DIOXIN:
Từ Trận
Giặc Báo Chí Sàigòn - Đến Báo Cáo Hatfield
Vấn đề dioxin-chất da cam đã
được dư luận thế giới và Hoa kỳ lưu ý ngay từ sau khi có những yêu
cầu đòi hỏi chính phủ Mỹ phải bồi thường và cung cấp bảo hiểm y tế
cho các cựu quân nhân Hoa kỳ đã từng tham chiến tại Việt Nam. Về
phía Việt Nam, sự việc cũng đã âm ỉ từ sau chiến tranh cho đến cuối
thập niên 80. Kễ từ thập niên 90 trở đi, những báo cáo sơ bộ, các
cuộc phỏng vấn từ cấp địa phương bắt đầu xuất hiện trên báo chí
Việt Nam. Mọi trăn trở thao thức thỉnh thoảng được đưa lên mặt báo
qua các bài phóng sự của cá nhân hoặc chính quyền địa phương và trung
ương.
Nhưng từ khi báo cáo 4/2000
của Cty Hatfield và Ủy ban 10-80 ra đời, và mới nhất là báo cáo của
Arnold Schecter, giáo sư đại học Texas, trường Y tế Công cộng (School of
Public Health) ở Dallas ( J. Occup. Environ. Med., 43, 101 (2001)) gần đây,
thì hiện tượng “trăm hoa đua nở” về vấn đề dioxin-chất da cam lại nở
rộ khắp nơi. Báo chí trên thế giới, các hảng thông tấn...lấn lượt
chuyển những tin nóng sốt từ Việt Nam nhất là những khám phá mới
nhất ở các địa phương về nguy cơ bị nhiễm độc dioxin. Đâu đâu cũng
nghe nói đến dioxin trong khoảng thời gian gần đây. Riêng tại Việt
Nam, hầu hết các báo chí đều đăng tải những suy diễn cùng bình luận
dựa theo dữ kiện được cung cấp qua những kết luận của hai báo cáo
đan cử trên, đặc biệt là bản đúc kết của Cty Hatfield. Bác sĩ Lê Cao
Đài, Giám đốc điều hành Quỷ Bảo trợ Nạn nhân Chất độc Da cam là
một trong những thành viên tích cực nhất trong việc khơi động “nỗi đau
dioxin” ở Việt Nam.
Huyền thoại dioxin
Trong những tháng gần đây,
người viết xin lần lược trích dẫn một số các bài phóng sự trên để
người đọc có thêm khái niệm của vấn đề cũng như tìm hiểu thêm ý
niệm cùng những “ý đồ” về chính sách của chính quyền trong việc đánh
động và giải quyết vấn nạn dioxin.
Trước hết, trên báo Lao
Động, trong mục Phóng sự ngày 19-3-2001, Nguyễn Quang Vinh, người đã
từng “hạch tội thằng trời” nhân vụ lụt miền Trung năm 1999, bắt đầu
hát “Nam ai” qua tựa đề “Cam Lộ – Nỗi đau dioxin” như sau:” Tôi tìm về
một mãnh làng nhỏ về phía Tây tỉnh Quảng Trị, vùng đất bị quân Mỹ
rải chất độc hóa học nhiều lần và chứng kiến những cảnh tượng đau
lòng do chất dioxin tác hại lên mạng sống của bao người, trong đó,
đau lòng nhất là số phận của các cháu bé được sinh ra từ sau chiến
tranh.”. Sau đó anh mô tả quang cảnh điêu tàn của vùng Cùa “troót
mứt” (vùng có nhiều mật ong trước kia), phỏng vấn gia đình có con cái
dị hình dị dạng:” Bà con trong làng xả nói với nhau, chừ biết làm
răng, rủi ro nhà nào sinh con ra bị phải chất độc ấy thì cắn răng
chịu, không có thuốc chi chửa trị được.” Để rồi, cuối cùng Vinh kết
luận:” Dấu hỏi gieo vào giữa trời đất, gieo vào biết bao thân phận
ở làng và khóc nghẹn đợi mãi câu trả lời...”
Cũng trên báo Lao Động, mục
Quốc tế, ngày 27-4-2001, Vĩnh Nguyên, dựa theo bản tin của Reuters, đã
chạy hàng tít lớn”Con cái cựu chiến binh Mỹ bị ảnh hưởng chất độc
màu da cam”. Bản tin nêu ra một báo cáo của Viện Y học Hoa kỳ
(Institute of Medicine) nói về mối liên quan giữa người lính Mỹ từng
tiếp xúc với chất da cam ở Việt
Nam và bịnh bạch cầu cột sống cấp tính (acute myelogenous leukemia – AML)
ở con cái họ. Bản tin cũng đăng tải trường hợp của 50.000 cựu chiến
binh Úc, cho biết bịnh AML cao từ ba đến sáu lần ở con cái họ so với
những đứa trẻ mà bố không tham chiến ở Việt Nam. (Tin tức nầy đã
được Bộ Y tế Úc cải chính ngay sau đó và tuyên bố chưa hề công bố
báo cáo liên quan đến bịnh AML và cựu chiến binh Úc). Tuy nhiên, tác
giả bài phóng sự đã “khẳng định” như sau:” Kết luận nầy (của Viện Y
học) sẽ mở đường cho một quá trình thủ tục(?) cần thiết để chính
phủ Mỹ trả tiền chăm sóc con cái những cựu chiến binh bị mắc bịnh”
(ngầm hiểu là gồm luôn cả cưụ chiến binh Việt Nam và thân nhân).
Trong lúc đó, cũng trong bản tin trên bằng tiếng Anh (không có ghi
trong bản tiếng Việt trên báo), có thêm đọan: Anthony Principi, Bộ
trưởng Bộ Cựu chiến binh Hoa kỳ đã cực lực công bố ”không có bằng
cớ chắc chắn xác nhận mối liên hệ giữa trẻ con (mắc bịnh AML) và
các bố là cựu quân nhân đã từng tham chiến tại Việt Nam hay
Camdodia”.
Ngày 9-5-2001, báo Lao Động
trong mục Phóng sự lại “phản ánh” hậu quả chất độc da cam đối với
người dân ở quanh khu vực sân bay Biên Hòa và cho biết đã phát hiện
thấy lượng dioxin cao gấp 135 lần so với người sống ở Hà Nội. Và
điều đáng lưu ý là số người bị nhiễm độc lại không phải là người
đã từng sống tại Biên Hòa trong những năm chiến tranh. (lời người
viết, tin trên dựa theo báo cáo của Schecter). Lê Thanh Huyền mô tả
hình ảnh nhân từ và bác ái của Bs Lê Cao Đài dưới tựa đế “Người đi
tìm dioxin”: “ Ông có một nổi đam mê khác hơn mọi người, nơi đâu có
nhiều sản phụ sinh con quái thai, dị dạng là ông quyết tìm đến bằng
mọi giá. Ông đi là để “bộ sưu tập” về những nạn nhân chất độc da
cam ngày một phong phú hơn, đủ bằng chứng để ông tố cáo trước dư
luận về một tội ác tày trời do cuộc chiến tranh hóa học của quân
đội Mỹ gây nên ở chiến trường Việt Nam suốt cả một thập kỷ.”
Ngày 18-5-2001, cũng trên
báo Lao Động, nhưng dưới mục Thời sự, Diên Hy đã chạy hàng tít: “Các
nhà khoa học Mỹ công nhận hậu quả chất độc da cam gây ra ở Việt
Nam” . Diên Hy kết luận:”Chất độc màu da cam vẫn tiết tục là di sản
chiến tranh thảm khốc không thể bỏ qua được”.
Ngày 24-6-2001, Bác sĩ Lê Cao
Đài lại được đặc phái viên Hùynh văn Mỹ ca ngợi trên cùng một mặt
báo dưới tựa đề “Người bạn của những nạn nhân da cam” với lời giới
thiệu thật cảm động:”Với giáo sư bác sĩ Lê Cao Đài, chỉ tính riêng
những đoạn đường ông đa õròng rã hơn 20 năm nay lo việc nghiên cứu,
kiếm tìm giải pháp đối phó với những hậu quả nguy hại của chất da
cam cũng như tìm cách làm giảm nỗi đau của cả triệu nạn nhân loại
chất độc ghê khiếp nầy... là quả một quảng đường dài kỷ lục”. Lần
nầy giáo sư đi tìm dioxin từ Thừa
Thiên , Huế, Đà Nẳng, Quảng Nam, Hôị An, Bình Định... “ khi các xét
nghiệm dioxin trên máu chưa có, vận động nhiếu người cho mõ không
được, ông đã lấy mỡ của mình để làm xét nghiệm.” (Lời người viết:
Ông Bác sĩ-tiến sĩ Lê Cao Đài lấy mõ cuả chính ông để xét nghiệm
cái gi? Để tìm dioxin ư?). Và sau cùng Hùynh văn Mỹ kết luận thế cho
lời giáo sư Đài:”Bi kịch không chỉ những người vì họ, bởi cuộc đấu
tranh vì họ phải đâu không gặp những gập ghềnh, khắc khoải”.
Chiến dịch dioxin lại xuất
hiện trên Lao Động ngày 6-7-2001, với bản tin TTXVN dưới tiêu đề “Ủng
hộ nạn chân chất độc màu da cam”. Bản tin cho biết rằng Phú Thọ đã
vận động hơn 800 triệu đồng (Việt Nam) ủng hộ các nạn nhân bị nhiễm
chất độc màu da cam và trên tòan tỉnh có 4.900 nạn nhân. Thái Nguyên
cũng tiếp tay và vận động được hơn 300 triệu đồng ủng hộ trên 600
nạn nhân chất độc màu da cam.
Tin tức nhận được ngày
13-7-2001, Lê Huân đã đi bài:” Qui Nhơn tẩy độc dioxin”. “Sau vùng bị
nhiễm độc nặng dioxin ở khu vực sân bay Biên Hòa được công bố, một
vùng đất nữa cũng đang bị dioxin đe dọa vừa được phát hiện và cũng
là hầm chứa dioxin đầu tiên được tẩy độc”. “ Với quyết tâm của
lãnh đạo tỉnh, để các thế hệ sau chiến tranh khỏi bị nhiễm chất độc
da cam, chúng ta phải cứu ngay từ gốc.” Để sau cùnh lãnh đạo tỉnh kết
luận “đã quyết định tẩy độc ngay vùng đất bị nhiễm chất độc da cam
nguy hiểm nhất” (nhưng vẫn không cho biết biện pháp xử lý như thế
nào cũng như làm sao xác định được đó là chất độc màu da cam? (lời
người viết)).
Và sau cùng trên báo Lao
Độngngày 9-8-2001, Lê Thanh Huyền dưới tựa đề “Lời cảnh báo từ môi
trường” đã làm một phóng sự về Trung tâm Trung ương Bướu thành phố
Hồ chí Minh, khoa Nội 3. Nơi đây đã có hàng trăm cháu nhỏ nằm...chờ
chết vì hậu quả của dioxin...! Ông kết luận: “Tôi không khỏi giật
mình khi những con số về hậu quả chất độc hóa học đã xử dụng trong
chiến tranh Việt Nam đã được “xới” lại nóng hổi với những con số lo
ngại. Trong thiên nhiên, Việt Nam vẫn còn một lượng dioxin tồn lưu
khá cao ở mức độ khác nhau (lời người viết: làm sao tác giả có thể
xác định đó là dioxin?). Vấn đề là hàm lượng dioxin còn tồn đọng là
bao nhiêu ở những vùng bị rải chất độc hóa học?”
“... Sự tồn lưu trong đất
của dioxin ở các địa phương phía Nam vĩ tuyến 17 còn kéo dài thì tình
hình bệnh tật, dị tật bẩm sin của các thế hệ con cháu ở các nạn
nhân bị nhiễm chất da cam có thể còn kéo dài đến những năm 40 hay 50
của thế kỷ XXI.”
Trên đây là những trích
đọan của báo Lao Động thông tin về chất màu da cam dưới nhiều khía
cạnh khác nhau. Chỉ trong một thời gian ngắên, mà có nhiều khám phá
mới mẻ về chất độc nầy mà trong suốt hơn 25 năm qua không ai được
biết đến. Mục tiêu của người viết là nêu lên một cách trung thực
tin tức trên báo chí Việt Nam để độc giả những người Việt Nam còn
có tấm lòng với đất nước suy nghiệm. Vấn đề nơi đây không phải là
việc tranh cải về sự hiện diện của dioxin trong chất màu da cam, mà
cần phải tìm hiểu thêm ở đến mức độ nào dioxin (hay 2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin,
hay TCDD, hay T4CDD) có thể ảnh hưởng lên sức khỏe của con người.
Thêm nữa, nếu xét về mặt định lượng, dioxin có trong hổn hợp 50/50
giữa 2,4-D và 2,4,5-T, hay chất màu da cam, là một phế phẩm có trong
quy trình sản xuất 2,4,5-T, do đó chiếm tỷ lệ rất thấp, ước tính
khoảng 2 ppm trong dung dịch. Hổn hợp nầy được pha lõang từ 10 đến 20
lần trong xăng hoặc dầu trước khi được phung xịt vào các vùng núi
non, rừng rậm, những vùng không hoặc thưa dân cư....như một loại
thuốc khai quang trong chiến tranh Việt Nam. Việc tính tóan hàng triệu
gallons được phung xịt trong suốt mười năm chiến tranh, và từ đó quy ra
một lượng khổng lồ của chất dioxin hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam
thiết nghĩ cũng cần nên tính tóan lại cho đúng với thực tế. Báo cáo
đúc kết chi tiết của Cty Hatfield được phân tích và bình luận ở phần
tiếp theo sẽ góp thêm tiếng nói vào một đề tài rất nhạy cảm nầy.
Bài viết nầy dựa trên các
tư liệu trích từ hai báo cáo của Hatfield Consultants Ltd (West Vancouver,
Canada) và đối tác Việt Nam là Ủy ban 10-80 (thành lập vào tháng
10/1980 tại Hà Nội). Công ty Hatfield được cơ quan Canadian International
Development Agency tài trợ. Báo cáo thứ nhất đúc kết các cuộc điều
tra sơ khởi và thu thập dữ kiện từ năm 1994 – 1998. Báo cáo thứ hai
công bố vào tháng 4/2000 dưới tiêu đề ” Development of Impact Mitigation
Strategies Related to the Use of Agent Orange Herbicide in the A Luoi Valley,
Viet Nam”. Cả hai báo cáo gồm trên 1.000 trang được in lại qua 2 CD-Rom
mua từ Cty Hatfield.
Mục
tiêu của bài viết là cố gắng làm sáng tỏ hay phơi biện những nghi
vấn cùng các luận cứ không đủ sức thuyết phục, hoặc thiếu cơ sở
khoa học, hoặc vô tình hay cố ý đánh lạc hướng dư luận...của các
kết luận và đề nghị của Cty Hatfield và Ủy ban 10-80.
Cty
Hatfield đã chọn thung lũng A Lưới, cách Huế 65 Km về hướng đông để
làm địa điểm nghiên cứu. A Lưới đã từng nổi tiếng một thời dưới
danh hiệu Ngọn đồi 937 (Hill 937) hay Hamburger Hill. Căn cứ nầy đã bị
quân đội Hoa kỳ bỏ hoang vào tháng 5/1969. A So hay A Shau hay Đồng Sơn
(tên đặt sau 1975) là một căn cứ không quân nhỏ của quân đội Hoa
kỳ nằm phía nam của thung lũng,; căn cứ đã bị bỏ hoang từ 8/12/1965.
Tại hai nơi nầy, chất khai quang màu da cam đã được phung xịt nhiều
nhất trong suốt thời gian từ 1965 đến 1970. Có tất cả 224 phi vụ trên
tổng số 606 phi vụ của vùng Thừa Thiên được rãi xuống A Lưới trong
khoảng thời gian nầy.
Các
mẩu đất, máu, sữa mẹ, và thực động vật lấy từ thung lũng tương đối
không nhiều do chi phí phân tích quá cao (khỏang US$ 1.000/mẩu). Có 28
mẩu được phân tích trong năm 1996
cho vùng A Lưới, và 22 mẩu cho A So trong năm 1997. Các mẩu được phân
tích tại AXYS Analytical Services Ltd, Canada và đây là một trong 26
phòng thí nghiệm được cơ quan Y tế thế
giới (WHO)
chọn
lựa để phân tích.
Sau
đây là kết quả các cuộc phân tích trích ra từ báo cáo trên:
A
So:- (sâu từ 0 – 10 cm) 110 ppt (một phần ức – 10 -12 ) 1/1996;
898 ppt (11/97); 220 (3/99)
-
(sâu từ 10 – 30 cm) 32 ppt (1996);
Ngoài A So: từ ND* - 1,7 ppt
(1996) (ND = not detected);
Đáy
hồ A So: 6,9 ppt (1996), 1,8 – 8,5 ppt (1997), 6,9 (1998);
A
Lưới: 1,1 – 0,9 ppt (1997);
Đáy
sông A Sap, A Lưới: 0,8 – 1,2 ppt (1996);
Đáy
hồ A Lưới: 5,3 ppt (1997);
Rễ
khoai mì: ND (1996), ND (1997).
Mô
mở/ A So: 51 ppt (1/96), 6,1 – 34 ppt
(11/97), 1,9 – 21 ppt (1999);
Gan/A
So: 2,4 ppt (1/96), 1,1 ppt (1999);
Thịt/A
So: 0,4 ppt (1999);
Gan/A
Lưới: 1,0 ppt (1999).
Gan
vịt/A So: 1,4 ppt (1/96);
Gan
vịt/A Lưới: ND (1996);
Mở
vịt/A So: 6,1 ppt (1997);
Gan
heo/A So: ND (1996), ND (1999).
Đàn
ông: - (lớn hơn 25 tuổi) 31 ppt (1997),
41 ppt (1999);
-
( từ 12 – 25 tuổi) 21 ppt (1997), 31 ppt (1999);
Đàn bà : - (lớn hơn 25 tuổi) 25 ppt (1997), 16 ppt (1999);
-
(từ 12 – 25 tuổi) 12 ppt (1996), 14 ppt (1999);
Các kết luận sau đây được ghi nhận trong báo cáo 1998:
·
Dây chuyền thực phẩm (food-chain) có chỉ dấu
nhiễm độc dioxin trong đất, đáy hồ, cá, vịt , và người ở gần căn cứ
A So.
·
Ở những vùng khác của thung lũng A Lưới
lượng dioxin ở dưới mức tác hại căn cứ theo định mức Tây phương.
·
Lượng dioxin tương đối cao được tìm thấy trong
máu cư dân sống quanh căn cứ A So. Trẻ em sinh sản sau chiến tranh
cũng có lượng dioxin cao trong máu chứng tỏ rằng dioxin đã xâm nhập
vào dây chuyền thực phẩm.
·
Số lượng phân tích cho thấy có sự liên hệ
trực tiếp giữa chất màu da cam và môi trường có ảnh hưởng lên sức
khỏe con người.Tuy nhiên báo cáo cũng đề nghị cần phải có những
khảo sát sâu rộng hơn nữa cùng với sự tham gia của các tổ chức đa
quốc gia gồm những chuyên viên chuyên môn về dioxin để thẩm định lại
những mối liến hệ trên.
Nhìn
chung các kết luận và đề nghị trong báo cáo sơ khởi nầy tương đối
khách quan và trung thực dựa theo các số liệu thu thập được. Qua đến
báo cáo 4/2000, và cũng là báo cáo tổng kết, sự việc hòan tòan
trái ngược hẳn. Cáo số liệu trong báo cáo trước đã được xử dụng
lại cộng thêm một số kết quả phân tích mới trong năm 1997,ø 1998, và
1999.
Về
Đất. Trước hết, theo kết luận của Hatfield, căn
cứ theo kết quả thu thập năm 1996, 1997 thì vùng đất đã bị ô nhiễm
dioxin phải được tuyên bố là “vùng ô nhiễm” (contaminated site)
(trang 2 trong báo cáo) căn cứ theo quy định Tây phương (western
juridictions). Theo luật Canada, đất nông nghiệp và đất xây cất nhà ở
(residential) thì tiêu chuẩn dioxin có thể ảnh hưởng lên sức khỏe
người dân không được vượt quá 350 ppt. Trong lúc đó, US EPA đã thẩm
định và tái thẩm định liên tục tác hại của dioxin để định mức tiêu
chuẩn chấp nhận được hơn 10 năm nay mà vẫn chưa có kết luận chắc
chắn , và định mức chấp nhận sự hiện diện của dioxins trong đất hiện
tại là 1.000 ppb (phần tỷ – 10 -9 ). Đối với những chất
dioxin tương đương (dioxin-like compounds) như các hợp chất hữu cơ có
chứa chlor, có trong hầu hết các thuốc diệt cỏ dại hiện đang được
xử dụng hàng loạt ở Việt Nam, định mức của US EPA còn thấp hơn so
với dioxin, như DDE, DDD, DDT là 87 ppb, Dieldrin, Endrin, 130 ppb, Aldrin,
Lindane, 86 ppb, BHC, 66 ppb. Đây là định mức tối đa để xử lý các chất
phế thải rắn độc hại thuộc nhóm lọai F039 của US EPA. Nếu chất phế
thải hay đất được phân tích và cho kết quả dưới các định mức trên
thì được di chuyển vào các bãi rác an tòan không cần qua khâu xử lý
(Code of Federal Regulations – CFR EPA 40 Parts 260).
Về
máu người. Kết quả phân tích và suy diễn hàm lượng
dioxin trong máu của cư dân sống tại A So đã được trình bày trên đây
cho thấy có hiện tượng không bình thường. Để có khaí niệm về hàm
lượng dioxin trong máu người dân sống ở các nước Tây phương, các số
liệu sau cho thấy lượng dioxin trung bình trong máu người dân sống chung
quanh các cơ sở hay nhà máy sản xuất có nguy cơ phóng thích ra dioxin
trong quy trình sản xuất:
·
Hoa kỳ (Dân chúng sống chung quanh nhà máy
giấy): 8,6 ppt dioxin;
·
Canada (Nhà máy chế biến tôm cá biển): 5,7 ppt;
·
Hoa kỳ, Âu châu (Các nhà hóa học phân
tích): 8,6 ppt;
·
Nga sô (Nhân viên văn phòng ở nhà máy hóa
chất nông nghiệp): 23,5 ppt;
·
Đức (nhà máy sản xuất 2,4,5-T): 331,8 ppt và 125,6 ppt ở hai thành phố sản xuất
khác nhau;
·
Nga sô (Nhà máy sản xuất 2,4,5-T) 168 ppt
(đàn ông), 202 ppt (đàn bà).
Cũng
xin nói thêm là 2,4,5-T (tên thương mại là Silvex) đã bị cấm xử dụng
và sản xuất từ năm 1985 tại Hoa kỳ.
Đối
với tai nạn PCBs ở Bỉ năm 1999, Mattias Uberg đã đo đạc được nồng độ
dioxin trong mô mở của gà từ 500 – 1000 pg/g (lượng dioxin bình thường
trong mở của gà là 0,6 pg/g) (pg/g = ppt).
Về
tai nạn tại Seveso ở Ý, Micheal Petty tại Dioxin Conference (7/1/1999)
công bố rằng thú vật sống chung quanh nhà máy bị chết sau vài ngày
đến vài tuần và không có người chết nào cả ngoại trừ ông Giám
đốc nhà máy bị Vệ binh Đỏ (Red Brigades) giết! Và thống kê từ năm
1976 đến 1996 cho thấy tỷ lệ về tình trạng hư thai, thai nhi thiếu cân
lượng, hay khuyết tật bẩm sinh (congenital malformations) không thay đổi
nơi vùng xảy ra tai nạn ước tính khoảng 30 Kg dioxin thất thoát ra
ngoài...
Tiến
sĩ Bruce Ames, nhà độc tố học nổi tiếng trên thế giới nhận định và
so sánh rằng, lượng dioxin mà con người hấp thụ trong thực phẩm hàng
ngày khoảng 1pg/Kg/ngày sẽ làm tăng sác xuất ung thư thấp hơn việc
uống một lon bia/ngày trong 125 năm, và khả năng sinh con dị hình dị
dạng thấp hơn việc uống bia trong 3000 năm!
Trong
lúc đó, Greenpeace International công bố ngày 21/4/1997 rằng, ba phần tư
lãnh thổ Nga Sô bị ô nhiễm dioxin. Lý do chính yếu là do việc sản
xuất PVC (polyvinylchloride) trong thời gian từ thời Staline đến ngày
nay. Với 1 kg PVC được thiêu hủy sẽ sinh ra môt lượng dioxin đủ để
giết sạch 50.000 chuột! Tại thành phố Dzerzhinsk, cách Moscova 320 Km,
lượng dioxin cao gấp 50 lần định mức bình thường. Tình trạng tương tự
như ở St Petersburg, Povolvic và một phần Urals.
Ở
những nơi có hàm lượng dioxin cao trong máu như một vài vùng ở Đức,
Nga sô, mãi cho đến nay, vẫn chưa thấy có báo cáo chính thức nào về
các hiện tượng dị hình dị dạng cũng như các chứng ung thư xảy ra cho cư
dân sống chunh quanh vùng bị ô nhiễm.
Về
sữa mẹ. Báo cáo cung cấp lượng dioxin tìm thấy trong
sữa mẹ ở vùng A So trong năm 1999 thay đổi từ 1,9 đến 19 ppt cho 16
mẩu thử nghiệm (trung bình là 14.6 ppt). Trong lúc đó, ở các quốc gia
Tây phương lượng dioxin trung bình trong sữa mẹ được ghi nhận như sau:
Đức (526 mẩu thử nghiệm)ï 3,2 ppt (số liệu của Cty Hatfield); Kazakhstan
(vùng nông thôn ở Nga sô, 8 mẩu) 46,5 ppt (số liệu của Hatfield) ; Los
Angeles (21 mẩu) 3,1 ppt; Birmingham (Anh quốc, 1 mẩu) 6,5 ppt; Thuỵ điển
(10 mẩu) 3,3 ppt; Hòa lan (nông thôn, 1 mẩu) 5,2 ppt; và Bỉ (vùng kỹ
nghệ, 1 mẩu) 10,2 ppt. Theo báo cáo nghiên cứu của Kim Hooper et al.
(Environmental Health Perspectives Volume 107, Number 6, June/1999) thì mức
độ ô nhiễm ở vùng nông nghiệp phía Nam tỉnh Kazakhstan (Nga Sô) rất
cao. Lượng dioxin trong sữa mẹ đã lên đến 208pg/g (hay ppt) (phần ức)
qua 64 mẩu thử nghiệm, vùng nầy là một vùng trồng bông vải và đã
xử dụng thuốc diệt cỏ dại có chứa TCDD. Người viết đã trực tiếp
hỏi Tiến sĩ Hooper về tình trạng
sức khỏe ở vùng nầy nhưng được cho biết là không có báo cáo về
vấn đề nầy.
Sau
tai nạn PCBs tại Bỉ, lượng dioxin trong sữa mẹ tăng gấp 10 lần so với
sữa bò. Tuy nhiên, các nhóm trẻ em từ
3 tháng , 7 tháng, và 18 tháng được Ferdinand O. Engelbeen so sánh
và theo dõi bằng cách cho uống sữa mẹ và sữa bò trong một thời
gian. Nhưng cuối cùng, tình trạng sức khỏe giữa các nhóm kễ trên
không có gì thay đổi.
Karl
Heinz Wilm (OurFood (c) 1998 – 2000) đã làm thống kê và dựa theo báo
cáo của WHO thì lượng dioxin trung bình trong sữa mẹ của người Đức 29,6 ppt
vào năm 1985. Từ sau năm nầy, chính phủ Đức phát động chương
trình khuyến cáo các bà mẹ bớt ăn thịt gia súc có nhiều mỡ vì dioxin
đã tích tụ nhiều nhất nơi đây. Và kết quả là cho đến năm 1994,
lượng dioxin trung bình trong sữa mẹ đã giãm xuống còn 15,9 ppt. Nếu so
với lượng dioxin đo đạc được của Cty Hatfield thì các bà mẹ Đức cưu
mang trong người lượng dioxin nhiều hơn so với các bà mẹ A So!!! Và
thế hệ trẻ của Đức quốc vẫn còn khỏe mạnh và chưa có báo hiệu bị
nhiễm độc dioxin và phải chịu nhiều hậu quả như ở A So.
Tóm
lại, các số liệu và dữ kiện
trên đây là những bằng cớ xác định sự hiện diện của dioxin
trong máu và sữa mẹ của cư dân sống ở vùng A So, nơi bị phung xịt rất
nhiều chất da cam, và những nơi trên thế giới đã xảy ra tai nạn hay
nhiễm độc dioxins. Kết quả so sánh cho thấy nồng độ trong máu giữa
các nơi kễ trên cũng không sai biệt bao nhiêu, và tại những nơi nầy
cũng chưa thấy có chỉ dấu bất thường nào cả.
Ngay trong phần mở đầu của
phần kết luận trong báo cáo 4/2000, Cty Hatfield đã “khẳng định” như sau
:” Cho đến ngày nay, với mức độ của dioxin hiện diện trong môi trường
và trong máu cư dân sống quanh thung lũng A Lưới và nếu trường hợp trên
xảy ra ở những nơi như Hoa kỳ, Canada, hay Âu châu, thì một kế hoạch
bảo vệ sức khoẻ người dân sẽ được khai triển tức khắc để hạn chế
hay giải quyết vấn đề”. Theo sự
ghi nhận của người viết, tại Hoa kỳ, vấn đề giải quyết và xử
lý ô nhiễm dioxin chỉ xảy ra trong một trường hợp duy nhất ở thị trấn
Times Beach (Missouri), và quyết định của chính quyền sở tại là phải di
chuyển 1.400 cư dân trong thành phố nầy và tiêu hủy một số lượng lớn
xà bần đã bị ô nhiễm. Cũng tại Hoa kỳ, có rất nhiều nhà máy sản
xuất giấy tập trung ở tiểu bang Wisconsin, là nơi sản xuất giấy và
các sản phẩm về giấy lớn nhất thế giới; các cơ sở nầy thải hồi
vô số chất phế thải rắn và lỏng trong quy trình sản xuất có chứa
dioxin....nhưng cho đếùn nay vẫn chưa có báo cáo về ảnh hưởng của hóa
chất trên lên cư dân hay công nhân làm việc trong vùng.
Trong
phần kết luận về đất, Cty Hatfield lại “khẳng định” thêm: “Phần lớn
đất ô nhiễm đã liên đới một cách rõ ràng (clearly) với 2,3,7,8-T4CDD
chất da cam chứ không phải phát xuất từ các nguồn kỹ nghệ nào khác
của dioxin”. Nói như thế, tức là “khẳng định” một cách vô căn cứ,
hòan tòan không dựa theo một căn bản khoa học nào cả. Trong lúc đó
các thuốc diệt cỏ dại, thuốc trừ sâu rầy đan cử ở phần trên đã
được xử dụng hàng loạt trong canh tác kễ từ sau chiến tranh mà nồng
độ tìm thấy cao hơn nhiều so với nồng độ dioxin hiện diện, và các
thuốc nầy cũng là những hóa chất nầy được xem như là hợp chất tương đương dioxin . Hậu quả
và mức tác hại của những chất trên đã được chứng minh và xác định
một cách “rõ ràng” ảnh hưởng lên sức khỏe con người như: ung thư, dị
hình dị dạng nơi trẻ sơ sinh...giống như đã được gán cho dioxin.
Thêm
nữa, hàm lượng dioxin được tìm thấy ở thung lũng A Lưới như Hatfield
đã công bố vẫn còn thấp so với nhiều nơi trên thế giới, và tại
những nơi nầy vẫn chưa hề có những báo cáo để đánh động dư luận và
lương tâm thế giới như ở A Lưới. Theo ước tính của Arthur Westing
(Nature, London, 298, 114, 8-7-1982) trong báo cáo nơi Đại hội Quốc tế
về Thuốc Khai Quang và Diệt cỏ
tại Sàigon tháng 1/1983, trong số 57 triệu Kg chất da cam xịt
xuống miền Nam Việt Nam trên một diện tích độ 38.000 Km2, tổng cộng
có khoảng độ 170 Kg Dioxin . Và cũng theo báo cáo trên, sự bán hủy
(half life) của dioxin là mười năm, thử hỏi, sau hơn 30 năm, những vết
tích của dioxin có còn bao nhiêu nữa không?
Trong
số 128 thành viên tham dự Đại hôị đó có sự hiện diện của một số
khoa học gia trước 1975 như Phạm Hoàng Hộ, Phạm Biểu Tâm (đã qua
đời), Bùi Thị Lạng, Lê Văn Thới (đã qua đời) và Phùng Trung Ngân,
người viết xin trang trọng và thỉnh cầu quý vị gopù ý vào vấn đề hết
sức tế nhị nầy. Bác sĩ-Tiếùn sĩ Lê Cao Đài là một thành viên tích
cực trong việc “đi tìm dioxin” từ hơn hai thập niên qua, nhưng không
hiểu tại sao không có tên trong danh sách các tham dự viên trong kỳ
Đại hội Quốc tế nầy? Ông đã tham dự Đại hội Dioxin 2000 tại Monterey
(Hoa kỳ), nhưng cũng không hiểu tại sao ông không “tố cáo trước dư
luận...” về nạn nhiễm độc dioxin....mà phải đợi đến khoảng sáu
tháng trở lại đây mới công bố hàng loạt kết quả nghiên cứu về
dioxin mà các mẩu đất và máu đã được lấy từ những năm đầu 90 ?
Thêm
nữa, TS Nguyễn Khắc Viện có tố cáo trong Đại hội Dioxin tại Saigon
năm 1983 rằng, sau 1971, việc phung xịt thuốc màu da cam đã do Quân lực
VNCH đãm nhiệm cho đến khi chấm dứt chiến tranh. Điều nầy có đúng như
lời tố cáo không? Xin quý vị có thẩm quyền trong quân đội thời bấy
giờ lên tiếng.
Về
máu, Cty Hatfield lại “khẳng định”: “Các thử nghiệm năm 1999 xác nhận
mức độ cao của dioxin-chất da cam (AO dioxin) trong máu cư dân A So so
với kết quả năm 1997.” Kết luận nầy lại mâu thuẩn với những số
liệu đo đạc và “lời bình” (comments) của tác giả. Đối với đàn ông,
nồng độ trong máu tăng từ 31 ppt (1997) lên 41 ppt (1999), và đàn bà
giảm từ 25 ppt (1997) xuống còn 16 ppt (1999). Các số liệu trên đã nói lên tính cách suy luận có “định
kiến sẳn” của báo cáo rồi. Và với kết quả trên, làm sao giải thích
được dioxin đã xâm nhập vào dây chuyền thực phẩm qua gia súc và tôm cá... Hơn nữa, ở
một phần khác báo cáo giải thích rằng, đàn ông ở A Lưới vì thường
xuyên đi làm việc ở xa thung lũng, rất ít xử dụng lương thực có được
ở A Lưới...cho nên ít bị ảnh hưởng của dioxin qua thức ăn hơn. Nếu
nhận định như thế thì làm sao giải thích được lượng dioxin trong máu cao
nơi đàn ông? Và nếu kết quả đo
đạc là một xác tín, có phải chăng các nam nhân nầy đã bị nhiễm do
các hoá chất diệt cỏ dại, thuốc diệt trùng trong khi lao động ngoài
đồng?
Ở
phần kết luận về thuốc diệt cỏ dại, báo cáo ghi nhận:” Việc xử
dụng các thuốc diệt cỏ dại thực hiện ở mức độ thấp ở thung lũng,
do đó hàm lượng các chất trên còn ở mức độ thấp trong lòng đất và
sữa mẹ”. Và trong một bảng ghi kết quả, tổng lượng DDT, DDE, và DDD
trong sữa mẹ được ghi nhận là 10.611 ppt trong năm 1999 !?
Tại
sao Cty Hatfield và Ủy ban 10-80 lại chọn thung lũng A Lưới, một nơi
hoang dã và rất khó khăn đi lại làm điểm thí nghiệm? Có thể có
nhiều lý do trong đó:
·
A Lưới đã nổi danh dưới tên Hamburger Hill là
nơi quân đội Hoa kỳ với căn cứ không quân A So và có kho chứa chất
màu da cam, sẽ dễ làm xúc động quần chúng;
·
Hoặc dựa theo báo cáo của Hội Cựu quân
nhân Hoa kỳ trong việc đòi bồi thường về những hậu quả mà họ và
con cháu mắc phải;
·
Hoặc đây là một điểm nóng có thể đạt được
dương tính ngay trong khi phân tích mẩu;
·
Hoặc vì vùng nầy khó đi và do đó sẽ rất
khó kiểm chứng lại khi có vấn đề tranh cải.
Tại
sao phải đợi mãi đến tháng 11/1996 mới bắt đầu lấy mẩu trong khi Ủy
ban 10-80 đã được thành lập từ tháng 10/1980?
·
Có lẽ theo ước tính của Ủy ban, thời điểm
thuận lợi cho việc “la làng” không thích hợp với thời gian trước đây,
và năm 1996 là thời gian thuận lợi nhất ngay sau khi có được bang giao
chính thức với Hoa kỳ;
·
Hoặc vì chưa kết hợp với một đối tác đồng
thuận như Cty Hatfield trước đo,ù cũng như chưa nhận được nguồn tài trợ
trong thời gian đầu.
Cuối
cùng, sự mâu thuẩn trong số liệu về các mẩu thử nghiệm làm cho báo
cáo Hatfield có thêm nhiều nghi vấn! Trong phần đầu của báo cáo có
ghi tổng số mẩu đã được phân tích là 50 mẩu vì chi phí phân tích quá
cao. Nhưng trong Figure 2.12 thì tổng số mẩu tính riêng cho việc phân
tích máu mà thôi (không kễ việc phân tích đất, cây cối và súc vật)
đã lên đến 790 mẩu! Điều nầy cho thấy tính tiền hậu bất nhất và
thiếu tính trong sáng trong nghiên cứu khoa học.
Như
đã trình bày ở phần trên, chiến dịch hâm nóng lại vấn đề chất da
cam dioxin đã nở rộ từ hơn sáu tháng trở lại đây trên truyền thông,
qua báo chí khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam. Hầu hết
các các dữ kiện trong bài viết nầy đều căn cứ theo văn bản của báo
cáo 4/2000 của Cty Hatfield va Ủy ban 10-80.
Thử
hỏi, trong tất cả các ký giả, biên tập viên, chuyên viên...có bao
nhiêu người đã nghiên cứu tòan bộ số liệu ghi trong báo cáo, hay chỉ
dựa theo những đúc kết ngắn gọn và không có số liệu chứng minh của
Cty Hatfield tương tự như báo cáo đã đăng trên tạp chí Ottawa Citizen
tháng 4,2000 ở Canada (Xin xem ĐI TỚI số 46 tháng 6,2001).
Những
lời bình luận ở phần trên dựa trên căn bản của các số liệu công
bố trong báo cáo, và được xem như là những “dữ kiện thật và đúng”,
mặc dù dựa theo kinh nghiệm chuyên môn, vấn đề đo đạc dioxin vẫn còn
là một vấn đề cần phải thẩm định lại nhiều nơn nữa về cách lấy
mẩu, xử lý mẩu (tách ly – extraction), và các định chuẩn cần thiết
cho việc phân tích chính xác tới một phần ức (ppt ).
Dư
luận chỉ được biết qua báo chí và các phương tiện truyền thông
khác...và báo chí cũng như truyền thông thường chạy theo khuynh hướng
công bố những gì có lợi cho chế độ hiện hành hay tuân thủ theo
những lý do chính trị hay kinh tế chỉ định sẳn. Do đó, các thông tin kễ
trên thường mất đi tính khách quan của tinh thần khoa học, nhất là tại
các quốc gia đang mở mang. Hơn nữa, Cty Hatfield và Ủy ban 10-80 lại vô
tình hay cố ý tạo ra những báo cáo không trung thực, và đôi khi mâu
thuẩn với những khám phá đo đạc của chính công ty. Cty Hatfield đã
thẩm định và suy diễn một cách có dụng ý từ những “con số phân
tích” để đưa ra những kết luận có thể làm sai lệch sự thật.
Làm
như thế, Hatfield đã đánh lạc hướng dư luận quần chúng trên thế
giới, nhất là quần chúng Việt Nam có thể hiểu một cách sai lạc về
vấn đề chất da cam – dioxin do quân đội Hoa kỳ phung xịt xuống Miền Nam
Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong giai đoạn chiến tranh vừa qua.
Làm
như thế, Cty Hatfield có dụng tâm gì khác hơn là hy vọng có được một hợp
đồng béo bở cho việc xử lý vùng ô nhiễm?
Làm
như thế, Việt Nam hy vọng được gì ngòai việc đánh động lương tâm
thế giới, mong tìm được số tiền bồi thường khổng lồ từ phía chính
phủ Hoa kyø, mong được thêm tài trợ từ các cơ quan từ thiện
trên thế giới, hay thầm kín hơn nữa, mong giải thích cho đồng bào
cùng khổ ở Việt Nam biết được rằng vì hậu quả chiến tranh triền
miên mà không thể phát triển đất nước như mong muốn để cho dân giàu
nước mạnh được?!
Nên
nhớ, hiện tại chính phủ Hoa kỳ chấp nhận tài trợ chi phí y tế cho
cựu quân nhân Hoa kỳ và con cháu, không phải vì công nhận hậu quả
của dioxins, nhưng là một hành động thuần túy nhân đạo và chính trị
để trấn an dư luận của Hội Cựu Chiến binh Hoa kỳ.
Vấn đề dioxin hiện diện
trong chất màu da cam là một thực tế không cần phải bàn cải thêm
nữa. Nhưng vấn đề ở đây là làm thế nào xác định được một cách chính
xác và có căn bản về mức độ
nhiễm độc của dioxin lên con người. Hậu quả của dioxin phải
được chứng minh bằng khoa học và thử nghiệm đứng đắn. Những nơi có
đông dân cư và là những điểm nóng trong thờùi gian quân đội Hoa kỳ
hiện diện ở Việt Nam như Biên Hòa, Tân Sơn Nhứt, Đà Nẳng...cần phải
được thâm cứu hơn nữa để xác định hàm lượng của dioxin nếu có thể
có, ngõ hầu tìm phương án chửa trị cho những nạn nhân vô tình bị
vướng phải.
Làm
như thế, may ra mới có được sự tiếp tay của thế giới vì nhân đạo.
Làm
sao chất da cam dioxin có thể lên
tận Phú Thọ, Thái Nguyên ?
Ghi
chú: Trong buổi nói chuyện tại Houston ngày 12/8/2001 về “Hiện trạng
ô nhiễm ở Việt Nam”, người viết có hân hạnh được tiếp xúc với cựu
Đại tá Phạm Bá Hoa cựu Tham mưu trưởng Tổng cục tíêp vận và được
Đại tá cho biết Đại tá là thành viên trong Ủy ban 202. Ủy ban nầy
đặc trách liên lạc và phối hợp hành quân trong chiến dịch phung xịt
chất da cam ở Việt Nam. Ngay sau khi Hoa kỳ chính thức chấm dứt chiến
dịch phung xịt năm 1971, người Mỹ rút toàn bộ phi cơ và tất cả dụng
cụ về Hoa ky. Lời xác nhận nầy cũng được cựu Thiếu tá Trần Hội, sỉ
quan trang bị phi cơ, cũng hiện diện trong buổi mạn đàm đó. Thiếu tá
cũng cho biết thêm là trong thời gian còn tại chức, kho chứa các
thùng da cam đã bị cô lập và cũng không thấy có dấu tích rỉ chảy ra ngoài.
Khi
về lại, người viết đã liên lạc với cựu Đại tá Huỳnh Công Chức,
Chỉ huy trưởng tíếp vận tại Biên Hòa, hiện ngụ tại Fresno và cũng
được Đại tá xác nhận là không có việc quân đội VNCH hành quân
phung xịt tiếp theo chiến dịc Ranch Hand như lời của TS Nguyễn Khắc Viện
tố cáo trong Đại hội thế giới về Dioxin năm 1983.
Mai Thanh Truyết
West Covina, 10/8/2001