Ảnh Hưởng
Lên Sức Khỏe Con Người Của DDT -
The Effects of DDT On Human
Health
FRA Tạp chí Khoa học
& Môi trường (
Trong những năm gần
đây, các hợp chất hữu cơ chứa Chlor đă
được xử dụng với liều lượng
quá tải trong nhu cầu băo vệ thực vật và trong
các kỹ nghệ hóa chất ở Việt
Hỏi 1: Xin TS cho biết
đặc tính của hóa chất trên như thế nào và
ảnh hưởng tổng quát của nó.
Đáp 1(MTT): DDT là một loại
thuốc sát trùng có mục đích kiểm soát một số
côn trùng có hại cho nông nghiệp, đặc biệt dùng
để diệt muỗi anophele, tác nhân chuyển tải
vi trùng sốt rét vào cơ thể con người và thú
vật. Hóa chất nầy đă bị cấm xửï
dụng và sản xuất từ năm 1972 và chiếm
vị trí thứ 10 trong danh sách 12 hóa chất dơ bẩn
hay hạt bụi ô nhiễm hữu cơ không bị
hủy (POP) đă được thông qua qua hiệp
ước Stockholm, Thụy Điển năm 2002. Nên nhớ, Dioxin chưa được xếp vào
danh sách hoa chất độc hại nầy.
DDT có thể đi vào môi
trường không khí, đất và nước. Nó cũng
được xếp vào loại dioxin-tương
đương. Đời sống bán hủy của
DDT vào khoảng 3 ngày, nhưng sau khi bị phân hủy, DDT
chuyển hóa thành dạng DDD, và DDE và cuối cùng sẽï tích
tụ trong nước và trầm tích lâu dài. Aûnh
hưởng của hai chất sau nầy tương
tự như DDT.
Hỏi 2: TS có thể nói rơ hơn
về những pương cách tiếp nhiễm của DDT
lên con người.
Đáp 2a(MTT): Để trả
lời câu hỏi nầy, đây là một câu hỏi liên
quan đến y khoa, vốn không phải là lănh vực chuyên
môn của chúng tôi, do đó hôm nay chúng tôi được hân
hạnh giới thiệu BS Phạm Gia Cổn, hiện
đang giảng dạy tại trường Đại
học Y khoa Los Angeles, California sẽ tŕnh bày cùng thính
giả đài ACTD về vấn đề trên. Xin mời BS Cổn.
Đáp 2b (PGC): Con người
tiếp nhiễm DDT qua nhiều cách khác nhau: trực
tiếp và gián tiếp. Về trực tiếp, trong thời
gian phun xịt thuốc, con người có thể bị
nhiễm qua phổi hoặc qua da. Về gián tiếp, khi
ăn các thực phẩm như ngũ cốc, rau
đậu đă bị nhiễm DDT, cũng như tôm cá
sống trong vùng bị ô nhiễm, DDT sẽ đi vào cơ
thể qua đường tiêu hoa và tích tụ theo thời
gian trong các mô mỡ và gan của con người. Tại Hoa
Kỳ, mặc dù đă bị cấm xử dụng từ
năm 1972, nhưng hàm lượng DDT trung b́nh trong cơ
thể của mỗi người dân là 0,8
ug.
Hỏi 3: Như vậy th́ ảnh
hưởnglên sức khỏe của con người
như thế nào sau khi bị tiếp nhiễm dài hạn,
thưa BS?
Đáp 3(PGC): Trước hết,
đứng về phương diện cấp tính, nếu ăn nhằm thực phẩm chứa vài gram
hóa chất trong một thời gian ngắn, có thể
bị ảnh hưởng trực tiếp lên hệ
thần kinh. Người bị nhiễm độïc sẽ
bị run rẩy, co giựt mạnh kéo theo
t́nh trạng ói mửa, đổ mồ hôi, nhức
đầu, và chóng mặt. Các hiện
tượng trên có thể chấm dứt ngay sau việc
nhiễm độc được ngăn chặn và
bịnh nhân được chửa trị kịp thời.
Tuy nhiên, đă có vài trường tử vong do nhirm
độc cấp tính được báo cáo trong lịch
sử y học.
Về phương diện
măn tính, khi bị nhiễm độc với liều
lượng nhỏ trong một thời gian dài, chức
năng của gan bị thay đổi, lượng
diếu tố (enzyme) của gan trong máu có thể bị
tăng lên và sữa mẹ là nơi tích tụ hóa chất
quan trọng nhất. Thí nghiệm lên chuột
cho thấy các hiện tượng sau đây xảy ra sau
một thời gian dài bị nhiễm độc.
Nếu bị nhiễm độc vào khoăng 20-50 mg/ngày/kg
cơ thể, điều nầy có thể ảnh
hưởng đến việc sinh sản, đến các
tuyến nội tiết như tuyến giáp trạng, nang
thượng thận. Nếu bị nhiễm lâu hơn
nữa có thể đứa đến ung thư.
Từ những kết
luận trên, Cơ quan Quốc tế về Nghiên cứu Ung
thu (International Agency for Research of Cancer)
đă xác nhận DDT và các chuyển hoá DDE và DDD là tác nhân
của bịnh ung thư cho con người.
Hỏi 4: Việt
Đáp 4(PGC): Tùy theo vùng sinh sống
và cung cách làm ăn và sinh hoạt, con người có thể
bị nhiễm độc trực tiếp hay gián tiếp
như: Những người sống trong vùng nông nghiệp
chuyên canh về lúa thường hay bị nhiễm
độc qua đường nước; Người
sống trong vùng chuyên canh về thực phẩm xanh như
các loại hoa màu sẽ bị nhiễm qua đường
hô hấp; Và sau cùng, dân vùng thị tứ bị nhiễm khi
tiêu thụ các thực phẩm đă bị nhiễm
độc. Nơi đây thiết nghĩ cũng cần
phải liệt kê thêm một số gia súc và thú rừng
đă bị nhiễm; do đó, người tiêu thụ khi ăn phải sẽ bị nhiễm theo. Đây là trường hợp chiếm đại
đa số các vụ nhiễm độc ở Việt
Hỏi 5: C̣n trẻ con th́ sao?
Đáp 5(PGC): DDT có thể xâm
nhập vào thai nhi qua nước ối và nhau của bà
mẹ cũng như qua đường cuống rốn.. Khi đă được sinh
ra trẻ sơ sinh sẽ bị tiếp nhiễm qua
đường sữa mẹ. Nghiên cứu cho
thấy nếu bà mẹ đă bị nhiễm độc
th́ thai nhi sẽ bị chậm phát
triển và hệ thống sinh dục của thai nhi có
thể bị biến dạng.
Hỏi 6: Như vậy, làm thế
nào để hạn chế nguy cơ bị tiếp
nhiễm DDT, DDD, và DDE?
Đáp 6(PGC): Như đă nói ở
phần trên, việc nhiễm độc DDT và các chất
chuyển hóa là do việc tiếp xúc với không khí hay
nước uống cùng thực phẩm đă bị
nhiễm độc. Do đó những bà mẹ đang có
bầu cần nên hạn chế tối đa việc
tiếp xúc hay ăn uống những
thức ăn có nguy cơ bị nhiễm độc. Đối với các quốc gia hiện c̣n
đang xử dụng hóa chất nầy như một
lọai thuốc băo vệ thực vật cũng như
trong kỹ nghệ chăn nuôi tôm cá, th́ nguy cơ bị
nhiễm độc càng cao. Do đó: Cần phải
nấu chín tôm cá để giảm thiểu lượng DDT
và đừng nên ăn các mô mỡ; Rữa rau trái kỹ
lưỡng để làm trôi lượng thuốc bám vào lá
hay vơ trái cây. Rễ và củ cũng là hai địa
điểm tích tụ DDT quan trọng; Hay tốt hơn
cả, chúng ta nên tránh ăn những
sản phẩm có nguy cơ nhiễm độc cao ở
những vùng nầy.
Hỏi 7: Trở qua TS MTTruyết,
đứng trước vấn nạn ô nhiễm DDT mà TS
đă từng nêu lên trong nhiều bài viết, TS đă
nhận định vấn đề nầy như thế
nào?
Đáp 7 (MTT): Trong những năm
1997 và 98, chúng tôi có nêu lên nhiều cảnh báo qua một
loạt bài viết về ô nhiễm nguồn nước
trong đó có nguy cơ ô nhiễm DDT và Arsenic là quan trọng
nhất. Cũng như trong một báo cáo của
Chương tŕnh Môi trường LHQ, hầu hết
thực phẩm như thịt, cá , gà vịt và nhất là
trứng gà trứng vịt trong các chợ ở Hà Nội
năm 1999 đều có sự hiện diện của DDT
trong đó. Mặc dù DDT là một hóa chất hữu
hiệu trong việc ngăn ngừa và kiểm soát bịnh
sốt rét, mang lại giải Nobel y khoa cho BS Paul Muller,
Thụy Sĩ năm 1948; nhưng ngày nay qua sự tiến
bộ của khoa học, DDT cũng là nguồn di hại
đến sức khỏe của nhân loại và là tác nhân
của nhiều chứng ung thư hiễm nghèo. Do đó
việc hạn chế hay không xử dụng hóa chất
nầy vẫn là một biện pháp pḥng ngừa hữu
hiệu nhất hiện tại.
Đáng tiếc thay,
Việt Nam vẫn tiếp tục xử dụng với
một liều lượng quá tải, dùng DDT như là
chất đệm chính trong hổn hợp của hầu
hết các thuốc băo vệ thực phẩm khác đang
thịnh hành với mục đích làm tăng thêm hiệu
quả của việc phun xịt. Điều
nầy phải cần nên xét lại v́ làm như thế,
trước hết, sâu rầy và côn trùng sẽ tăng
sức đề kháng và sau đó, nông dân sẽ phải nâng
cao liều lượng phun xịt lên.
Do đó, để kết
luận, nguy cơ ô nhiễm DDT và các hóa chất băo vệ
thực vật khác là một nguy cơ có thật và đă
được chứng minh qua nhiều vụ nhiễm
độc cá nhân hay tập thể xảy ra thường
xuyên ở Việt
Kính chào Quư thính giả
của đài Á Châu Tự Do.