NGƯỜI HỌC
TRÒ
Mai
Thanh Truyêt
Tôi gặp Huy lần đầu tiên trong ngày tựu trường trong niên
khóa 1973-74 tại Viện Đại học Cao đài Tây Ninh. Tôi còn nhớ cảm tưởng của mình về khung cảnh ngày hôm đó
vì nó ít giống với khung cảnh của những trường đại học khác ở
Sàigòn. Nơi đây, không khí cũng bình thường như
những ngày khác trong niên học, có vẻ hơi tẻ lạnh nữa. Nơi
tỉnh lẻ nầy, không khí đại học vẫn còn phảng phất một ít tính cách
“trung học” nghĩa là vẫn còn nhiều ánh mắt e dè của các cô nữ sinh
viên mới lần đầu tiên bước vào lớp học chung
với các nam sinh viên. Tôi nghĩ rằng tôi nhớ nhiều
về Viện Đại học Cao đài phần nào cũng vì cảm tưởng nầy.
Thời gian đó, Huy đã là sinh viên năm thứ ba phân khoa Nông
Lâm Súc và đồng thời là Tổng thư ký Hội Sinh viên. Còn phần tôi cũng vừa nhận lời hợp tác với Viện.
Sở dĩ tôi chú ý đến Huy là vì nhận thấy anh rất hăng say trong các
sinh hoạt sinh viên và thường xuyên góp ý với tôi trong chương trình
giảng dạy và điều hành sinh viên vụ. Huy đóng vai trò gạch nối cần
thiết giữa sinh viên và ban điều hành Viện. Anh là
một trong số rất nhiều sinh viên đến từ Qui nhơn, Bình định. Đa
số những sinh viên nầy có cùng hoàn cảnh tài chánh, không kham nổi
đời sống mắc mỏ ở Sàigòn nên tìm về tỉnh nhỏ Tây Ninh để cùng
thực hiện ước mơ
đại học. Họ đã phải sống chung
trong những nhà trọ thiếu tiện nghi và chia xẻ việc ăn uống mà đối
với họ chỉ là sống “cho qua ngày”. Bữa ăn hàng ngày thường là cơm
gạo lức với rau dền, rau khoai hay rau muống luộc chấm nước tương, đôi
khi chỉ là nước muối pha. Vậy mà họ vẫn vượt qua các khó khăn
trong suốt thời gian theo học. Điều đáng nói là
một phần lớn các anh chị nầy lại có học lực trội hơn so với các
sinh viên địa phương có gia đình chu cấp tương đối
đầy đủ. Phải chăng cái nghèo, cái khó là động cơ thúc đẩy nhóm
sinh viên nầy đi lên!
Liên hệ giữa Huy và tôi ngày càng thắm thiết. Một trong
nhiều kỹ niệm khó quên xảy ra vào năm 1974 khi tôi hướng dẫn phái đoàn sinh
viên Cao Đài tham dự một lễ tôn
giáo do Viện Đại học Hòa hảo tổ chức tại Long Xuyên. Ở đó, một đêm không ngũ được giáo sư Hồ Hữu Tường làm
chủ lễ. Lần đầu tiên tôi được chứng kiến tận mắt hình ảnh
“nam thực như hổ” khi các sinh viên Cao Đài đã không ngại ngùng ăn
một cách ngon lành 5, 7 chén cơm đầy với nhiều thức ăn. Việc nầy
khó quên được vì ông Tổng thư ký của Viện đã phải tuân theo chỉ thị
của tôi mà trích thêm một số tiền lớn để trang trải chi phí cho việc
ăn uống “bất thường” nầy trong suốt thời gian ở Long Xuyên.
Trong hai năm cuối cùng của cuộc chiến Việt
Rồi khi
cuộc chiến đã tàn vào cuối tháng tư 1975, tôi đề nghị Huy về Sàigòn
chung sống với gia đình tôi để đối phó với tình trạng an ninh không
cho phép Huy trở về quê quán, cũng như để Huy được tiếp tục hoàn
tất chương trình Nông Lâm Súc ở
Thủ đức. Từ đây mối liên hệ Thầy Trò ngày càng
khắng khít. Tôi không còn xem Huy như học trò nữa và Huy đã
mặc nhiên trở thành một thành viên trong gia đình tôi để cùng tôi
gánh vác và chia xẻ nỗi khó khăn, ô nhục xảy đến cho hầu hết dân
miền Nam trong giai đoạn đầu của “kế hoạch 5 năm”.
Tôi còn
nhớ có lần Huy đã thay tôi viết bản thu hoạch
cho các buổi học tập chính trị dành riêng cho giáo sư đại học. Tôi
xin kể ra đây kỹ niệm đáng nhớ đó: Sau hơn ba tháng học tập do Hội
Trí thức Yêu nước tổ chức, Huy đã soạn dùm tôi một bài thu hoạch dài hơn 30 trang giấy học trò. Ngày tường trình, khi đến phiên mình, tôi đã ung dung đọc
từng chữ những lời giảng dạy của Bác và Đảng cùng các lãnh tụ
khác cho đến hết buổi. Thời giờ kéo dài làm cho một người
rất bực bội, nhưng vì đây là những “lời vàng thước ngọc” cho nên
người đó, một nữ giáo sư từng giảng dạy môn Hóa hữu cơ trong ban
hóa do tôi làm trưởng ban, không thể phát biểu chống đối và phản
bác tôi được. Vị giáo sư đó sau một thời gian nằm trong ban lãnh đạo
của Trường Sư phạm, thuộc thành phần “30/4” rồi cũng phải vỡ mộng
và lưu lạc nơi phương trời Tây cho đến bây giờ. Tôi
cám ơn Huy đã hiểu tôi bị dằn vặt khi phải bắt buộc nghĩ và viết ra
những điều mình không chấp nhận. Các bạn đồng nghiệp khác
cũng cùng hoàn cảnh hôm đó chắc cũng đã cám ơn Huy và tôi đã giúp
họ không phải nghe và ray rứt thêm vì phải nói những lời không thật
với lòng mình. Ngoài ra, Huy cũng đã thay tôi xếp
hàng lảnh nhu yếu phẩm do phường khóm phân phối (tôi đã chạy cho Huy
có tên trong tờ hộ khẩu của gia đình tôi bằng một số tiền không
nhỏ). Huy đã không quản ngại giúp đỡ vợ con tôi cùng lo lắng
mọi việc trong nhà. Đôi khi, thấy tôi tỏ vẽ buồn bã, mất tinh thần
vì hoàn cảnh bế tắc hiện tại, Huy đã dùng lời lẽ để trấn an tôi,
đôi khi còn chạy tìm cho Thầy một vài xị rượu cùng đồ nhấm cho quên
đời …. . Tình nghĩa Thầy Trò đã thăng hoa đến mức độ không còn có
thể diễn tả bằng lời hay thành văn được. Nó đã lẫn
vào trong trí trong tâm của cả Thầy và Trò. Tôi
đã nhìn thấy tôi nơi Huy và ngược lại rất nhiều khi Huy đã suy nghĩ
và hành động như Huy là tôi vậy.
Mối thâm tình trên đã thể hiện lần cuối cùng ở Việt
Lần cuối
chia tay, tôi đưa cho Huy chiếc nhẫn cưới của vợ tôi để giúp Huy làm
lộ phí, còn Huy vẫn tiếp tục thuyết phục tôi:” Em sẽ chờ Thầy ở
bến xe nếu Thầy thay đổi ý kiến”. Sau nầy, qua bạn bè và các học
trò khác, tôi biết được rằng Huy và các bạn đã chờ tôi cho đến khi
chiếc xe đò cuối cùng rời xa cảng để đi miền
Tây. Chuyện vượt biên của Huy và các bạn cuối cùng rồi cũng đi đến
một đoạn kết toàn bích khi được tàu Đài loan cứu vớt sau nhiều ngày
trôi lênh đênh ngoài khơi, không thức ăn và nước uống vì tất cả
các thứ trên đã rơi xuống biển ngay ngày đầu tiên xuất hành. Huy định cư ở
Chuyện vượt biên của Huy và các bạn (nhóm 17) đã để lại một
dấu ấn lớn trong tôi và Huy. Chúng tôi đã bị buộc tội là
lường gat và tòng phạm lường gạt qua những lời đánh giá của một số
bạn bè và bà con tôi có tham dự và đóng góp tài chánh vào chuyện
vượt biên trên.
Thời gian qua đi, rồi cũng đến lượt tôi vượt thoát được. Không biết
nhờ đâu Huy hay tin, và đã gữi tiền qua cho tôi chi dụng trong suốt
thời gian ở đảo. Tôi định cư ở
Sau nầy, tuy
đường xa cách trở, nhưng hầu như những lần nào có dịp sang California,
Huy đều ghé qua nhà tôi để, một là thăm gia đình tôi, hai là dành
thì giờ để Thầy Trò trao đổi chuyện nhân tình thế thái. Với tôi,
những chầu lai rai và những lúc hàn huyên tâm sự nầy thường kéo
dài cho đến khi cả Thầy và Trò đều mõi mệt, quả thật là một niềm
an ũi cho cá nhân tôi trong thời gian bắt đầu đời tỵ nạn. Tôi còn
nhớ có lần Huy và các bạn về thăm cùng rũ tôi đi Reno, một trung
tâm giải trí và cờ bạc ở Nevada, Huy đã kín đáo dúi vào tay tôi một
chồng token để tôi có phương tiện tham dự vào cuộc chơi vì Huy biết
tôi không có tiền lúc đó.
Thấm thoắt đã gần 30 năm, tình nghĩa Thầy Trò không hề suy
suyển mà trái lại ngày càng sâu đậm thêm ra. Trước sau,
Huy vẫn luôn gọi tôi bằng tiếng Thầy, xem các con tôi không khác gì
em ruột, mặc dù tôi chưa hề dạy Huy một chữ! Tôi
nghĩ, có chăng tôi đã cho Huy thấy tấm long chơn thật của tôi đối
với riêng Huy và với tất cả mọi người. Có phải tôi và Huy
đã gặp nhau ở một điểm chung là nghĩ đến tha nhân hơn chính bản thân ?
Năm nay, Huy
đã gần bước qua tuổi tri thiên mạng, nhưng dường như “trời xanh quen
thói “râu mày” đánh ghen” cho nên Huy vẫn sống một mình trong nổi cô
đơn riêng. Đổi lại, tất cả các em của Huy đã được Huy giúp đến bến
bờ tự do, khuyến khích chỉ bảo trong việc học hành cho đến ngày thành
tựu, và lo lắng cho nên vợ nên chồng. Về phía bạn
bè, sự có mặt của Huy bao giờ cũng là niềm vui của biết bao người
mong đợi.
Tôi viết bài nầy về Huy vì tôi nghĩ Huy đã làm tất cả những
gì mà một người có thiện tâm đã làm. Huy hiếm khi đi chùa, nhà thờ để cầu nguyện, không nói
nhiều mà chỉ hành động với lòng bác ái, vị tha. Dưới mắt tôi, Huy quả là một con người đúng nghĩa.
Trong lúc còn sống ở quê nhà, dưới áp lực của việc tranh tìm miếng
cơm manh áo, lòng người dường như dững dưng trước thảm cảnh của người
chung quanh. Trong xã hội ta đang
sống hiện tại, vật chất đứng hàng đầu, cá nhân là điểm tựa chính
thay thế cho gia đình, vì vậy quả thật khó kiếm được một người chân
chính. Tôi may mắn có được một người học trò giúp tôi có
thêm được một niềm tin vào tình người. Tôi không nghĩ
mình đã lộng ngôn khi kết luận rằng Huy rất xứng đáng là một tấm
gương cho nhiều người trong đó có chính bản thân tôi.
Nếu đọc
được những dòng Thầy viết ra đây, chắc Huy không khỏi “bực mình” vì
Huy vốn khiêm nhường, nhưng Huy sẽ thông cảm với sự tin tưởng của
Thầy rằng Huy vẫn sẽ tiếp tục . .. là một
người học trò.
Mai Thanh
Truyết
Orange