NƯỚC MƯA: CỨU
TINH của Đồng Bằng Sông Cửu Long
Bài viết nầy là những ý nghĩ tản mạn sau khi tham dự Hội nghị quốc
tế về Arsenic: Fifth International Conference on Arsenic: Exposure and Health
Effects do Society for Environmental Geochemistry and Health tổ chức tại
khách sạn Holiday Inn, San Diego từ 14 – 18/7/2002. Đây là một Hội nghị
thường niên có mục đích:
·
Theo dõi tình trạng nhiễm độc arsenic trên
thế giới;
·
Cập nhật hóa các nghiên cứu liên hệ đến
ảnh hưởng đối với sức khỏe của con người;
·
Và, nhất là truy tìm những phương cách thực
dụng và ít tốn kém để ngăn ngừa và giải quyết vấn đề nhiễm độc.
Bài
viết không giới hạn trong các đề tài cùng nhận xét của Hội nghị mà
đây chỉ là một sự mượn duyên để người viết trang trải một số suy
nghĩ về vấn đề nước của người dân ĐBSCL.
Trên
quảng đường dài khoảng 90 dậm từ San Diego về lại thành phố Orange,
tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi hàng chữ “World war for water” trên
tấm biểu ngữ căn trước Hội nghị. Tôi tự hỏi chiến tranh thế giới vì
nước, do nước, hay do.… . . con
người? Nỗi ám ảnh càng được tô đậm thêm mỗi khi
nghĩ đến hội nghị nầy. Đâu đây vẫn còn văng vẳng những lời
kêu cứu, những số liệu cho thấy tình trạng nhiễm độc arsenic ở những
vùng nghèo đói trên quả địa cầu... . do hầu hết các khoa học gia đến từ các nước “đang
mở mang” đã trình bày trước hội nghị cũng như ở các phòng trưng bày
kết quả nghiên cứu. Họ đến từ Bangladesh, Aán Độ, Hồi Quốc, Mông
Cổ, Đài Loan, Đại Hàn, Trung Mỹ, Phi Châu . Họ thông
báo cho thế giới biết những vấn nạn đang xảy ra trên đất nước của
họ. Đặc biệt năm nay, Mông Cổ chính thức công
bố tình trạng nhiễm độc trầm trọng ở xứ nầy và yêu cầu sự giúp
đở của thế giới.
Trong
khi đó, Việt Nam, vùng đất đang bị nguy cơ nhiễm độc arsenic ở ĐBS Hồng
và ĐBSCL thì vẫn chưa có một tiếng nói chính thức nào về vấn nạn
arsenic trên diễn đàn nầy ngoại trừ một dự thính viên người Mỹ gốc
Việt đến tham dự hàng năm để thu thập tin tức và quan sát. Đó là
nỗi ray rứt chính trong tôi. Không lẽ nào đây chỉ là một vấn đề thứ
yếu không ảnh hưởng đến quốc phòng hay an ninh
quốc gia mà lãnh đạo hiện tại không cần lưu tâm đến? Không lẽ nào đây là một vấn nạn chỉ ảnh hưởng đến 80%
nông dân và những người nghèo thành phố không có điều kiện mua
nước lọc? Không lẽ nào vấn nạn arsenic không ảnh hưởng đến
vài triệu công dân cao cấp cho nên dễ bị lãng quên!
Không
lẽ nào, không lẽ nào. . . hai tiếng trên cứ
ám ảnh mãi trong tôi vì những phát biểu trong hội nghị còn ghi đậm
trong tâm khảm: “Nước tự nó không màu và không có biên giới cho
nên không thể bị ức chế được” (water has no colour of its own, it has no
boundary to be restricted). Và “Tất cả mọi người trên thế giới đều
có quyền có đủ lượng nước sạch và an toàn
cần thiết cho nhu cầu hàng ngày”.
Ngày
nay, Homo Sapiens chiếm cứ hầu hết khắp nơi trên mặt địa cầu với 6,2 tỷ người và với khả năng gia tăng 80 triệu nhân
khẩu mỗi năm. Không nơi nào không có dấu chân
người. Ước tính đến năm 2050, thế giới sẽ chứa tổng cộng trên
10 tỷ, trong đó dân số trong 48 nước nghèo nhất sẽ tăng gấp ba lần
trong khoảng thời gian nầy.
Vấn đề sẽ không cần được bàn cải nếu có đủ nước sạch để
được phân phối đồng đều và công bằng cho tất cả mọi quốc gia trên
thế giới. Nhưng trên thực tế, khó có
thể thực hiện cùng một lúc, nhất là đối với những quốc gia cùng
chia xẻ một dòng sông.
Sông
Ở Á
Châu, sông Cửu Long là một con sông quốc tế chảy xuyên qua 7 quốc gia : Tây Tạng, Miến Điện, Trung Quốc, Thái Lan, Lào,
Cao Miên, và Việt
Tổng sản lượng nước trên thế giới gồm: 97,5% nước biển (mặn) và chỉ 2,5% nước ngọt. Trong 2,5%
nầy chỉ có 0,4% nước mặt gồm sông ngòi, ao hồ và hơi nước trong
không khí, 30,1% nước ngầm, và phần còn lại là những tảng băng trải
rộng ở Bắc và Nam cực. Và sau cùng trong 0,4% nước mặt đó, có 67,4%
nước ao hồ, 1,6% sông ngòi, 12,2% nước đã thấm vào đất, 9,5% hơi nước
trong không khí, và phần còn lại gồm các wetlands . (Dử
kiện từ National Gheographic 9/02).
Sự
phân bổ nước trên thế giới hoàn toàn không đồng bộ do điều kiện
địa lý từng vùng, sự lạm dụng của những quốc gia kỹ nghệ, và sự
“nhắm mắt làm ngơ” không giúp đở các quốc gia nghèo đói của các
“nước lớn”. Theo ước tính, có 70% lượng nước trên thế giới được xử
dụng cho nông nghiệp, 20% cho kỹ nghệ, và 10% cho sinh hoạt gia đình.
Hàng ngày, trong nhiều vùng ở Phi Châu, phần đông cư dân không có
hơn một lít nước dùng cho sinh hoạt cá nhân; trong lúc đó ở Hoa kỳ,
mức tiêu thụ nước cho mỗi người dân có thể lên đến 700 lít cho một
ngày!
Với
sự tận dụng hơn 90% nước dùng trong nông nghiệp và kỹ nghệ, mực
nước ngầm có khuynh hướng thấp dần do đó có thể làm cho mặt đất
lún sâu. Thành phố Mexico, thủ đô của Mể Tây Cơ trong vòng 50 năm
trở lại đây đã bị lún sây hơn 60 bộ (1 bộ = 25 cm), khiến cho nhiều
nơi trong thành phố bị sụp lở. Tỉnh Trà Vinh ở Viện Nam, theo thống kê
năm 2000, có khoảng 41.512 giếng khoan tạo ra tình trạng suy giảm trử
lượng nước ngần và ô nhiễm nguồn nước. Mặt đất nơi đây đã giảm từ
2 đến 2,5 mét so với mực nước năm 1994.
Thêm
nữa, sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu cần
phải phát triển nông nghiệp, do đó việc tận dụng nguồn nước, nhất
là nước ngầm sẽ là một nguy cơ làm cạn kiệt nguồn nước trong tương
lai. Trước mắt, các quốc gia đang phát triển phải
trực diện với nạn gia tăng dân số vì không có khả năng ngăn chặn
mức sinh sản của người dân, các nước nầy sẽ là những nạn nhân đầu
tiên của nạn khan hiếm nguồn nước.
Kinh
nghiệm thực tế cho thấy, ở các quốc gia Á Châu, Phi Châu, hay Châu
Mỹ La tinh, nhu cầu nước dùng cho nông nghiệp cao gấp đôi so với các
quốc gia kỹ nghệ. Lý do là vì ở các quốc gia kễ trên không có hệ
thống tưới tiêu hoàn chỉnh và hiệu quả cũng như nguồn vận chuyển
nước còn quá thô sơ, cho nên sự thất thoát rất cao.
Theo dự đoán của các chuyên gia, mức độ chiến tranh có thể gia
tăng ở nhiều vùng trên thế giới trong một tương lai gần đây vì sự
phân bố không đồng đều nguồn nước của các giòng sông. Có
thể có nhiều mâu thuẩn trước mắt cho các quốc gia sau đây: 1) Aán –
Bangladesh vì vấn đề tranh chấp sông Ganges (Hằng Hà); 2) Aán – Hồi vì
sông Indus; 3) Israel nằm trên thượng nguồn sông Jordan và các quốc
gia Jordanie, Syria, và Libanon nằm ở hạ lưu. Nơi sau cùng nầy sẽ là
điểm cực nóng với thêm lý do tôn giáo và chủng tộc; 4) Thổ Nhỉ Kỳ,
Iraq, và Syria cùng chia xẻ dòng sông Tigris và Euphrate, trong đó Thổ nằm
trên thượng nguồn và đang xây dựng một hệ thống đập thủy điện ở
nhiều nơi để tăng gia năng lượng và nông nghiệp.
Như
vậy, trong tương lai, nếu không có một biện pháp can thiệp hữu hiệu
để giải quyết các vấn đề trên ở tầm mức toàn cầu thì chiến tranh
vì “nước” ở những vùng kễ trên có thể xảy ra bất cứ lúc nào!
Do nhu cầu phát triển, lượng nước dùng trong
nông nghiệp và kỹ nghệ ngày càng tăng nhất là đối với các quốc
gia đang phát triển. Ở các nước kỹ nghệ, các nguồn
nước thải sinh hoạt và kỹ nghệ được xử lý và được xử dụng lại.
Do đó, họ hạn chế được mức ô nhiễm môi trường và quan trọng hơn cả
là tiết kiệm nguồn nước thiên nhiên ngày càng giảm dần. Nguồn nước sông
Do đó, ngay từ bây giờ, cần phải xóa đi quan
niệm về nguồn nước mặt, nước ngầm . . . là vô tận! Thêm
nữa, trên bình diện quốc gia cần phải đầu tư nhiều vào các dịch vụ
xử lý nước thải để dùng lại. Việc xử dụng
bừa bãi phân bón trong nông nghiệp cũng như các loại hóa chất bảo
vệ thực vật đã góp phần không nhỏ vào nguyên nhân làm ô nhiễm
nguồn nước mặt và nước ngầm.
Kinh nghiệm Bangladesh
Đứng trước thảm nạn ô nhiễm arsenic trong
nguồn nước ảnh hưởng lên 50 trịêu dân do việc UNICEF khuyến khích đào
hơn 4 triệu giếng đóng, Bangladesh đang trực diện trước một vấn nạn
sinh tử là truy tìm nguồn nước mới cho người dân. Câu giải đáp hiện
tại và cuối cùng cho quốc gia nầy là phải nhờ đến thiên nhiên: MƯA.
Hầu như tất cả các chuyên gia kinh nghiệm trong vấn đề nầy đều
đồng ý về những thuận lợi cho việc dùng nước mưa tại đây là:
·
Lượng nước mưa sẽ đủ dùng cho mùa khô nếu
có phương tiện dự trử;
·
Nước mưa tương đối sạch và có thể xử lý vật
lý như gạn lọc trước khi dùng (rẽ tiền);
·
Mỗi đơn vị nhà cửa có thể chứa nước mưa
trên nóc nhà hay các bốn chứa cá nhân để dự trử trong mùa khô;
·
Có thể thiết lập các hồ chứa công cộng có
đáy bằng cát nhuyễn cho một khu dân cư lớn. Hồ nầy có thể dẫn đến
các hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp.
Từ những thuận lợi kễ trên, chính phủ
Sau cùng, kế sách xử dụng nước mưa đã được UNICEF ủng hộ và
yểm trợ phương tiện cùng tài chánh cho
Mưa và Đồng
Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)
Vùng ĐBSCL có vũ lượng hàng năm là khoảng 2000 mm. Mùa mưa bắt
đầu từ tháng 5 đến tháng 11. Do đó chỉ cần tồn trử
nước mưa từ tháng 11 cho đến tháng tư cho mùa khô. Nếu tính mỗi đầu
người cần 5 lít nước mưa một ngày để dùng cho ăn uống thì nhu cầu
hàng năm cho một gia đình 4 người ở vùng nầy là:
5L/ngày/người
x 4 người/gia đình x 356 ngày/năm = 7.300 L/gia đình/năm
Như vậy, chỉ cần các bồn chứa có dung tích khoảng 3.700 L là đủ
dùng cho mùa khô. Việt
Đối với các dịch vụ công cộng chỉ cần các hồ chứa lớn hơn và
có lớp plastic LDPE (low density poly-ethylene) bọc phần đáy và thành
hồ, chúng ta sẽ có những bồn chứa có trử lượng hàng ngàn m 3 cho
nhu cầu công cộng.
·
Đứng trước viển ảnh bị ô nhiễm arsenic qua
việc xử dụng hơn 200.000 giếng đóng ở ĐBSCL mà cả UNICEF lẫn chính
phủ Phan Văn Khải nhìn nhận;
·
Đứng trước thực trạng xử dụng bừa bãi
thuốc trừ sâu rầy, xử dụng quá tải lượng phân bón cho nông nghiệp
mà kết quả là bao nhiêu vụ ngộ độc thực phẩm đã diễn ra hàng ngày
trên báo chí Việt
·
Đứng trước sự thành công bước đầu trong
việc giải quyết thảm nạn arsenic của chính phủ
Liên
Hiệp Quốc qua UNICEF đã nhìn nhận rằng không còn có biện pháp nào
tối ưu hơn để giải quyết vấn nạn ô nhiễm arsenic ở các quốc gia đang
phát triển bằng cách tận dụng nước mưa do thiên nhiên “tài trợ”.
Mục tiêu của bài viết nầy là gợi ý giới hữu trách Việt
Đây là một biện pháp đơn giản, ít tốn kém, không đòi hỏi
“khoa học kỹ thuật” cao, hoàn toàn thích hợp cho điều kiện Việt
Nước là nguồn sống. Nước sạch để tưới tiêu, nước sạch để tắm gội, rữa rau
cá thịt, để nấu nướng, để uống. Nước cho cây cỏ, cho cá tôm, theo đó cho sự điều hòa của hệ sinh thái thiên
nhiên.
Nhưng
con người đôi khi chứa ý thức được sự quan trọng của nước, đã lạm
dụng nguồn nước, chẳng những không bảo vệ nguồn mà làm cho nước
ngày càng mất đi tính tinh khiết do thiên nhiên đãi ngộ.
Con
người cũng chưa lường hết những hệ quả trong khi khai thác tài
nguyên, bất chấp những hệ lụy của sự tác động môi trường, điển
hình là các đập trên sông Hoàng Hà, sông Colorado, đập Yali ở Việt
Nam vân vân.
Đối
với Việt Nam, ảnh hưởng của các đập trên thượng nguồn sông Cửu
Long, sự phá hoại các rừng tràm thiên nhiên ở Cà Mau, Bạc Liêu để
nuôi tôm, sự tận dụng nguồn nước ngầm trong nông nghiệp, lạm dụng
thuốc bảo vệ thực vật, tất cả sẽ sinh ra các hệ quả hết sức tiêu
cực và khó thể ước lượng được mức tác hại trong tương lai…
Do
đó, cuối cùng, rồi nước mưa sẽ là vị cứu tinh cho người dân
ĐBSCL.
Lạy Trời mưa xuống lấy nước tôi uống… . .
. Câu hò miền thôn dã quả thật đã ứng nghiệm thật
đúng cho tâm cảnh hiện tại của người dân ĐBSCL mà niềm tin cuối
cùng còn đọng trên môi là TRỜI.
Mai Thanh Truyết