kiệt về lượng cũng như không còn trong lành về phẩm
như xưa nữa, - và lòng đất sinh sống của con người ngày ngày càng bị thu hẹp do
ô nhiễm, sa mạc hóa, sự chai đất v.v.. .
Do đó, công việc truy tìm một phương
hướng để giải quyết vấn đề ô nhiễm hiện nay quả là một nan đề cho bất cứ nhà
khoa học nào có lương tâm và có một tầm nhìn đúng đắn về dự phóng tương lai.
Dùng khoa học hay kỹ thuật thuần túy để giải quyết ô nhiễm môi trường đã gặp
những bế tắc vì con người đã và đang đi vào một chu kỳ không lối thoát do việc
xử lý và tái tạo ô nhiễm vẫn tiếp diễn liên tục. Từ ngàn xưa, trong khi rao
giảng đạo Từ Bi, Phật Thích Ca đã gợi ý, dùng thiên nhiên để giải quyết và điều
chĩnh những vấn nạn của thiên nhiên (do con người gây ra!). Ngài đã nhắc nhở
rằng mọi sinh vật, kể cả cây cỏ đều có một đời sống riêng, góp phần vào sự hài
hòa của thiên nhiên và nếu hủy diệt một mầm sinh vật nào đó, có thể làm đảo lộn
sự hài hòa ấy. Do đó, nguyên lý dùng thiên nhiên để giải quyết các vấn
nạn của thiên nhiên sẽ là một suy nghiệm căn bản và cấp bách có thể được xem
như là một căn bản vững chắc cho mọi phương pháp xử lý ô nhiễm môi trường trong
hiện tại và tương lai.
Trong chiều hướng đó, các nhà khoa
học đã tìm về thiên nhiên để suy nghiệm và giải lý từ các chu kỳ tuần hoàn của
cây cỏ để đưa ra các phương pháp thích nghi cho việc xử lý ô nhiễm môi trường.
Nguyên lý SINH - DIÊT của Phật giáo có thể đem ra áp dụng ở trường hợp nầy để
mang lại sự cân bằng cho hai nhu cầu trên. Vì vậy, trong thiên niên kỷ thứ ba
nầy, nhiệm vụ chính yếu của các nhà làm khoa học trên thế giới là: 1- phải tập
trung trí tuệ để bảo vệ và tái tạo sự tuần hòan nguyên thủy của thiên nhiên, 2-
nghiên cứu những công nghệ sạch để thay thế nguồn các năng lượng đang xử dụng
hiện tại, 3- truy tìm các giải pháp thiên nhiên để giải quyết vấn nạn ô nhiễm
trên thế giới.
Những thành quả ban đầu trong việc
làm sạch bầu khí quyển, phục hoạt đất và duy trì nguồn nước sạch đã được bắt đầu
và có những thành tựu đáng kễ sau đây.
Làm sạch bầu khí quyển: Trong quá trình sản xuất năng
lượng cho nhu cầu của con người trên thế giới, thán khí hay carbon dioxide (CO2)
đã được thải hồi vào không khí do việc thiêu đốt than, dầu khí, khói xe, nhà máy
v. v.. . Và thán khí là một thành tố quan trọng nhất trong việc góp phần vào sự
hâm nóng tòan cầu. Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa kỳ (EPA) và Bộ năng lượng
(DOE), kễ từ khi cách mạng kỹ nghệ tơàn cầu bắt đầu khoảng 200 năm trước đây
thì lượng thán được khí thải hồi vào bầu khí quyển tăng từ 280 mg/L lên 370
mg/L. Hoa kỳ cũng đã ước tính trong vòng 20 năm tới, lượng khí nầy sẽ tăng lên
43%. Do đó, nhu cầu thiết yếu hiện tại là phải tìm một phương cách tối ưu để
giảm thiểu lượng thán khí nầy.
Nguyên tắc căn bản được các nhà khoa
học lưu ý đến là làm cách nào “nhốt” thán khí lại và chuyển hoá khí nầy thành
than và nước. Nhiều phương pháp đang được thí nghiệm như sau:
1-
Thán
khí sẽ được bơm vào phía dưới các lớp đất đá nằm sâu trong lòng đất, hoặc bơm
vào các rừng rậm để cho cây cỏ hấp thụ và biến cải thành oxy và carbon.
2-
Thán khí từ các nhà máy sẽ được hoá lỏng và
bơm thẳng vào lòng biển sâu độ 1000 mét xuyên qua hệ thống có chứa chất sắt để
tạo ra nguồn “phân bón” cho các loài phytoplankton như phiêu, tảo, và vi khuẩn
sống trong nước biển có khả năng đổng hóa diệp lục tố như cây cỏ trong không
khí. Các sinh vật nầy sẽ hấp thụ thán khí và phóng thích dưởng khí (O2)
vào nước biển. Phương pháp nầy đã được đem vào ứng dụng ở vài nơi khi nghị định
thư Kyoto ra đời năm 1997 qua cam kết tự nguỵên của các quốc gia phát triển
trên thế giới là giảm thiểu mức thải hồi thán khí và lấy định mức thải hồi của
năm 1990 làm tiêu chuẩn. Theo Peter Brewer, khoa học gia ở Monterey Bay
Aquarium & Research Institute thì hiện tại có khoảng 20 triệu tấn thán khí
“đi vào” biển hàng ngày, di chuyển và trôn lẫn với nước biển ở dưới sâu tạo
thàng những luồng nước có nồng độ thán khí thật cao. Luồng nước nầy di chuyển
và hòa tan theo thời gian để cuối cùng biến mất trong lòng đại dương. Từ khái
niệm đó, vào cuối thập niên 90, các hảng dầu của Na Uy đã bơm thẳng thán khí
vào lòng biển để khỏi phải trả tiền thuế do việc thải hồi vào không khí theo
quy định của nước nầy.
3-
Các
phương pháp vi sinh cũng được khoa học
gia ở đại học MIT và Harvard nghiên cứu đến qua việc dùng vi khuẩn
Prochlorococcus. Vi khuẩn nầy hiện diện trong nước biển và có nhiệm vụ hấp thụ
và biến thán khí thành than. Mục đích của cuộc nghiên cứu là làm cách nào để
tăng lượng vi khuẩn trong nước biển nhanh chóng để làm tăng thêm tiến trình
biến đổi trên.
Biến cải đất và làm sạch nguồn nước: Cho đến hiện nay, phương pháp
thông dụng nhất để biến cải các vùng đất đã bị ô nhiễm là đất sẽ được đào xới
lên và đem đi chôn ở một nơi khác. Việc làm nầy chính là việc di chuyển “ô nhiễm”
từ một điểm A đến điểm B, chứ không phải là một phương pháp xử lý ô nhiễm. Do
đo,ù từ hơn một thập niên trở lại đây, việc nghiên cứu các vi khuẩn có khả năng
hấp thụ các chất hữu cơ và kim loaị độc hại phế thải trong kỹ nghệ là mục tiêu
cấp bách của các khoa học gia trên thế giới.
Năm 1994, Terry Hazen đã dùng kỹ
thuật thổi mạnh vi khuẩn trộn lẫn với các khí (bio-sparging) vào lòng đất sâu
dưới đáy sông Savannath, South Carolina vì nơi đây đã bị ô nhiễm
trichloroethylene (TCE), một dung môi căn bản dùng trong việc rữa dầu mở bám
vào máy móc. Vi khuẩn xử dụng có tên là Methylo sinus trichosporium được trộn
lẫn với khí methane có công dụng biến cải TCE thành thán khí. Chỉ trong vòng 2
năm, phương pháp sinh thoái hóa nầy (bio-degradation) đã làm sạch lòng sông kễ
trên.
Thêm nữa, các phương pháp vi sinh
kích thích (bio-stimulation) dùng loại vi khuẩn thích hợp cho từng loại hóa
chất làm ô nhiễm như chromium (trong kỹ nghệ hạch nhân để chống lại sự hao
mòn), PCBs (trong kỹ nghệ điện và bán dẫn). Song hành với những phương pháp vi
sinh, phương pháp dùng thiên nhiên để giải quyết ô nhiễm được đặc biệt lưu ý
trong những năm gần đây. Các khoa học gia trên thế giới đã nghiên cứu trên 350
chủng loại thực vật có khả năng hấp thụ các kim loại và nguyên tố độc hại như
arsenic, cadmium, selenium, và các hợp chất chứa chlor, nguyên nhân của các mầm
bịnh ung thư.
Cây hướng dương có khả năng hấp thụ
phóng xạ trong nước và đất đã được dùng để biến cải vùng đất ô nhiễm sau tai
nạn ở nhà máy nguyên từ ở Chernobyl, Ukraine. Một loại cỏ ở vùng Alpine có khả
năng hấp thụ kẽm trong đất. Cây bạch dương (poplar) hấp thụ TCE, tetrachloro
methane.. . Một loài sậỵ duckweed hấp thụ nitrate. Cây bồ tạt (mustard) thuộc
họ Thlaspi goesingense có khả năng hóa giải nickel. Lena Q. Ma thuộc đại học
Florida đã thành công trong việc dùng cây dương xỉ Pteris Vittata để hấp thụ
arsenic trong đất. Người viết cũng đã thí nghiệm với cây dương xỉ thuộc ho
ïNephrolepis Obliterata bằng cách bơm lượng arsenic vào trong đất, và sau một
tuần lễ phân tích lượng arsenic còn lại trong đất và lượng hóa chất nầy trong
lá cây. Kết quả rất khích lệ. Cây dương xỉ thuộc họ Rán nầy đã mọc dọc theo
sông rạch miền Nam Việt Nam và đã được người dân ĐBSCL dùng làm rau ghém trộn
lẫn các rau khác.
Sau hết, các loại nhuyễn thể như ốc,
hến, hào trong biển cả cũng được chiếu cố đến và là một trợ thủ đắc lực trong
việc làm sạch nguồn nước biển được ví như là những máy lọc thiên nhiên
(nature’s filter). Trong gần 20 năm, National Oceanic & Atmosphere
Administration đã theo dõi những vùng bị ô nhiễm dọc theo bờ biển Hoa kỳ, đã
chứng minh được rằng từ năm 1986 trở đi, lượng DDT và PCBs ở vùng Palos Verdes
, California (vùng bị ô nhiễm DDT nặng từ năm 1973) trong cá đã giảm dần dần
theo thời gian do sự hấp thụ của các loài kễ trên.
Chúng ta đang bước vào thiên niên kỷ
thứ ba, con người có hai nhu cầu chính yếu: 1/ nhu cầu phát triển và sản xuất
sản phẩm để sinh tồn, và 2/ nhu cầu giải quyết các phụ phế phẩm để làm sạch môi
trừờng do nhu cầu phát triển tạo ra. Hai nhu cầu nầy cần phải đựơc tính toán để
có được sự cân bằng môi trường và phải được thử nghiệm kỹ lưỡõng để khỏi bị
trấn áp lẫn nhau vì bất cứ lý do gì.
Tiến trình làm sạch thiên nhiên, trả
lại thiên nhiên những nguồn nước trong lành, bầu khí quyển tươi mát, bão vệ
những cánh rừng nơi trú ngụ của các thú vật sắp bị tiệt chũng, bớt phí phạm
những nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới nhất là nguồn nước ngọt... là
bổn phận và trách nhiệm của mọi người trên hành tinh nầy. Con người đã từng tự
nhận là một sinh vật thượng đẳng do đó không thể từ chối bổn phận trên được.
Mỗi người trong chúng ta, nếu ý thức
được điều đó, biết gìn giữ và bão vệ môi trường sống chung quanh mình, đó là
một phương cách an toàn và nhân bản nhất để bước vào thiên kỷ thứ ba. Và hơn
nữa, có làm được như thế, chúng ta mới hoàn trả lại một phần nào món nợ mà
chúng ta đã vay mượn trước của các thế hệ sau do việc đã làm suy thoái môi
trường và phí phạm tài nguyên trong quá trình phát triển kỹ nghệ để phục vụï
con người trong suốt thời gian qua.
Mai Thanh Truyết
West Covina 8/2003