Sự Hâm Nóng Toàn
Cầu & Năng Lượng Mặt Trời - Global
Warming & Solar Energy
(Thuyết tŕnh trước Vietnamese Professionals Society
North America Conference 2004,
Oct, 23-24,
Sự hâm nóng toàn cầu
Các lư thuyết về sự hâm nóng toàn cầu phát sinh
từ cuối thế kỷ 19 do những nhà khoa học
Thụy Điển trong khi quan sát sự thay đổi
nhiệt độ của không khí bị ô nhiễm
để rồi từ đó kết luận rằng trái
đất nóng dần do con người phóng thích các khí ô
nhiễm vào không khí. Lư thuyết nầy là
nguyên nhân khởi đầu cho bao cuộc thảo luận
sau đó giữa các nhà khoa học. Họ đă vơ
đoán là từ năm 1896, thán khí (CO2) thải vào không khí do
việc đốt than đá để tạo ra năng
lượng là nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng nhà kính.
Theo ước tính, thán khí trong không khí đă
tăng 30% từ năm 1750 đến nay.
Măi đến năm 1949, sau khi khảo sát hiện
tượng tăng nhiệt độ trong không khí ở Âu
Châu và Bắc Mỹ từ năm 1850 đến 1940 so
với các nơi khác trên thế giới, các nhà nghiên cứu
Anh đă đi đến kết luận là sự phát
triển ở các quốc gia kỹ nghệ đă làm
tăng lượng ô nhiễm thán khí trong không khí, do đó
làm cho mặt đất ở hai vùng nầy nóng mau hơn
so với các vùng chưa phát triển.
Đến năm 1958, các cuộc nghiên cứu ở
Mauna Loa Observatory (Hawai) đặt ở cao độ 3345m
mới chứng minh được khí CO2 là nguyên nhân chính
yếu của sự gia tăng nhiệt độ nầy.
Đến năm 1976, các chất khí methane,
chlorofluorocarbon (CFC), nitrogen oxide (NOx) cũng được
xác nhận là nguyên nhân của hiệu ứng nhà kính.
Từ năm 1979 đến 1983, nhiều báo cáo của
Hàn Lâm Viện Quốc gia về Khoa học Hoa Kỳ đă chứng minh
và cảnh báo rằng nơi nào có ô nhiễm không khí trầm
trọng là nguy cơ có nhiệt độ không khí tăng
càng lớn.
Năm 1990, 49 nhà bác học đă có giải Nobel đă
ra thông cáo kêu gọi mọi quốc gia trên thế giới
phải có biện pháp tức thời để hạn
chế ô nhiễm không khí hầu bảo vệ quả
địa cầu.
Các cuộc nghiên cứu mới nhất do hai khoa
học gia Karl và Trenberth trên tạp chí Sciences số tháng
12/2003 nói lên tính cách khẩn thiết của vấn
đề nầy. Theo ước tính của hai ông th́
từ 1990 đến 2100, nhiệt độ trên mặt
địa cầu sẽ tăng từ 3,1
đến 8,9 oF (1,6
đến 4,2 oC). Và sự tăng nhiệt độ
nầy sẽ làm nóng chảy hai tảng băng ở
·
Trái đất sẽ
chịu đựng những luồng khí nóng bất
thường;
·
Hạn hán sẽ
thường xuyên hơn và xảy ra ở nhiều nơi;
·
Mưa to, băo tố
xảy ra bất thường cũng như không thể
tiên liệu trước như hiện nay;
·
Hệ thực vật,
sinh vật bị thay đổi;
·
Và sau cùng
mực nước biển sẽ dâng cao ở nhiều
nơi ước tính khoảng 75cm năm 2100.
Và hiệu ứng nhà kính đă được giải
thích một cách khoa học hơn như sau: Các khí kể
trên di chuyển trong bầu khí quyển, nhốt
(trap) khí nóng thải hồi từ mặt địa
cầu, do đó khí nóng nầy không thể thoát ra ngoài không
gian được. Ngược lại, các khí trên cũng
đă hành sử như một nhà kính để lọc các tia sáng mặt trời trước khi vào trái
đất. Tháng 4,2004 Trung tâm Nghiên
cứu Mauna trên lại vừa công bố một báo cáo khoa
học mới nhất trong đó ghi nhận nồng
độ của thán khí (CO2) trong năm 2002 là 376 mg/L và
năm 2003 là 379mg/L. Và trong ṿng 10 năm trở lại
đây, mức thán khí tăng hàng năm là 1,8mg/L; trong lúc
đó mức tăng trung b́nh là 1mg/L ở 5 thập niên
về trước. Lư do chính là do sự phát triển
của Trung Quốc và Ấn Độ.
Nghị định thư Kyoto, một dự thảo
hiệp ước do Liên Hiệp Quốc bảo trợ và
đă được 166 nguyên thủ quốc gia trên thế
giới đồng ư trên nguyên tắc, quy định
rằng: Cho đến năm 2012, các quốc gia chện
thế giới phải giảm thiểu các khí phóng thích
kể trên 5,2% so với định
mức của năm 1990. Dự thảo Nghị
định thư (NĐT) nầy
gồm 26 Điều khoản và 2 Phụ lục sẽ
trở thành một quyết định chung cho toàn cầu
nếu có trên 55% tổng số các quốc gia tính theo tỷ
lệ năng lượng cần thiết trong các quá tŕnh
sản xuất kỹ nghệ của từng quốc gia
một. Hoa Kỳ, vào năm 1990, đă sản xuất 36,1% sản phẩm của toàn thế
giới, do đó có trách nhiệm trên 36,1% lượng khí
phóng thích vào bầu khí quyển tạo ra sự hâm nóng toàn
cầu. Trong lúc đó, Nga Sô chịu trách nhiệm 17,4%.
Tính đến ngày 30/11/2003, tổng số các quốc
gia đă chuẩn y Nghị định thư
Cảnh báo khẩn cấp
Vào cuối tháng 2,2004, Bộ Quốc
Pḥng Hoa Kỳ có cho công bố một báo cáo khoa học quan
trọng liên quan đến an ninh quốc pḥng về
việc thay đổi thới tiết đột ngột
do hai khoa học gia về tương lai học (futurist)
nghiên cứu.
Báo cáo cảnh báo rằng, nhiệt độ sẽ
giảm 5 oF ở Á Châu, Bắc Mỹ, và Bắc Âu Châu; và
sẽ tăng 4 oF ở ước , Nam Phi, và Nam Mỹ kéo
theo hạn hán, giông tố vào mùa đông, và gió mạnh ở
những vùng kể trên. Báo cáo c̣n ghi nhận thêm sự thay
đổi nhiệt độ sẽ có một tiến tŕnh
nhanh chóng chứ không thay đội đều đặn như dự
liệu. Có thể xảy ra trong vài thập
niên tới đây. Các cuộc nghiên
cứu ở ḷng biển sâu có chỉ dấu cho thấy
ḍng chảy của luồng nước ấm chảy
chậm lại. Và điều nầy có thể làm cho
thời tiết không c̣n thay đổi theo
như sự vận chuyển định kỳ như
trước đây.
Những sự kiện kể trên có thể xảy ra
ở những vùng khác nhau, tuy nhiên việc ảnh
hưởng lên toàn cầu sẽ làm xáo trộn t́nh h́nh an ninh xă hội của thế giới. V́ vậy, các quốc gia giàu cần phải
chuẩn bị để tránh t́nh trạng bi thảm có
thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Hoa Kỳ với kỹ thuật tiên tiến có thể
chịu đựng và chế ngự được
những thay đổi trên do nước nầy có một
hệ thống nông nghiệp đa dạng thích ứng
với nhiều điều kiện thời tiết khác
nhau. Điều nầy không thể có
được đối với các quốc gia khác ở Á
và Âu châu. T́nh trạng thiếu lượng thực,
nước uống và năng lượng có thể xảy
ra và từ đó sẽ phát sinh ra một hiện
tượng di cư vĩ đại
đến từ Á Châu và các quốc gia Trung Mỹ.
Sau cùng, báo cáo tiên đoán rằng Âu Châu sẽ phải
chiến đấu gay go với t́nh trạng kể trên. Á Châu đối mặt với những
khủng hoảng lương thực và nước sinh
hoạt. Tất cả sẽ làm xáo
trộn xă hội hoàn toàn và tạo ra thêm nhiều tranh
chấp liên quốc gia không thể tiên liệu
được.
Để kết luận, nguyên nhân gây ra hiệu
ứng nhà kính là do thán khí và một số khí thải kỹ
nghệ thải hồi vào bầu khí quyển. Tuy nhiên, cũng c̣n có nhiều giả thuyết khác
nhau đến từ nhiều trường phái khoa học
về cách lư giải cho hiệu ứng nhà kính. Một
số khoa học gia trong khi nghiên cứu về hành tinh Mars
đă đưa ra một giả thuyết về sự
thành h́nh của mặt địa cầu như sau:
Năng lượng toàn
cầu
Năng lượng chúng ta đang tiêu dùng xuất phát
từ nhiều nguồn khác nhau. Từ thiên nhiên, cần phải kể
đến than đá, than bùn, dầu hỏa, và khí thiên nhiên.
Do nhân tạo, có nguồn năng lượng từ
thủy điện c̣n được gọi là than
trắng, nguồn nguyên tử năng, và năng
lượng từ gió và từ ánh sáng mặt trời.
Đối với các tài nguyên thiên nhiên thuộc nhóm
thứ nhất, theo ước tính th́ khoảng độ
80 năm nữa, các nguồn năng lượng trên sẽ
bị cạn kiệt v́ con người đă và đang
tận dụng tối đa, và với mức độ
cấp số nhân nhanh hơn
mức tái tạo của thiên nhiên. Do đó ngay từ bây
giờ nếu không chuẩn bị để nghiên cứu
hay truy t́m những nguồn tài nguyên năng lượng
mới, thế giới sẽ đi dần đến
sự tự hủy diệt. Đối với nguồn
năng lượng đến từ nhóm hai, thủy
điện đă xuất hiện từ hơn 70 năm
trước đây, và đă là nguồn hy vọng cho nhân
loại trong một thời gian dài.
C̣n nguồn năng lượng nguyên tử năng hiện
đang được các quốc gia Tây phương áp
dụng nhiều v́ nhu cầu gia tăng. Riêng hai loại năng lượng gió và ánh sáng
mặt trời được các nước đang phát
triển và các quốc gia gần vùng xích đạo
chiếu cố đến nhiều hơn.
Từ ban đầu và căn cứ theo
hướng suy nghĩ của những nhà khoa học
thời bấy giờ th́ thủy điện là một
nguồn điện năng sạch và toàn hảo v́ không
tạo ra ô nhiễm môi trường. Do đó, các
đập thủy điện được tiếp
nối xây dựng ồ ạt từ các quốc gia tân
tiến cho đến những quốc gia đang phát triển.
Nhưng trong khoảng 20 năm trở lại đây, khoa
học gia trên thế giới đă nhận định
đúng đắn thảm nạn môi trường do
thủy điện gây ra. Đó là, 1- Thủy điện
đă làm đảo lộn hoàn toàn hệ sinh thái của
một vùng rộng lớn chung quanh hồ chứa cũng
như ở thượng nguồn và hạ nguồn
của đập; 2- Thủy điện làm giảm
thiểu hoặc hủy diệt đa dạng sinh học
của toàn vùng; 3- Hiệu quả kinh tế của thủy
điện hoàn toàn đảo ngược v́ chi phí cần
thiết để tái tạo lại môi trường thiên
nhiên đă bị đánh mất cao hơn lợi nhuận
do việc cung cấp điện năng. Hai thí dụ
điển h́nh minh xác qua trường hợp của hàng
chuỗi đập thiết lập dọc theo sông Colorado
(Hoa kỳ) và Hoàng hà (Trung hoa); và sau hơn vài chục năm
khai thác, ḍng chảy của hai con sông nầy không c̣n
điểm đến là vịnh Mễ tây cơ và biển
Trung hoa nữa. Ở Việt Nam, dù mới khai thác
đập thủy điện trong khoảng hơn 10
năm nay, nhưng nhiều tác hại đă xảy ra
như trường hợp đập Yali đă làm ngập
lụt thành phố Ratanakiri, Cambodia năm 2000 ngay một
năm sau khi khánh thành mà thôi.
Năng lượng mặt
trời
Chúng tôi đặt trọng tâm về nguồn năng
lượng đến từ ánh sáng mặt trời.
Tương tự như nguồn năng lượng
đến từ gió, công nghệ từ ánh sáng (solar
technologies) sử dụng nguồn năng lượng
mặt trời để biến cải thành nhiệt
năng, điện năng, và ngay cả việc cung cấp
năng lượng cho hệ thống làm lạnh nữa.
Hàng năm tại Hoa kỳ các tiểu bang ở miền
Đông đều có mở hội nghị Thượng
đỉnh về Năng lượng Xanh (Green Power Summit)
với mục đích giới thiệu các công nghệ
mới về thiết bị áp dụng năng
lượng mặt trời dùng cho đơn vị gia
cư, hay các cơ sở nhỏ.
Đây cũng thể hiện một quan niệm khác
biệt giữa Hoa kỳ và Âu châu trong việc ứng
dụng năng lượng mặt trời. Kể từ thập niên 60, người
Pháp đặc biệt chú trọng đến việc
giải quyết sự thiếu hụt năng
lượng cho các quốc gia đang phát triển.
Họ đă thành công trong
việc thiết kế và
lắp đặt các hệ thống biến năng
lượng mặt trời thành điện năng cung
ứng cho những làng xă có độ 1000 đơn vị
gia cư. Các quốc gia vùng Trung Mỹ đă
thừa hưởng thành tựu nầy nhiều nhất v́
dễ lấp ráp và chi phí tương đối rẻ.
Đối với các quốc gia có bờ biển dài,
hay thuộc vùng nhiệt đới trong đó có Việt
Nam, hệ thống thiết bị năng lượng
nầy sẽ có tiềm năng lớn để giải
quyết nhu cầu thiếu hụt năng lượng cho
tương lai.
Các lợi điểm
của việc sử dụng năng lượng mặt
trời
Vào năm 2003, mức sản xuất hệ thống
biến năng lượng mặt trời thành
điện năng có tên là Photovoltaic (PV) trên toàn thế
giới đạt đến mức 700 MW, tăng 34% so
với năm 2002. Gần 30 năm trước đây, nhân
loại đă nghĩ đến nguồn năng
lượng nầy, nhưng măi đến năm 1999, các
hệ thống PV có trên 1 tỷ watt mới ra đời và
công nghệ nầy đă thu lợi 5,2 tỷ Mỹ kim cho
các công ty thiết kế trên thế giới.
Quốc gia có mức tăng trưởng nhanh nguồn
năng lượng trên là Nhật Bản, 45%, và Âu Châu, 40%.
Những lợi điểm trước mắt của
nguồn năng lượng mặt trời là:
·
Không làm ô nhiễm không
khí;
·
Không tạo ra hiệu
ứng nhà kính;
·
Không tạo ra phế
thải rắn và khí như các nguồn năng lượng
do than đá, khí đốt, và năng lượng nguyên
tử;
·
Các hệ thống PV
nầy có thể thiết lập ngay tại khu đông
đúc gia cư, hay ngay trên nóc các chung
cư hay cơ xưởng lớn;
Mặc dù hiện nay giá thành của việc thiết
lập một hệ thống PV cao hơn 10 so với
một nhà máy nhiệt điện dùng than đá, 2 lần so
với nhà máy nguyên tử, 4 lần so với nhà máy dùng khí
tái lập (renewable gas), hệ thống PV, một khi đă
được thiết lập th́ chi phí điện
năng sử dụng sẽ được giữ cố
định trong ṿng 20 năm sau đó v́ hệ thống
không cần đến nhu cầu nguyên liệu và các PV
đă được bảo đảm vận hành suốt
đời.
Đứng trước t́nh h́nh thế giới
hiện tại sau biến cố 911, năng lượng
mặt trời c̣n mang ư nghĩa lịch sử thời
đại, đó là t́nh trạng khủng bố trên toàn
thế giới hiện tại.
Thiết nghĩ, những kẽ khủng bố sẽ không
gây được tiếng vang lớn sau khi phá hoại
thành công một hệ thống PV cố định trên
mặt đất hay trên nóc các chung
cư. V́ làm như thế, thiệt hại nhân sự
sẽ không đáng kể do đó không đánh động
được tâm lư sợ hăi của người dân và
chính quyền sở tại.
Paul D. Maycock, chủ tịch của PV Energy Systems, Hoa
Kỳ tuyên bố rằng: Đây là
một loại năng lượng sạch, yên lặng
(không gây ra tiếng động), không độc hại,
không sử dụng nguồn nguyên liệu có gốc hữu
cơ, đáng tin cậy (reliable) và trong một tương
lai gần (2010) sẽ là một nguồn năng
lượng rẻ nhất cho các đơn vị gia cư
và cơ sở thương mại. Tại Nhật
Bản, hiện tại giá điện năng do PV sản
xuất rẻ hơn giá điện năng do các ngừa
năng lượng khác, từ 11 đến 15 xu/kwh so
với 21 xu/kwh. Tuy nhiên đối với Hoa Kỳ th́ giá
điện năng của PV tương đối c̣n cao
v́ Hoa Kỳ là một quốc gia có giá điện rẻ
nhất thế giới từ 9 đến 15 xu/kwh tùy theo
vùng.
Nếu tính về lâu dài trong ṿng 20 năm th́ việc
lấp đặt một hệ thống PV vẫn c̣n có
hiệu quả cao. Một thí
dụ cụ thể cho một đơn vị gia cư
hiện tại: Chi phí lấp đặt hệ thống PV
là 17.243 Mỹ kim; số tiền nầy sẽ
được chính phủ bồi hoàn lại (rebate) là 13.400 Mỹ kim.
Và hàng tháng chủ nhà chỉ trả phí tổn năng
lượng tiêu thụ là 6 Mỹ kim và 2,18
Mỹ kim cho chi phí thuê đồng hồ đo. Thêm một
lợi điểm nữa là, năng lượng trên có
thể được dự trữ để dùng trong
thời gian trời không đủ nắng hoặc
chuyển tải điện năng dư thừa qua các
đơn vị gia cư khác.
Năng lượng cho
Việt Nam
Việt
Việt
Ngay sau khi công bố quyết định trên, TS
Phạm Duy Hiển, Giám đốc ḷ phản ứng
hạch nhân Đà Lạt trên 20 năm đă có nhận
định là Việt Nam không nên sử dụng nguồn
điện năng nầy v́ mức an toàn vẫn c̣n
chưa được bảo đảm, ngay cả
đối với các quốc gia có nền công nghệ cao.
Kết luận
Đối với các nước đang phát triển
ở Á châu như Trung hoa, Thái lan, Lào,Việt Nam, việc
thiết lập các đập thủy điện mới
để giải quyết nhu cầu điện năng
cho quốc gia trong hiện tại là một việc làm
thiếu một tầm nh́n nghiêm chỉnh cho tương
lai. Họ không rút tỉa được kinh nghiệm
của các quốc gia Tây phương đang trên đà phá
vỡ các đập đă xây dựng ngơ hầu tái tạo
hệ sinh thái của vùng, đồng thời cũng không học
hỏi kinh nghiệm về các tác hại môi trường v́
không nghiên cứu tác động môi trường trong kế
hoạch thiết lập đập.
Đối với nguồn năng lượng do nguyên
tử năng, mức an toàn trong vận hành và việc
giải quyết phế thải hạch nhân vẫn là
một dấu hỏi lớn và tác hại đến nhân
sự và môi trường trong trường hợp tai
nạn xảy ra đă làm cho nhiều quốc gia do dự
khi quyết định xây dựng thêm nhà máy. Thêm nữa
năng lượng nầy thải hồi nhiều thán khí
(CO2) ảnh hưởng đến tầng ozone của
bầu khí quyển và nhất là phế thải nguyên tử
vẫn c̣n là một nan đề chưa
giải quyết được của nhân loại.
Do đó, năng lượng mặt trời thiết
nghĩ vẫn là một nguồn năng lượng
tương đối tối ưu cho điều kiện
Việt
Mai Thanh Truyết