Trên thế
giới ngày nay, giống Homo Sapiens hay con người chiếm cứ hầu hết khắp nơi trên
mặt địa cầu với 6,2 tỷ người và có khả năng gia tăng 80 triệu nhân khẩu mỗi
năm. Không nơi nào không có dấu chân người. Ước tính
đến năm 2050, thế giới sẽ chứa tổng cộng trên 10 tỷ, trong đó dân số trong 48
nước nghèo nhất sẽ tăng gấp ba lần trong khoảng thời gian nằy.
Để có thêm khái niệm về tình trạng nước trên thế giới, xin đan cử ra đây
vài số liệu cần nên biết. Tổng sản lượng nước trên thế giới
gồm: 97,5% nước biển (mặn) và chỉ 2,5% nước ngọt.
Trong 2,5% nầy chỉ có 0,4% nước mặt gồm sông ngòi, ao hồ và hơi nước trong
không khí, 30,1% nước ngầm, và phần còn lại là những tảng băng trải rộng ở Bắc
và Nam cực. Và sau cùng trong 0,4% nước mặt đó, có 67,4% nước ao hồ, 1,6% sông
ngòi, 12,2% nước đã thấm vào đất, 9,5% hơi nước trong không khí, và phần còn
lại gồm các vùng đất ngập nước (wetland). (dữ kiện từ
National Geographic 9/02).
Sự phân bổ
nước trên thế giới hoàn toàn không đồng bộ do điều kiện địa lý từng vùng, sự
lạm dụng của những quốc gia kỹ nghệ, và sự “nhắm mắt làm ngơ” không giúp đở các
quốc gia nghèo đói của các “nước lớn”. Theo ước tính, có 70% lượng nước trên
thế giới được xử dụng cho nông nghiệp, 20% cho kỹ nghệ, và 10% cho sinh hoạt
gia đình. Hàng ngày, trong nhiều vùng ở Phi Châu, phần đông cư dân không có hơn
một lít nước dùng cho sinh hoạt cá nhân; trong lúc đó ở Hoa kỳ, mức tiêu thụ
nước cho mỗi người dân có thể lên đến 700 lít cho một ngày.
Thêm nữa,
sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu cần phải phát
triển nông nghiệp, do đó việc tận dụng nguồn nước, nhất là nước ngầm sẽ là một
nguy cơ làm cạn kiệt nguồn nước trong tương lai. Trước mắt, các quốc gia đang
phát triển phải trực diện với nạn gia tăng dân số vì không có khả năng ngăn
chặn mức sinh sản của người dân, các nước nầy sẽ là những nạn nhân đầu tiên của
nạn khan hiếm nguồn nước. Để có khái
niệm rõ thêm về vấn đề nước, thiết nghĩ cũng cần nên biết về những yêu cầu đòi
hỏi cho nước “sạch” và tiêu chuẩn cần có để bảo vệ sức khỏe của người tiêu
dùng.
Nước là
một nhu cầu không thể thiếu của con người. Trung bình nước
chiếm độ 75% trọng lượng của cả cơ thể. Nói về nước “sạch”, theo định
nghĩa, nước sạch là nước chỉ chấp nhận sự hiện diện của các hợp chất hữu cơ,
kim loại và các ions hòa tan với một vi lượng rất nhỏ tuỳ theo độc chất của các
chất kễ trên. Và định mức nầy đã được Liên hiệp quốc cũng như các quốc gia trên
thế giới chấp nhận tùy theo điều kiện phát triển của
từng quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn cho nước uống ở các
nơi cũng gần giống nhau. Căn cứ theo Code of
Federal Regulations thuộc EPA Hoa kỳ, các tiêu chuẩn cần có cho nước uống gồm:
·
Ions: nồng độ của Fluor trong nước không được quá
2mg/L; Chlor, 250 mg/L; Sulfate, 250 mg/L; Nitrate, 45 mg/L….. .
·
Kim loại: Aluminum, 0,2 mg/L; Antimony, 0,006 mg/L;
Asenic, 0,010 mg/L; Chromium, 0,050 mg/L; Thủy ngân, 0,002 mg/L; Nickel, 0,100
mg/L; Selenium, 0,050 mg/L; Đồng, 1,0 mg/L; Sắt, 0.3 mg/L; Manganese 0,050
mg/L; Bạc, 0,100 mg/L; Kẽm, 5.0 mg/L.
·
Ngòai ra, tiêu chuẩn còn có ghi thêm trên 100 hợp
chầt hữu cơ với hàm lượng cho phép hiện diện trong nước rất thấp tính từ phần
tỷ đền phần ức (ppb và ppt).
·
Về các yếu tố vật lý thì độ dẫn điện (specific
conductance) không được vượt quá 900 microhmos. Lượng chất rắn hòa tan (TDS)
cũng không được quá 550 mg/L.
·
Cũng cần phải kễ thêm tiêu chuẩn vi
sinh, tức mức E-coli không quá 23 MPN/100mL (most probable number-MPN).
Nói chung,
nước được gọi là sạch và hợp vệ sinh khi đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu trên
và có độ pH trong khoảng từ 6,5 đến 7,5 (pH trung hòa
trong nước là 7,0).
Các dữ
kiện trình bày sau đây được căn cứ vào tài liệu “Số liệu chất lượng nước 1985 –
1997” do Trung tâm Chất lượng Nước và Môi trường thực hiện trong dự án Gíam sát
Hạ lưu Lưu vực Mekong thuộc Uûy ban Mekong Quốc gia cho ĐBSCL. Đối với miền
Đông Nam Việt, các dữ kiện nêu ra được lấy từ báo chí ở Việt
Trong
khuôn khổ hạn hẹp của buổi phỏng vấn, chúng tôi chỉ nêu ra hai trường hợp điển
hình ở khu Tứ giác Long xuyên va vùng Cà Mau từ đó có thể suy diễn ra các vùng
chung quanh cùng chịu chung ảnh hưởng
của môi trường trong vùng ĐBSCL.
Nhìn
chung, vùng ĐBSCL chưa bị ảnh hưởng nhiều của việc phát triển kỹ nghệ do đó mức
ô nhiễm hữu cơ và vi sinh
không đáng kễ. Tuy nhiên, do việc xử dụng thuốc bảo vệ thực vật
và phân bón quá tải cho nông nghiệp, nứơc ở nhiều vùng đã có chỉ dâu ô nhiễm thuốc DDT và nitrate.
Các tiêu
chuẩn nêu ra sau đây dùng để lượng định khái quát phẩm chất nước ở vùng nấy là : Độ oxy hòa tan (Dissolved oxygen – DO), Chlor, và pH.
Ngoài ra các dữ kiện khác như: Tổng lượng chất rắn hòa tan (Total Dissolved
Solids-TSS), Sulfate, Phosphate, Calcium, Magnesium, Natrium, Kalium, Aluminum,
và COD (chemical oxygen demand).. . cũng
đã được phân tích, nhưng kết quả vẫn còn ở mức độ chấp nhận được cho nên không
cần phải thảo luận nơi đây.
·
Trước hết, Độ oxy hòa tan (DO) có khuynh hướng giảm
dần từ mùa nước nổi so với mùa khô, giảm theo thủy
triều lên và xuống, cũng như giảm theo thời gian tính từ 1985 trở đi. DO trung
bình trong nước là 7.8 mg/L. Trong những tháng khô, có nơi DO xuống thấp còn
0,4 (nếu DO xuống dưới 3,0 mg/L các nguồn sinh vật như tôm cá sống trong nước
có nguy cơ bị chết ngộp). Điều đáng quan ngại hơn cả là DO giảm theo thời gian,
và nếu hiện tượng nầy
tiếp tục thì hệ luận tự nhiên là khối lượng tôm cá trong nguồn nước ở vùng nầy
có thể bị “diệt chủng”!
·
Độ chlor trong nước: Nồng độ chlor cũng thay đổi theo
mùa nước nổi (tháng 8,9,10,11), và mùa khô (tháng
2,3,4,5). Trung bình vào mùa khô nồng độ chlor thay đổi từ 20,000 đến 80,000 mg/L, so
với mùa nước là 5,000 – 10,000 mg/L. Trong những năm sau 1985, nồng độ Chlor có khuynh
hướng tăng dần và điều nầy đã được chứng minh là hiện nay mức độ nhiễm mặn đã
đi vào sâu trong đất liền, có nơi sâu hơn 80 cây số so với khoảng độ 20 cây số
mười năm trước đây. Vấn đề nầy ảnh hưởng không nhỏ đến việc giảm thiểu diện
tích đất dùng cho nông nghiệp.
·
Độ pH cũng giãm theo mùa nước nổi , trung bình từ 7,0
đến 7,5, so với mùa khô , từ 5,0 đến 6,0.Tuy nhiên, trong mùa nầy có nhiều nơi
pH hạ xuống thấp đến dưới 3,0, và vơiù mức độ nầy thì tôm cá khó sống sót được.
Ngược lại
với vùng ĐBSCL, miền Đông Nam Việt chịu áp lực nặng nề của việc phát triển kỹ
nghệ, do đó hầu như tòan thể sông Sài gòn, sông Đồng Nai từ hồ Trị An về hạ
lưu, sông Thị Vải, Vàm Cỏ Đông đều đã bị ô nhiễm nhất là ô nhiễm vi sinh (gấp
ngàn lần hơn tiêu chuẩn cho phép) và hữu cơ.
Đặc biệt các dòng kinh chung quanh thành phố
HCM và Biên hòa hòan tòan bị ô nhiễn nặng và không còn thấy dấu vết của tôm cá
trong nguồn nước. Cũng cần nên nhắc thêm là, hiện nay chính quyền đang cho mở
mang vùng Saìgòn Nam và vì không lưu ý đến hệ thống thoát nước và xử lý nước
sinh hoạt, các kinh đào vùng nầy đã bắt đầu bị ô nhiễm tương tự như kinh Nhiêu
Lộc và các con kinh liên hệ. Dự kiến trong một tương lai gần thì thành phố
Sàigòn
Theo báo
cáo mới nhất của Sở KHCN & MT thành phố HCM (
Nguồn nước ngầm của vùng Sàigòn cũng bị ảnh hưởng nặng. Nhiều
giếng đóng trong vùng không còn được xử dụng được nữa vì trong nước có chứa quá
nhiều chất hữu cơ và kim loại nặng như manganese, chì, thủy ngân và chrom..
Tóm lại, các chỉ dấu trên đây cho thấy tình trạng ô nhiễm trầm trọng ở
các sông ngòi miền Nam Việt
Có rất
nhiều nguyên nhân ô nhiễm ảnh hưởng đến phẩm chất nước; tùy theo
điều kiện từng vùng trong phát triển, ô nhiễm tác động lên nguồn nước khác
nhau. Vùng ĐBSCL chịu áp lực của việc khai thác nông nghiệp
và kỹ nghệ tôm cá cho nên đặc tính ô nhiễm có sắc thái khác hơn miền Đông Nam
Việt, chịu nhiều áp lực của phát triển kỹ nghệ.
·
Việc phá rừng: Theo báo cáo 2002 của Chiến lược Quốc
gia Bảo vệ Môi trường (National Environmental Protection Strategy) do Ngân hàng
Thế giới bảo trợ thì trong 5 thập niên vừa qua lượng rừng bao phủ cả nước giảm
từ 43% xuống còn 29%. Việc nầy ảnh hưởng nặng nề đến nguồn nước trong lòng đất.
Một thí dụ điển hình và gấn đây nhất, nước sông Hương trở nên vẫn đục nhiềy
ngày và có độ COD cao, TSS, TDS cao cũng như độ pH. Chưa bao giờ nước sông
Hưong bị nhiễm mặn như lúc nầy, và hầu như tòan thể dân chúng thành phố Huế
được phân phối nước uống bằng xe bồn trong nhiều ngày
(tháng 8/02). Tại vùng Ca øMau và Bạc Liêu, dực theo
ước tính từ không ảnh chụp được qua vệ tinh năm 1999, diện tích rừng tràm đước
(mangrove forests) đã bị phá hủy độ 250.000 hecta dùng cho việc nuôi tôm. Và
không ảnh cũng cho thấy khoảng độ 50% diện tích trên đã bị bỏ hoang vì không
còn khai thác được nữa. Cũng theo báo cáo trên trong
vòng 5 thập niên trở lại đây ở vùng nầy Việt
·
Nhiễm mặn, nhiễm phèn, và sự acid hóa: Nguồn nước
vùng ĐBSCL đã bị nhiễm mặn và acid hóa trầm trọng nhất là mùa khô như đã nói ở
phần trên. Miền Đông Nam Việt cũng đã bị ảnh hưởng tương tự. Theo tin tức mới
nhất tại tỉnh Đồng tháp (
·
Vấn đề đào giếng: Việc đào giếng để có nước sạch do
UNICEF (LHQ) cổ vũ đã là một vấn nạn cho ĐBSCL. Việc làm nầy đã khuyến khích
nông dân tăng gia phát triển và tận dụng nguồn nước trong nông nghiệp và chăn
nuôi. Hệ quả trước mắt là, ngoài việc nhiễm độc arsenic trong nguồn nước cũng
như mạch nước ngầm cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Tại Trà Vinh, theo báo cáo tháng
2/2000, đã có 41.512 giếng khoan, và việc tận dụng nguồn nước đã làm mực nước
ngầm giảm từ 2 đến 2,5 thước. Thêm nữa, lượng sắt và ô nhiễm vi
sinh tăng gấp 200 – 300%.
·
Vấn đề thủy lợi: đào kinh và đê điều: Từ hơn 10 năm
nay, ngòai việc khuyến khích đào giếng khoan, Việt
·
Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật: Như đã nói ở phần
trên, cả hai loại hóa chất nầy đã đi vào nguồn nước trầm trọng. Trong gần một
năm nay, hấu như hàng ngày, trên các mặt báo trong nước mà chúng tôi thu lượm
được trên internet, tin tức người dân bị trúng độc vì ăn uống các hoa màu đã
được phung xịt bằng hóa chất trên. Tổng kết cho đến hôm nay (
·
Phế thải kỹ nghệ ở các nhà máy xản xuất: Mặc dầu kỹ
nghệ sản xuất hóa chất, thực phẩm, hàng tiêu dùng của Việt Nam vẫn còn trong
tình trạng thô sơ nhưng vì việc uqản lý phế thải chưa được thi hành nghiêm
chỉnh cho nên hầu như tất cả phế thải lỏng đều đi thẳng vào nguồn nước. Tình
trạng trên là một nguy cơ rất quan trọng vì hai nguồn nước sông Sàigòn và Đồng
nai là hai nguồn nước chính cho hàng chục triệu cư dân sống chung
trong vùng.
·
Phế thải gia cư và phế thải rắn kỹ nghệ: Đây là một
vấn nạn lớn lao nhất hiện tại. Cho đến bây giờ Việt
Tóm lại, tất cả các nguyên nhân chính yếu kể trên đếu có thể giảu quyết
được nếu VN có một tầm nhìn quyết tâm và một chính sách đặt trọng tâm vào việc
giải quyết và làm sạch môi trường. Nếu ngược lại, chúng ta sẽ không
bao giờ thấy được ánh sáng ở cuối đường hầm cả!
Mười năm sau Hội nghị Thượng đỉnh về Toàn
cầu hóa tại Rio de Janeiro, Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững (World
Summit on Sustainable Development) đã diễn ra từ 30/8 đến 4/ 9/ 2002 tại
Johannesburg, Nam Phi. Mục đích chính của hội nghị là thẩm định lại các tiến bộ
của những chương trình đã được đề ra trước đây, và các vấn đề còn tồn tại do
Hội nghị Toàn cầu hóa đề ra mười năm trước đây. Hội nghị kỳ nầy do Hội đồng
Quốc tế các Hiệp hội Hóa chất bảo trợ (International Council of Chemical
Associations). Đây là một tổ chức phi chính phủ (NGO), cho nên Hội đồng quốc tế
có đủ tư cách khách quan trong việc thẩm định kết quả của các quyết nghị trước kia.
Liên Hiệp Quốc là cơ quan bảo trợ cho Hội nghị thượng đỉnh năm 1992. Ngoài những nghị quyết về môi trường, Hội nghị trên đã đề ra một
phương hướng mới; đó là khái niệm về phát triển kinh tế bền vững. Từ đó,
Nghị trình-21 (Agenda-21) của Liên hiệp Quốc, được xem như là kim chỉ nam của
kế hoạch phát triển toàn cầu cho thế kỷ 21, có ghi nhận như sau:” Mọi thành
viên trên thế giới đều có đủ tư cách pháp nhân để thụ hưởng một đời sống có
ích và lành mạnh.” Đây là một mục tiêu rất tích cực, theo
đó LHQ đã đề ra 27 nguyên tắc chung và hy vọng đạt được mục tiêu đã ghi trong
Nghị trình 21 cho toàn thế giới.
Theo định nghĩa
của Nghị trình-21, sự bền vững là quyền phát triển của mỗi quốc gia cùng tuân
thủ theo những tiêu chuẩn giống nhau đã được đồng
thuận trước đây, trong đó nhu cầu của hiện tại và tương lai phải
phù hợp với những yêu cầu cho phát triển và môi trường. Do đó, dựa trên lý thuyết và từ khái niệm bền
vững trên, sẽ không có quốc gia nào có thể tự cho là ngoại lệ và không bị ràng
buộc vào những điều luật về bảo vệ môi trường đã được phê chuẩn trước đây. Thêm
nữa, các quốc gia cần phải cộng tác khắng khích hơn để đẩy lui sự nghèo đói và
phụ giúp các nước nghèo có điều kiện để hoàn tất tiến trình phát triển bền vững
chung cho toàn thế giới.
Tuy nhiên, sau mười năm thực
hiện, nhiều mặt tiêu cực vẫn còn tồn tại như:
·
Các quy định ở
Thượng đỉnh
·
Các ký kết cũng
không được các quốc gia kỹ nghê áp dụng triệt để.
·
Hình ảnh một thế
giới phát triển “không bền vững”, hoàn toàn đi ngược với tinh thần của Thượng
đỉnh Rio de Janeiro năm 1992 lại được tô đậm hơn. Đó la:ø 1) -Khoảng cách giàu
nghèo giữa các quốc gia càng lớn dần so với các nước Bắc bán cầu và Nam bán
cầu; 2)- Đối với các quốc gia đang phát triển, giai cấp giàu chiếm thiểu số,
giai cấp nghèo chiếm tuyệt đại đa số và giai cấp trung lưu (thể hiện cho sức
mạnh của một quốc gia) chiếm tỷ lệ rất khiêm nhường; 3)- Trên thế giới vẫn còn
có 2,4 tỷ người không có điều kiện tiếp cận và xử dụng nguồn nước sạch, hệ
thống vệ sinh thường thức hàng ngày, có mức dinh dưởng tối thiểu, có nơi cư trú
an toàn, và được chăm sóc sức khỏe; 4)- Tệ hại nhất, môi sinh tòan cầu đang
phải gánh chịu hậu quả do sự phát triển “không bền vững” gây ra.
Mục tiêu cao thượng của phát
triển bền vững dựa vào ba yếu tố căn bản: phát triển xã hội, phát triển môi
trường, và phát triển kinh tế. Do đó muốn đạt được mục tiêu, mỗi quốc gia cần
phải thỏa mãn ba yêu cầu trên.
Trước hết về mặt phát triển xã
hội, các tiêu chuẩn chung áp dụng cho các quốc gia
trên thế giới quả khó thực hiện. Mỗi quốc gia có những điều
kiện đặc thù về văn hóa và cấu trúc xã hội riêng. Cho nên định nghĩa
chung cho phát triển xã hội vẫn còn là một khái niệm mơ hồ và thường phải đặt
căn bản trên phát triển kinh tế của từng quốc gia .
Về mặt
phát triển môi trường, mặc dù có thể có được những điểm đồng thuận trong việc
thiết lập các bộ luật môi trường của cho mỗi quốc gia, tuy nhiên việc áp dụng
vẫn còn tùy thuộc nhiều vào dân trí, điều kiện xã hội và kinh tế của từng quốc
gia. Từ đó việc áp dụng các luật lệ càng khó có thể đi đến
đồng nhất được.
Tóm lại,
chỉ còn mặt phát triển kinh tế là có thể đo lường một cách “biểu kiến” việc
phát triển bền vững. Mặt nầy còn có thể cụ thể hóa và định
lượng được mức độ phát triển qua việc sản xuất, bảo vệ môi trường, và đem lại phúc
lợi cho người dân. Một thí dụ đơn giản sau đây cho chúng ta hình dung
được một sự phát triển bền vững ứng hợp cho mỗi quốc gia: Một nhà máy sản xuất
nước uống cho thành phố, nếu bảo quản môi trường nghiêm chỉnh qua quy trình
thanh lọc sạch, và làm giảm chi phí sản xuất tối đa là một hình ảnh phát triển
bền vững vì đã thỏa mãn được ba mục tiêu căn bản do Hội nghị đề ra. Trước hết,
nó thỏa mãn được việc bảo vệ môi trường, mang thêm phúc lợi vào việc phát triển
xã hội (như tăng công ăn việc làm cho người dân, có thêm thuế để xây dựng hạ
tầng cơ sở cho xã hội..), và sau cùng thỏa mãn được điều kiện phát triển kinh
tế.
Kễ từ khi
Hôị nghị thượng đỉnh về Tòan cằu hóa của LHQ tại Rio de Janeiro, Việt Nam là một
trong 70 quốc gia đã ký kết vào Chương trình Hành động của Nghị trình-21 về
phát triển bền vững. Trong đó Việt
Việt
Tháng
4/1997 trong một dự thảo báo cáo Chương trình Hành động của Nghị trình-21 do Bộ
KH, CN & Môi trường, Việt
·
Hợp tác quốc tế để đẩy mạnh tiến trình bền vững ở các
quốc gia đang phát triển;
·
Chiến tranh chống nghèo đói;
·
Bảo vệ và đẩy mạnh y tế công cộng;
·
Chiến tranh chống nạn phá rừng;
·
Quản lý hệ sinh thái: chiến tranh chống hạn hán và sa
mạc hóa đất đai;
·
Đẩy mạnh phát triển bền vững trong nông nghiệp và
nông thôn;
·
Bảo tồn đa dạng sinh học;
·
Bảo vệ biển và các nguồn sinh vật sống gần bờ biển;
·
Bảo vệ phẩm chất và nguồn dự trử của nguồn nước ngọt;
·
Quản lý phế thải độc hại;
·
Đẩy mạnh giáo dục môi trường và huấn nghệ.
Nhìn chung, tất cả chương trình căn bản của LHQ trong phát triển
bền vững đều nằm trong báo cáo nầy. Tuy nhiên, khi đi vào chi
tiết, gần 90% nội dung của các tiết mục trên hòan tòan để trống. Điều
nầy có thể ghi nhận là, Việt
Việt Nam
cũng đã công bố một thí dụ điển hình về Chương trình hành động cho phát triển
bền vững của thành phố Vinh, gồm 200.000 dân (1996), với diện tích 62 Km2, ngân
sách năm 1996 là $33 triệu Mỹ kim (hay $12 đầu người/năm). Và Chương trình hành
động cho đến năm 2010 của thành phố nầy là:
·
Thẩm định, thảo luận, và cập nhật hóa kế hoạch tổng
thể (master plan);
·
Viển kiến dài hạn cho các công trình, khu gia cư
chung quanh Đại lộ Lenin;
·
Khuyến khích đầu tư;
·
Cải thiện việc quản lý chất thải rắn, bãi rác và xử
lý rác v. v..;
·
Làm sống lại khu chung cư công cộng Quang Trung;
·
Huấn luyện chuyên viên chỉnh trang thành phố, chuyên
viên quản lý, và chuyên viên kỹ thuật.
Về hợp tác
quốc tế, Vinh đã phối hợp với công ty Belgian Administration for Development
Cooperation để có tài trợ tài chính và kỹ thuật theo
tinh thần của Nghị trình-21 của LHQ.
Nhìn chung và trong một chừng mực nào đó, Việt
Các mục
tiêu kết hợp cho phát triển bền vững trong Nghị trình-21 của Việt Nam cũng
không nêu ra các liên hệ căn bản giữa kinh tế, xã hội, và môi trường, ba mối
liên hệ tương tác do LHQ đề xướng.
Trong xã hội Việt
Tóm lại,
chúng ta có thể nói mà không sợ nhầm lẫn rằng, Việt
Mai Thanh
Truyết