ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ DÂN GIÀU NƯỚC MẠNH
Kính thưa Quý vi,
Lời nói đầu tiên của tôi là xin cám ơn
Hội VAST, đã chu đáo cho tôi có cơ hội được gặp Quý vị, những người
luôn quan tâm và lo âu về tình trạng nghèo đói của đông đảo đồng
bào chúng ta ở quê nhà. Tôi cũng
có lời cám ơn đặc biệt với ban tổ chức và xin cám ơn riêng Bác sĩ
Trần Tấn Phát và Kỹ sư Nguyễn Minh Quang đã giúp đỡ tôi thực hiện
power point cho bài thuyết trình ngày hôm nay. Đề tài của tôi là “Những điều kiện
cần để dân giàu nước mạnh”, tôi xin lỗi để bỏ đi chữ “Những”, chỉ
còn lại là “Điều kiện cần để dân giàu nước mạnh”. Và chữ “cần” ở đây có nghĩa là “cần
thiết” trong ngôn ngữ toán học vì tôi là thầy
giáo dạy toán cho nên dùng chữ nầy trong nghĩa điều kiện “cần và
đủ”. Cần chỉ là cần thiết
thôi, nhưng vẫn chưa phải là điều kiện đủ; và cái cần ở đây, Quí vị
có thể hiểu rằng “cần bàn thảo” cũng được.
Bây giờ tôi xin được vào đề. Tại sao phải nói về dân giàu nước
mạnh? Vì dân ta chưa bao giờ giàu
dù nước ta có giàu tài nguyên.
Nước ta vẫn còn còn yếu.
Hai mươi lăm năm qua, từ ngày cộng đảng
Việt Nam chiến thắng cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước”, nhất thống sơn
hà, quy quyền lực về một mối, người cộng sản, thao túng thì có,
nhưng vẫn loay trong việc “xóa đói, giảm nghèo.” Mãi đến giờ này vẫn chưa tìm được một
chính sách hữu hiệu. Vì sao vậy?
Chuyện không là chuyện mới. Chuyện cũ xưa như trái đất. Trải hơn 4.000 năm lập quốc, dân ta có
bao giờ khỏi cảnh chạy cơm từng bữa, nước ta không mấy khi tránh
khỏi ngoại xâm. Nhưng ở vào cái thời buổi cuối thiên niên kỷ thứ
hai, bước vào thiên niên kỷ thứ ba, khi mà thế giới nói chuyện cao
kỹ, nói chuyện kéo dài tuổi thọ lên đến cả trăm, thì cái chuyện
xóa đói giảm nghèo, nghe riết cũng kỳ.
Ngồi mà phân tích cho kỹ, đến độ chẻ sợi
tóc làm tư, có cả trăm cả ngàn lý cớ, nguyên nhân để quy kết hay
biện minh cho cái nghèo, cái đói của đất nước. Nhưng nghĩ cho cùng, thì hình như chỉ có
một nguyên nhân hiển hiện nhất, hữu lý nhất:
đó là cơ chế cai trị nơi đất nước ta đã không thay đổi, mặc cho bao
dòng biến chuyển của lịch sử.
Bỏ qua đi giai đoạn cả hơn nghìn năm bị đô
hộ, chỉ nói đến thời gian đất nước độc lập, đặc tính của các cơ chế
chính quyền ở Việt
Lãnh đạo bất khả, bất xứng, cướp đoạt
công sức cần lao của người dân, thì người dân từ chối sản
xuất. Từ chối sản xuất, thì trí
tuệ trui lụt, đần độn. Và đó là
nguyên nhân của cái nghèo cái
đói.
Không phải đi đâu xa để tìm cách cứu đói,
giảm nghèo. Thế giới ngày nay như
thu gọn lại trong long bàn tay.
Không cần một Khổng Minh, một Quản Trọng. Cũng không cần đốt đuốc đi tìm người
hiền, Những xã hội tiên tiến,
nước giàu, dân mạnh tràn đầy ra đó.
Không có chi là bí mật, cũng không có phép thần thông. Chỉ cần ép mình theo với những tiến bộ
nhân bản của nhân loại, gạt bỏ giáo điều, và chấp nhận đổi mới
là có thể giải quyết được một phần lớn vấn vấn đề.
Những người cộng sản Việt
Sau 1975, và cho đến ngày nay, mới là thực
tế của một Việt Nam, một Việt Nam độc lập, thống nhất, một Việt Nam
trách nhiệm bởi những người cộng sản.
Một Việt
Giai đoạn 1: 1975- 1986: Giai đoạn thực thi chủ nghĩa và ý
thức hệ cộng sản. “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã
hội chủ nghĩa”, “quá độ lên xã hội chủ nghĩa mà không qua tư bản
chủa nghĩa.”
Giai đoạn 2: 1986-1995: Đổi mới
Giai đoạn 3: 1995 đến nay: Kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa
Những tính chất
đặc thù của Giai đoạn 1:
Ø
Thời kỳ
triệt tiêu tư bản tư nhân Miền
Ø
Thời kỳ
ngăn sông cấm chợ, cũng là thời kỳ làm ăn khấm khá của các trạm
kiểm soát kinh tế ở mọi nẻo đường, trên bộ, dưới sông. Từ Sài gòn về Vĩnh Long, khoảng 130 cây
số, có trạm Bình Chánh, Tân Hương, Mỹ Thuận, Tân Ngải; ngoài ra còn
có những trạm di động, đột xuất.
Riêng trạm Tân Hương, thì mỗi xe đò phải đậu lại trung bình 2
giờ, vì phải chờ đợi đến phiên và thương thuyết đóng thuế. Những trạm khác thì cũng phải non nửa giờ. Gạo,
dừa, tôm, cá, thịt heo, thuốc tây chui từ nơi này sang nơi khác. Bị
bắt thì năn nỉ, khẩn cầu xin đóng thuế, hoặc bị tịch thu, mất
vốn. Người “đi” gạo, dừa thường là
các bà phải lo chạy gạo cho con, các ông thì phải nằm ở các trại
học tập cải tạo.
Ø
Thời kỳ
triệt tiêu những sinh lực năng động nhất của Miền
Ø
Thời kỳ
mà con em của quân nhân công chức chế độ VNCH có nơi không được học
quá tiểu học, có nơi không quá cấp 2, có nơi không được vào Đại
học. Tiêu chuẩn vào Đại học Y khoa
TP Hồ Chi Minh, cho con em mà cha mẹ bị học tập cải tạo là 27/30. Nếu đạt được mà lại ở tỉnh, thì chính
quyền tỉnh vẫn có thể không cho chuyển hộ
khẩu về trường Y khoa. Nói cách khác là cũng không vào đại
học được.
Thời kỳ mà thí sinh các cấp phải thuộc
nằm lòng- với cả những câu hỏi và đáp- những bài thơ văn suy tôn
Đảng hay suy tôn lãnh đạo, như “Từ Ấy” của Tố Hữu. Không có trường tư thục, các trường tư
thục trước 1975 ở Miền
Ø
Đồng bạc
VN giá rất cao, 1 USD chính thức ăn 18 đồng VN, lương một cán bộ giảng
dạy có bằng tiến sĩ đại học Mỹ là 85 đồng/tháng. Ở thôn quê, thuế đất, thuế vườn phải
đóng bằng lúa. Vàng thay tiền là
thông thường, đồng tiền hiếm và có khi không tiện vì cồng kềnh, mà
buôn bán thì là buôn bán chui. Có
một thời, mang trong mình trên 50000 đồng VN là phạm pháp.
Ø
Thời kỳ
bao cấp. Thu vét và ban bố. Mỗi hộ có một sổ thực phẩm, tùy tiêu
chuẩn, mỗi người được mua gạo, đường, thịt, cá, chất đốt, ... nói
chung là nhu yếu phẩm, với giá rẻ tại các
cửa hàng quốc doanh. Mua như
cho, gạo thông thường phải lựa trấu, hạt bông cỏ, nói chung là gạo
mà xưa kia dành cho súc vật, cho nên hầu hết ai ai cũng phải đổi lấy
gạo tốt hơn để mà ăn. Không đủ
gạo bán cho dân, thì nhà nước bán bo bo, sắn, khoai lang thay vào. Có
một vài năm việc ăn độn là thông thường.
Ø
Mọi phương
tiện thông tin quảng bá và ngôn luận- báo, đài- đều thuộc chính
phủ. Có vài bài báo nói lên cảnh
cùng khổ và bị áp bức (thí dụ, Nguyên Ngọc:”Cái đêm hôm ấy...”,
báo Văn Nghệ).
Ø
Đảng lãnh
đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân Dân làm chủ. Trong thực tế, mọi quyền hành đều
thuộc Đảng. Một ông/bà bộ trưởng,
nếu không là thuộc trung ương đảng trở lên, thì chỉ trong đàn em nhỏ
bé của các ngài trong Ban Bí Thư Trung Ương, hoặc trong Trung Ương Đảng.
Ø
Thời kỳ
của các khẩu hiệu: Đảng cộng sản VN bách chiến bách thắng. Sống và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ
đại. Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn
kết; Thành công, Thành công, Đại thành công. Trung với Đảng Hiếu với Dân. Hồng hơn Chuyên, v.v. Thời kỳ được nghe trên đầu môi: VN là
lương tri của thời đại, đỉnh cao của trí tuệ. Đảng bao giờ cũng đúng, và lúc nào
cũng lòng rộng mở.
Ø
Thời kỳ
mà nhà nhà, người người đều học triết học Mác-Lê, và nói thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà không qua tư bản chủ nghĩa. Thời kỳ của “kẻ tước đoạt bị tước đoạt”.
Thời kỳ “ai thắng ai?” mà phải hiểu ngầm rằng sau cùng
rồi thì chủ nghĩa xã hội cũng
thắng chủ nghĩa tư bản.
Ø
Mỗi người
đều phải vào một tập đoàn hay hiệp hội: Tổ dân phố, Hội Trí thức
Yêu nước, Hội Nhà giáo. Hội Phụ lão, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh, Đội Thiếu nhi Nhi đồng, Mặt trận Tổ quốc,....
Ø
Vài con số
lẻ tẻ:
Từ
năm 1979 đến 1986, số người chết tăng 10% trong vòng bảy năm.
Rừng VN đã bị phá, chỉ riêng trong 20 năm
từ 1975 đến 1995, kể từ ngày thống nhất hơn một nửa diện tích rừng
trên toàn quốc bị phá. Mùa hè
1999, tôi lại đọc được nguồn tin của nhà nước theo đó khoảng 1/3
diện tích rừng đã bị phá từ năm năm qua.
Rừng VN còn lại bao nhiêu có lẽ không ai biết được một cách
chính xác, nhưng tôi nghĩ sự thực có lẽ còn bi đát hơn các con
số. Báo chí thế giới nói rất
nhiều và chính quyền còn nói nhiều hơn, về những tàn phá gây ra cho
rừng vì những thảm bon B52 và chất là chất độc màu da cam của
Mỹ. Điều đó đúng, và rừng cây
Việt Nam đã bị thiệt hại rất nhiều.
Nhưng không thấm vào đâu với những tàn phá của 25 năm quản
lý bất chấp môi sinh!”.
Sống cái thời ấy, người ta có cảm tưởng
đây là một chế độ quân chủ chuyên chính, triều đại của nhà Lê-Lê
Duẫn, Lê Đức Thọ-thay Nho giáo bằng triết học Mác Lênin, thay đạo
Nho bằng đạo Cộng Sản mà tổ chức và tình báo thì tinh vi hơn gấp
trăm ngàn lần. Nhà nước nhân danh
nhân dân lao động tước đoạt tất cả những thành quả lao động của
nhân dân, để ban phát lại qua hệ thống “bao cấp” mà cụ thể là các
sổ lương thực, tem phiếu. Không có
luật pháp. Đã là Vương đạo công
minh thì cần gì luật pháp. Đảng cả
trị bằng nghị quyết, nghị quyết sau có thể mâu thuẫn với nghị quyết trước nhưng không hề có điều khoản
vô hiệu hóa nghị định trước, có lẻ vì quá nhiều nghị quyết nên người
làm nghị quyết không nhớ hết được.
Cũng
có cái khác thời vua chúa thuở xưa.
Xưa vua quan ở xa vì đường đi khó, vì phương
tiện xê dịch thô sơ, nên dân có nhiều tự do riêng tư. Giờ nhà cửa san sát, tổ dân phố, tổ
phụ nữ, sự đi lại dễ dàng nhờ hệ thống đường sá, sông ngòi và xe tàu, sự kiểm soát của Đảng chặt
chẽ hơn, có vẻ như đâu đâu cũng có mắt công an của Đảng. Người ta sợ nhiều hơn là kính
trọng nhà vua như thuở xưa. Hầu hết
ai cũng có mặc cảm làm giàu hay giàu là có tội. Và để không bị rắc rối, người ta-nói
riêng các ông bà cán bộ-thật thà hay cố ý-thường giữ một bề
ngoài thanh bần, ít nhiều khắc khổ, thanh đạm.
Nhưng cũng là thời kỳ mà mọi suy
nghĩ và hành động của bộ máy nhà nước đều đặt trên căn bản triết
học Mác Lênin theo sự hiểu biết và cái nhìn của lãnh đạo.
Ø
Nguyên do
có nhiều. Có thể vì những đổi thay ở thánh địa Liên Xô và ở các
đàn anh vĩ đại như Trung Quốc, có thể vì chẳng biết còn dựa vào đâu
khi khối xã hội chủ nghĩa mỗi ngày mỗi khẳng định quá trình tan rả,
cũng có thể vì ngoại tệ cạn kiệt, cũng có thể vì cả nước tê liệt,
dân đói, vài vùng có người chết đói.
Cũng có thể vị sự thất bại sâu sắc, trường kỳ và rộng khắp
của các chính sách thu quét và bao cấp, ngăn sông cấm chợ và hợp
tác hóa, nói chung là của hầu hết những chương trình hay phong trào do
đảng đề xướng. Người dân, cả
người cán bộ hay đảng viên ở nông thôn có cảm giác nếu nghe theo
lời Đảng trong việc sản xuất thì gần như chắc chắn là phá sản. Dân chúng hoang mang, cán bộ đảng viên
hoang mang, số người nghe đài phát thanh BBC, VOA ngày càng nhiều và
công khai luận bàn tin tức ở các quán ăn, quán nước, tận các quận
lỵ nhỏ.
Ø
Cũng lúc
này, có những khẩu hiệu mới như: “Sống và làm việc theo pháp luật.”
Ø
Những luật
gia của chế độ cũ được triệu tập.
Người ta bắt đầu nghĩ đến sự cần thiết của những bộ luật về
kinh doanh, đầu tư, sự cần thiết của một... trường luật. Vương đạo có nhường một bước cho luật
pháp, nhưng vua chúa vẫn còn: vẫn Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý,
Nhân Dân làm chủ.
Ø
Bỏ ngăn
sông cấm chợ, bỏ các trạm kiểm soát kinh tế. Đường xá, sông rạch
được trả lại cho lưa thông.
Ø
Thay các
hiệp tác xã bằng cách “khoán sản phẩm”.
Trong chế độ khoán sản phẩm, nhà nước là đại điền chủ cho
thuê đất và thu địa tô vào mỗi vụ.
Ở các lãnh vực khác, xe hành khách, xe vận tải, tàu bè cũng
tương tự.
Ø
Bắt đầu
có những trường tư thục dân lập do các đảng viên (thường là hưu trí)
quản lý.
Ø
Đã
có những ngoại kiều-ước, Đài Loan,
Ø
Tiền tệ
có dần giá trị hối đoái. Ngân hàng mở cửa lại. Ngoại thương phát
riển dần, và xứ sở thành miếng mồi ngon báo bở cho tư bản ngoại
quốc. Người ta bắt đàu nói tới
đàu tư và phát riển. Kỷ nghệ du
lịch được nâng lên hàng đầu để làm nòng cho một nền kinh tế dịch
vụ.
Ø
Bắt đầu
có những xí nghiệp tư nhân nho nhỏ (không quá 12 nhân công) và sự
giải thích về quyền thuê mướn công nhân trong các xí nghiệp nghiệp
này.
Ø
Cũng bắt
đầu bàn bạc và hình thành quyền tư hữu sử dụng đất đai và chuyển
nhượng quyền sử dụng này.
Ø
Mọi phương
tiện thông tin quảng bá và ngôn luận-báo, đài-đều vẫn thuộc chính
phủ, không thay đổi. Tuy nhiên,
những tác phẩm, bài viết lên án, châm biếm hoặc chỉ trích chế độ
nhiều hơn, sâu rộng hơn như Những Thiên Đường Mù hay Thoát Ly.
Ø
Trong năm
1988, theo thống kê chính thức thì số trẻ em dưới một tuổi bị chết non
là 10% .
Đời sống có bớt căng thẳng, lần hồi khá
hơn. Người ta có cảm tưởng tử xuất trể con thiếu dinh dưỡng có bớt.,
người lớn có chút sắc hồng trên má, lưởng quyền ít nhô ra. cái
gánh Mácxít Lêninít tuy vẫn còn đó, nhưng cái còng của nó, cái lưới
của nó, nhà giam của nó đã nới lỏng, nên có được thêm chút sinh
khí. Còn đói, đói cái ăn, cái
uống, đói những mẩu chuyện, tư tưởng có tính
cách độc lập,... nhưng đã có chút cháo, chút hi vọng ngày may
tốt hơn.
Người ta cũng có cảm tưởng rằng đây là
thời kỳ đấu tranh, không phải của dân chúng nổi dậy đòi quyền
sống, mà là giữa cái mới và cái cũ trong nội bộ đảng cộng sản,
hay đúng hơn là trong giới thượng từng lãnh đạo.
Cái mới chưa có cơ sở vững chắc. Có nhiều mâu thuẫn với cơ sở lý luận
Mácxít Lêninít. Cái mới thì thật
nguy hiểm cho vua chúa và quan lại cộng sản. Nhưng ở thánh địa người
ta đã đổi, đã có kinh sách mới, thì người tín đồ phải học và
theo. Cho nên, trí tuệ của Đảng
phải giải thích sao cho cái mới cũng là chính thống. Đang loay hoay tìm cách giải thích và
biện minh tính tất thắng của phe xã hội chủ nghĩa, thì ở thánh địa, ở
đông đảo các nước anh em tiên tiến, các triều
đình đỏ lần lượt thoái vị hoặc bị truất phế, có nơi các vua chúa và
cận thần đỏ phải mất mạng.
Ở Việt Nam, nhà cầm quyền một
mặt khẳng định quyết tâm nắm giữ quyền lực độc tôn, ổn định thể
chế, nhưng cũng lặng lẽ xóa bỏ các cơ sở triết học Mácxít-Lêninít,
để tiến thêm một bước: “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.”
Giai đoạn 3: Kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hà Nội chấp nhận kinh tế thị trường, nhưng
có thêm điều kiện là phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói thị trường là nói cung cầu, bán
buôn, tính toán lợi nhuận, làm
giàu trong luật pháp. Nói xã hội
chủ nghĩa là phải nghĩ đến kế hoạch ngủ niên, hợp tác hóa, mọi
phương tiện sản xuất đều thuộc nhà nước, làm giàu là bốc lột, ăn
chận thặng dư giá trị của người công nhân. Cũng có thể nghĩ đơn giản hơn xã hội
chủ nghĩa là anh hùng cách mạng, thời loạn nhà nhà đều liệt sĩ,
thời bình, nhà nhà là anh hùng lao động, trong cái nghĩa anh hùng áo
vải “ăn không cần đủ no, mặc không cần đủ
ấm” để xây dụng Đảng, lúc nào cũng bách chiến bách thắng.
Như vậy hai khái niệm kinh tế thị trường và
xã hội chủ nghĩa không có một cái gì liên quan nhau, và có những
điểm lại đối kháng nhau. Dầu vậy,
rõ ràng là nhà nước Việt Nam có những biện pháp cụ thể nới rộng
kinh doanh và có những thành quả đáng kể.
Ø
Đã có luật
Đầu tư, chỉ tiếc là luật này được làm cho người nước ngoài, vì Đảng
cần thêm FDI.
Ø
Đã có đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đáng kể.
Việt Nam đi vào thị trường thế giới: nói riêng thành viên của
APTA, và mới đây thêm thương ước Việt Mỹ. “Luồng FDI tăng từ mức tổng số là 168
triệu USD trong giai đoạn 1988-1992 lên đến 2,1 tỉ USD năm 1997. Phần lớn lượng giải ngân FDI diễn ra
trong giai đoạn tăng trưởng cao 1992-1996.
Cao điểm là 2,3 tỉ USD, tương đương 11,3% GDP năm 1995. Luồng FDI đỗ vào giảm mạnh xuống còn
800 triệu USD năm 1998 và khoảng 700 triệu USD năm 1999 khi VN bắt đầu
chịu tác động của cuộc khủng khoảng tài chính Châu Á. Tổng số vốn FDI cam kết năm 1999 là 1,5
tỉ, tức là 90% so với mức,7 tỉ USD của năm 1998. Tổng số FDI cam kết trong tám tháng đầu
năm 2000 là 488 triệu USD, giảm 46% so với cùng ký năm trước. Do đó dự kiến giải ngân FDI sẽ tiếp
tục giảm trong năm 2000 và thậm chí 2001.
Cải cách kinh tế chậm ở VN trong vài năm qua cũng góp phần
làm giảm luồng FDI vào Việt
Ø
Thống kê
và Sơ đồ Tăng giảm luồng FDI 1991-1999, bao gồm cả các đối tác liên
doanh trong nước.
Nguồn: Phạm Đỗ Chí-Trần Bình
Ø
Kết quả bắt
đầu có được từ những năm 1990.
o
Tổng sản
lược quốc gia trung bình tăng 8.5% mỗi năm.
o
Dân số
trung bình tăng 1.7%/ năm. Giữ được mức tăng trưởng dân số thấp là
một thành quả rất tốt.
Dự trù cho năm 2.000, mức tăng trưởng dân
số giảm xuống còn 1.53%.
Ngân sách quốc gia cho năm 1999 là 11,5 tỷ
Mỹ kim, tăng 3.1% so với năm trước đó.
Đã cắt giảm lạm phát, giữ tỉ giá đồng
bạc VN, tương đối ổn định. Lạm phát trung bình là 157%/năm trong giai đoạn
1988-1990 xuống 14%/năm trong các năm 1994-1995.
“Chỉ trong có vài năm, đất nước gần như
sắp bị nạn đói đe dọa đã tự biến mình thành một nước xuất khẩu
lương thực mà không có sự can thiệp của chính phủ.... Thu nhập đầu
người tăng từ 200 lên 350 USD trong vòng 8 năm.”[1]
o
Việt kiều
ở nước ngoài về thăm nhà ngày càng đông, tiền gữi về hàng năm
trở thành một nguồn tài trợ rất đáng kễ. Riêng năm 2000, có báo nêu 2,2 tỷ; lại
có người nói 3,2 tỷ Mỹ kim. Nếu
lấy trung bình khoảng 3 tỷ, tức là gần 4 lần tiền xuất cảng gạo năm
1999 (800 triệu Mỹ kim). Xuất cảng
gạo năm nay không biết có nhiều hơn hay không, nhưng căn cứ vào tuần
báo Việt Tide (
Có thểå nói giai đoạn 2 chuẫn bị cho giai
đoạn 3, giai đoạn 2 là bước đi tất yếu vào giai đoạn kinh tế thị
trường mà trên đây là những điểm son chính yếu.
Người về Việt Nam trong những năm 1995-2001
có cảm giác một Việt Nam hồi sinh, các thành phố đã có một bộ mặt
mới hẳn, nhà cao từng với những tiện nghi thời đại và một nhịp sống
thập phần năng động đối với thời khoảng 1975-90.
Nhìn lại thập niên qua, đổi mới kinh tế,
giải thể các hiệp tác xã, bải bỏ thu mua, bải bỏ các trạm kiểm
soát kinh tế trên sông lộ, sửa chửa kho hàng, bải bến, cải thiện
viễn thông, giao thông vận tải, thành lập hệ thống ngân hàng thương
mãi, khuyến khích kinh doanh, nhận đầu tư từ nước ngoài, ban hành luật
kinh doanh,.... Tất cả những biện pháp đổi mới nầy rất tốt, rất hay,
rất phấn khởi. Tuy nhiên, hình như
chúng cũng chỉ nhằm tạo điều kiện mở rộng kinh doanh cho các xí
nghiệp hay công ty quốc doanh, hoặc những người của Đảng. Tất cả cơ chế mới về thị trường kinh
doanh đều nhằm cho việc làm ăn của
các chức sắc nhà nước và thân cận với các công ty ngoại quốc. Doanh nghiệp tư nhân đâm chồi như một
trang trí, mờ nhạt, thứ yếu, không đáng kể. Nông dân và công nhân lao động chưa có
tiếng nói, và nhất là chưa dự
phần: dưới lớp sơn tráng lệ của những thành quả nhất thời nêu
trên, họ vi trùng xã hội chủ nghĩa đã ăn sâu, rộng khắp, và kinh
niên tiếp tục đục khoét dưới dạng này dạng khác nền kinh tế và cơ
thể VN.
Nói riêng, vi
khuẩn MacLênin còn thu người sâu trong gan mật, trí não của các
lãnh đạo. Họ phải giữ chuyên chính, giữ quyền lực độc tôn, quyền
sinh sát sắc máu. Còn giữ được
chuyên chính, độc đảng, thì còn cơ may trị vì như vua chúa, còn có cơ
gieo rắc Cho nên, cố bám, cố giữ
cho kỳ được những cụm từ và điều khoản khẳng định tính chất
xã hội chủ nghĩa. Trong thực chất,
chỉ còn có chuyên chính, thói quen ban phán và sẳn sàng dùng
bạo lực của lãnh đạo. Mác mà
sống lại sẽ khóc ròng vì bản tuyên ngôn cộng sản đã bị vùi chôn
bởi những đảng viên, để chế độ chỉ còn lại chuyên chính và bạo
lực. Trường Đảng phân vân, nhưng
ăn cơm chúa phải múa tối ngày, phải biện minh cho kỳ được tính sáng
tạo của Đảng: cơ thể XHCN đã chết nhưng hồn vẫn còn thiêng. Đảng viên thì hoang mang như người lạc
lối. Dân chúng vẫn còn mơ màng lo
sợ hồn ma xã hội chủ nghĩa. Người
hiểu biết thì lo sợ một chế độ vua chúa mà không có luân thường
đạo lý của Không Nho. Cho nên,
chưa huy động được hết lòng tin của người dân, chưa huy động được hết
các nguồn sinh lực quốc gia. Cộng
vào những khó khăn do cái cũ để lại, thêm những khó khăn mới. Thử kể một vài.
Ø
Vì vốn vay
trong FDI có chi phí cao và thời hạn hoàn trả ngắn, nên Việt
Ø
Ngay cả
trong lãnh vực thành đạt nêu trên, đã có dấu hiệu “tỷ lệ tăng
trưởng kinh tế VN giảm nhanh và tỷ lệ thất nghiệp liên tục tăng
lên. GDP hàng năm không ngừng giảm
sút từ 1995 đến cuối 1999: (1995: 9,5%, 1998: 5,8%,1999: 4,8%). Tỷ lệ tăng trưởng thấp đã làm cho tỷ
lệ thất nghiệp ở thành phố tăng từ 5,9%lên 6,8% năm 1998 và 7,4%
năm 1999. Tiêu dùng trì trệ và nhìn
chung các hộ gia đình đều cố gắng giảm chi tiêu. Các doanh nghiệp không còn muốn đầu tư
nữa. Tỷ lệ tăng giá rất thấp,
thậm chí có thể nói nền kinh tế Việt
Ø
Ngân hàng
vẫn tiếp tục “thay vì chuyển vốn từ người tiết kiệm sang những người
biết sử dụng vốn một cách tốt nhất, chỉ đóng vai trò như một hiệu
cầm đồ đối với tư nhân và như là tổ chức cấp phát tín dụng cho các
doanh nghiệp nhà nước.”[5]
Ø
“Việt
Ø
Năm 2.000,
có khoảng 60 triệu dân sống về nghề nông, mà diện tích đất canh tác
chỉ cần cho 10 triệu, trung bình là 10 người cho mỗi hecta; và số trung
bình nầy mỗi năm mỗi giảm vì dân số tăng mà diện tích gieo trồng
không thể tăng thêm được[7].
Ø
Thành thị
thì thất nghiệp gia tăng, nông thôn quá thừa lao động.
Ø
Trúng mùa,
lúa thừa ở trong nội địa, giá bán giãm xuống thấp. Mà chi phí thuốc
trừ sâu, phân bón cứ tăng dần vì được tính bằng Mỹ kim. Trái thanh long, trúng rộ, bán không kịp
là phải đổ đi. Trái vải cũng vậy. Do đó dân trồng tỉa mà trúng mùa lại
càng nghèo thêm.
Ø
Theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là như vậy đó, là nói thị trường, nói buôn
bán, nhưng không tính cung cầu, không tính giá cả. Đã có một thời gian khá lâu, nhà nước
thu mua nhu yếu phẩm và bán cho dân gạo ẩm, móc, đầy bông cỏ, khai
lang, khoai mì chất lượng tồi tệ, nhưng vẫn có ai dám than thở gì
đâu. Và giờ đây là quyết tâm xây
Đại Lộ Trường Sơn vĩ đại, qua núi rừng hoang dã, trong khi hệ thồng
cầu đường trong tỉnh thành quá chật hẹp đối với lưu lượng người và
xe cộ mà chưa nghe có một hệ thống cải thiện cụ thể nào. Giờ nông dân hay người thành thị có
đói dài dài cũng chẳng chết ai.
Ø
Về giáo
dục, giáo sư Nguyễn Văn Thùy sẽ nêu lên các số liệu thống kê trong
bài thuyết trình tiếp theo. Tôi xin
trích dẫn sau đây một vài nhận xét trong những bài nghiên cứu cơ sở
trên những dữ liệu chính thức hoăïc của chính phủ Hà Nội, hoặc của
các cơ quan quốc tế của quí ông Trần Nam Bình, Đinh Xuân Quân trong
quyển Đánh Thức Con Rồng Ngủ Quên.
Tiến sĩ Trần Nam Bình[8]:
v
Tỷ lệ ghi
danh học sụt giảm ở mọi cấp.
v
Sự chênh
lệch nam nữ trong số học sinh đại học khá cao và đã gia tăng trong
những năm gần đây.
v
Con em
những gia đình thu nhập cao có lợi thế hơn con em các gia diình nghèo
trong việc học ở cấp trung và đại học..
v
Sự thiếùu
thốn nguồn lực dành cho giáo dục:
Tuy chính phủ VN đã cố gắng tăng tỷ lệ ngăn sách cho giáo dục, chi
phí giáo dục công của VN chỉ vào khoảng 2% của GDP so với tỷ lệ trung
bình 3% cho tất cả các quốc gia châu Á khác. Vì thu nhập bình quân đầu người của VN
rất thấp, điều đó hàm nghĩ chi phí giáo dục công bình quân đầu người
của VN vào loại kém nhất thế giới.
v
Hiệu quả
sử dụng nguồn lực trong ngành giáo dục thấp: chính yếu là vì tổ
chức và quản lý không thích hợp.
Tỷ lệ bỏ học tương đối cao và tỷ lệ hoàn thành thấp.
v
Lực lượng
giáo chức yếu về chất lượng cũng như số lượng.
v
Giáo trình
và phương pháp giảng dạy và chấm điểm lỗi thời.
v
Không có
sự liên kết chặt chã giữa các trường trung học chuyên nghiệp, cao
đẳng , đại học và viện nghiên cứu với các doanh nghiệp.
v
Tổ chức
quản lý các trường đại học và viện nghiên cứu không hợp lý: hệ
thống giáo dục hậu trung học phân tán, tách biệt và kém hiệu
quả. Gần đây cò có sự nẩy nở
một số tổ chức hậu đại học với giáo viên thiếu khả năng cũng như
giáo trình và phương pháp giảng dạy và nghiên cứu kém trình độ. Điều này dẫn đến một số bằng cấp và
học sinh tốt nghiệp kém chất lượng.
Ông Đinh Xuân Quân[9]:
v
Nhiều học
sinh bỏ học ở trung học. Năm 1993, 78% học sinh học hết tiểu học
nhưng chỉ có 11% vào trung học. Trung học gồm 50% trẻ em tiểu học nhưng
vào các lớp trung học cấp 2 chỉ còn có 16%.
v
Giảm mạnh
trong các trường huấn bghệ (65%).
Sau trung học cấp 2 chỉ còn từ 1,5% học sinh ở lứa tuổi vào các đại
học, trường cao đẳng kỹ thuật theo hệ chính quy hay tại chức.
v Phụ huynh học sinh đóng góp
cho ngân sách giáo dục ở mọi cấp.
Ước tính chi tiêu cho thấy là các phụ huynh học sinh phảigóp
khoảng 50% chi phí giáo dục (sách giáo khoa, lệ phí) và các chi phí khác như chuyên
chở, ăn uống...
v Ở nông thôn, các gia đình
phải đóng góp cao hơn.
Ø
Về môi
sinh, xin nghe tiếng kêu nêu trên của Ông Nguyễn Gia Kiểng.
Đó là chưa nói đến khả năng ô nhiểm khác, thí dụ như khả năng ôn
nhiểm nước do việc sử dụng bừa bãi phân hóa học và thuốc trừ sâu[10].
Xin đan cử một thí dụ điển hình, theo tài liệu của Bộ Y tế Việt
Tóm lại,
trong lãnh vực kinh tế, VN thừa vốn, thừa hàng hóa, thừa lao
động. Cung trội quá nhiều đối với
cầu. Tồn động càng nhiều, càng
lâu, chi phí càng nặng. Trong những
lãnh vực khác: bi đát, ngày thêm bi đát.
Trong tình huống đó, Việt
TOÀN CẦU HÓA: VẬN HỘI MỚI?
Việt
Khi đã cho phép kinh doanh, thuê lao động,
nhìn nhận gián tiếp quyền sở hữu đất đai (quyền chuyển nhượng việc
sử dụng điền thổ), lập xưởng máy, chính quyền Hà Nội trong thực tế
đã khai tử cái gốc “xã hội chủ nghĩa”.
Thế nhưng còn thiết tha nuối tiếc cái hồn ma xã hội chủ nghĩa,
nên đã sanh một đứa con dị dạng, kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Vì vậy mà đứa con
ấy khó nuôi, khó dưỡng.
Sự tham gia mậu dịch của Trung quốc vào WTO,
sự cạnh tranh của Trung Quốc, cộïng với sự suy thoái kinh thế toàn
cầu và khu vực hiện nay chắc chắn chỉ có thể làm cho đứa con dị dạng
càng khó dưỡng, khó nuôi hơn.
Trong thập niên qua, Đảng, cái xác không hồn, mất hướng, phải bám
lấy lấy độc tài đảng trị làm cơ sở, lấy quân đội và công an làm
công cụ, áp đặt quyền lực và bạo lực.
Để đi sâu thêm vào hệ thống kinh tế tòan cầu, Hà Nội phải
xử dụng ngôn ngữ, cách suy nghĩ và hòa nhập vào nếp sống toàn cầu. Sẽ không bao giờ có cách chơi riêng
dàng cho Hà Nội. Hà Nội cũng phải
học cung cách tôn trọng khách hàng và có khi phải chịu sức ép của
khách hàng. Các công cụ bạo lực
không những không ích lợi gì trong buôn bán và sản xuất, mà trái
lại còn làm mất lòng tin ở các cơ chế mới.
Sự toàn cầu hóa là toàn cầu hóa khởi sự là mậu dịch, kinh tế nhưng
rồi đương nhiên sẽ dẫn đến sự giao lưu thông tin, văn hóa. Theo đó, sẽ không còn có thể khép kín
như thời vua chúa hay như thời kỳ địch thù phân minh, mà chỉ quan hệ
tốt với các nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Thế giới ngày càng nhỏ, sự giao lưu giữa
các nền văn hóa ngày càng gia tăng, và ở tốc độ ngày càng
nhanh. Thế giới giới sẽ trở
thành một thứ hiệp chũng quốc, như
Hoa Kỳ hay Châu Aâu ngày nay, nơi mà nhiều chũng tộc dị biệt sinh sống
bên nhau, tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau xây dựng sự phồn thịnh
chung. Chuyên chính, bạo quyền càng
ngày càng không có chỗ trong quá trình này. Toàn cầu hóa mỗi lúc trở thành toàn
diện.
Trong cái nhìn đó, toàn cầu hóa có nhiều
khả năng là một cơ may, một vận hội mới cho Việt Nam thoát khỏi cái
nghèo-nghèo tiền bạc, nghèo sức khỏe, nghèo tri thức, nghèo trí tuệ,
nghèo tình thương, và tránh những nạn tai sinh từ cái nghèo. Nói riêng, toàn cầu hóa có thể thực
sự là một cơ may, một vận hội mới để dân VN giàu, nước VN mạnh,
nếu nhà cầm quyền VN biết sử dụng cơ may đó, biết từ bỏ chuyên
chính và bạo quyền để tạo điều kiện cho mọi người dân tích cực tham
gia, tập người dân quen sống theo pháp luật, tái tạo lòng tin cho mọi
nơi chốn.
Ø
Trước kia,
chủ nghĩa Mác là cơ sở nhân bản của Đảng cho hành động. Đánh mất cái nhân bản ấy là đánh mất
hướng đi, đánh mất linh hồn, mất sự tự tin. Hoặc Đảng sẽ suy nhược, chia năm xẻ
bảy để tranh dành địa vị và quyền lực, hoặc vì đã thiếu mất cơ sở
nhân bản, quyền lực đơn thuần sẽ trở thành bạo lực đơn thuần.
Ø
“Quyền lực
có xu hướng tha hóa con người.
Quyền lực tuyệt đối tha hóa tuyệt đối.”. Thiếu nhân bản, lãnh
đạo dễ trở thành cuồng bạo, hoặc là cái nôi dưỡng nuôi việc mua
quan bán chức, theo từ mới là tham nhũng.
Ø Đã có trên nữa thế kỷ kinh nghiệm thì cũng phải thấy rằng: mọi hình thức thể chế chuyên chính (quân chủ chuyên chính, vô sản chuyên chính, phát xít,..) đều là hình thức nô lệ hóa nhân dân. Thời này, nuôi nô lệ chỉ có thể là tốn hao và nguy hiểm. Ngoài ra, còn chứng tỏ một nhân cá