PHÁT TRIỂN QUỐC
GIA & QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Đối với các quốc gia đang trên đà phát triển, mục tiêu chính
yếu là nâng cao phúc lợi cho người dân trong nước, việc quân bình hay
cân bằng phát triển là một vấn đề gai góc mà bất cứ lãnh đạo
chân chính nào cũng phải lưu tâm. Trong một bài viết: Tiếp cận môi
sinh áp dụng cho các quốc gia đang phát triển (Đi Tới-Montréal số 35
tháng 7/2000), tác giả có đề cập đến việc phân loại một số quốc gia
trên thế giới căn cứ theo trình độ khoa học kỹ thuật và mức độ
phát triển quốc gia. Bài viết dưới đây nhằm mục đích khai triển tình
trạng phát triển của Chí Lợi và các mối quan tâm của chính quyền
trong việc cân bằng quản lý môi trường và phát triển quốc gia để
từ đó có một cái nhìn khái quát về tình trạng phát triển ở Việt
Người
viết xin trình bày dưới đây những chuyển đổi và thành quả về chính
sách môi trường do chính phù dân sự ở Chí Lợi đã thực hiện được;
từ đó, qua sự so sánh tỷ giảo, cố gắng truy tìm những nguyên nhân
liên hệ và một số suy nghĩ cho vấn đề Việt Nam. Những nguyên nhân
đưa đến tình trạng môi trường xuống cấp và sự hạn chế trong phát
triển có thể tóm tắt vào các điểm chính sau đây: tiêu cực trong
phát triển, ấu trỉ trong quản lý, và cực đoan trong việc điều hành
đất nước.
Đất nước Chí Lợi
Chí
Lợi là một quốc gia nằm về phía
Thủ
đô
Cán
cân xuất nhập cảng cho năm 2000 là: 15,6 tỷ Mỹ kim cho xuất cảng và
13,9 tỷ cho nhập cảng.
Về
viễn thông, Chí Lợi có 2,6 triệu đường dây điện thoại (1998) và
400.000 điện thoại di động cùng với 3,2 triệu máy truyền hình.
Liên hệ giữa Phát triển và Môi trường
Tại
Chí Lợi, chính quyền chủ trương theo mô hình thị trường kinh tế tự do,
đặt trọng tâm vào việc khai thác và xuất cảng các nguồn tài nguyên
quốc gia với châm ngôn là giảm thiểu giá thành sản xuất tối đa. Do
đó, có hơn 90% sản phẩm xuất cảng gồm đa số là các nguyên liệu kim
khí thô, gỗ, giấy và bột giấy, trái cây, tôm cá v.v... Gần đây
chính phủ đề ra chủ trương cho các công nghệ là cố gắng thực hiện
các quy trình “sạch” và “bầu bạn” với môi trường (clean and
environment-friendly process ) nghĩa là cố gắng hạn chế tối đa tác hại
mội trường và sử dụng dụng cụ, máy móc sản xuất có thể thay thế
được khi có vấn đề trong sản xuất. Thêm nữa, các nhà sản xuất phải
trực tiếp chịu trách nhiệm về quản lý môi trường trong địa phận hoạt
động của mình và phải thiết lập bộ phận xử lý các chất phế thải
rắn, lỏng, và khí nếu có.
Tuy
nhiên, sau hơn 17 năm, chế độ độc tài (chấm dứt vào 1990) đã để lại
cho các chính phủ dân sự sau đó một tình trạng kinh tế, phát triển,
và môi trường không mấy sáng sủa. Và đây là một gia sản đang đi
dần đến kiệt quệ, đã và đang được cứu nguy cùng với sự trợ giúp
của các cơ quan quốc tế và các quốc gia hậu kỹ nghệ. Để có một
cái nhìn đối chiếu về cung cách quản lý đất nước của lãng đạo Việt
Theo
thống kê của ngân hàng trung ương Chí Lợi năm 1995, tổng số rừng
thiên nhiên của quốc gia nầy chỉ có thề tồn tại trong vòng 20 hay 30
năm nữa nếu tiếp tục khai thác với vận tốc hiện tại. Ngân hàng
Thế giới cũng cảnh báo rằng Chí Lợi đã “khai thác quá độ” nguồn
tài nguyên cá tôm của hải phận quốc gia. Ngoài hai vấn nạn kể
trên, quốc gia nầy đã tận dụng đất đai để canh tác nông phẩm và
cây ăn trái, sử dụng bừa bãi phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ
dại, và diệt nấm. Bộ Nông nghiệp năm 1999 đã báo cáo rằng, 45.5%
đất canh tác trong nước đã bị xói mòn, và 62% đang đi vào tiến trình
sa mạc hóa nghĩa là sẽ không còn khả năng trồng trọt được nữa. Bộ
Y tế cũng đã công bố nhiều khuyến cáo rằng việc khai thác các hầm
mỏ đã tạo ra một tình trạng ô nhiễm nguồn nước và không khí trầm
trọng ảnh hưởng lên sức khỏe người dân trong vùng bị khai thác. Tỷ
lệ người dân bị mắt kéo mây (cataract), hư võng mạc (cornea), một số
bịnh ung thư, và các bịnh liên quan đến khí quản tăng dần theo thời
gian trong những vùng trên, và chiếm tỷ lệ quá cao so với người dân
sống trong các vùng không bị ô nhiễm. Trong nhiều vùng nông nghiệp,
lượng hóa chất độc hại hiện diện trong đất và nước cao gấp trăm
lần hơn hàm lượng cho phép. Thêm nữa, các phế thải lỏng và rắn hòa
tan được chuyển thẳng vào sông ngòi và biển cả, làm hủy diệt và
tiệt chủng hàng trăm loài; thậm chí ở nhiều nơi, các bãi biển không
còn sử dụng cho kỹ nghệ du lịch được nữa.
Về
địa thế, quả thật Chí Lợi là một quốc gia khó quản lý về mặt môi
trường: 1) 1/3 của miền Bắc cấu tạo do núi và sa mạc với nguồn tài
nguyên về kim loại như đồng lớn nhất thế giới, và các kim loại
khác. 2) Vùng phía
Với
một di sản không mấy sáng sủa, Tổng thống Logos và chính phủ hiện
tại đã từng bước cải thiện môi trường và kế hoạch hóa việc sản
xuất cho xuất cảng và lần lần cân bằng được bài toán quản lý môi
trường trong các kế hoạch dứt khoát về đổi mới môi trường. Chỉ trong
một thời gian ngắn ở những năm gần đây, tình trạng môi trường ở Chí
lợi đã lần lần thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn.
Sau khi chấm dứt chế độ độc tài Pinochet năm
1990, chế độ dân chủ đầu tiên do Tổng thống Patricio Alywin đã đắc
cử qua một cuộc phổ thông đầu phiếu. Từ đó việc làm đầu tiên của
chính phủ là đặt trọng tâm vào việc đổi mới quản lý môi trường.
Trong suốt 17 năm, chế độ độc tài Pinochet đã để lại một hiện trạng
không mấy sáng sủa vừa kể trên. Do đó việc làm cấp bách của chế
độ mới là tổ chức một hệ thống quản lý môi trường tương đối hữu
hiệu hơn và được các chính phủ tiếp theo liên tục nâng cao chất
lượng quản lý cho đến ngày nay.
Trước
hết, Comicion Nacional del Medio Ambiente (CONAMA) hay Hội đồng Quốc gia
về Môi trường đã được thành lập ngay sau chính phủ dân sự lên nắm
quyền. Lần lượt các cơ quan tư vấn tư nhân được mời đến tham khảo để
thẩm định hiện trạng môi trường cùng với CONAMA hoạch định kế hoạch
để quy định các điều luật về môi trường và định mức giới hạn các
phế thải độc hại hấp thụ trong đất, nước, con người và gia súc. Từ
năm 1996 trở đi, CONAMA phải chịu nhiều sức ép của công luận để
chuyển đổi các quy trình sản xuất công nghệ quốc doanh thành ra những
quy trình sạch để bảo vệ môi trường. Và tòa án vốn dĩ độc lập là
nơi tranh tụng sau cùng giữa chính phủ và các nhà sản xuất để điều
giải các bất đồng quan điểm về môi sinh giữa hai phía. Do đó vấn đề
ô nhiễm môi trường được cải thiện rất nhiều so với những năm 90.
Thêm nữa, các công ty tư vấn môi trường được trực tiếp tham dự vào
CONAMA để hòa giải và đề nghị những cung cách xử lý môi trường và
tăng cường mối lưu tâm của dân chúng trên các vấn nạn môi trường
trầm trọng.
Những
việc làm trên của CONAMA đã làm tăng thêm niềm tin vào chính quyền,
khuyến khích sự tham gia đông đảo của quần chúng và do đó, việc xử
lý môi trường ở nhiều nơi được giải quyết kịp thời. CONAMA đã đề ra
những mục tiêu sau đây:
·
Phòng vệ những tai nạn về môi trường
ở các công nghệ;
·
Phục hoạt môi trường ở những nơi đã
xảy ra ô nhiễm;
·
Và quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên thiên
nhiên như: rừng, ao hồ, sông ngòi, đất đai.
Để
thực hiện mục tiêu đầu tiên, từ năm 1997, chính phủ bắt buộc tất
cả các công nghệ sản xuất hay chế biến phải thực thi việc nghiên
cứu tác động môi trường của từng quy trình trước khi cấp giấy phép
hoạt động. Do đó, mức độ ô nhiễm, lượng phế thải của từng cơ sở
được ước tính rõ ràng và mỗi cơ sở phải đệ nạp phương pháp hay quy
trình xử lý các phế thải trên. Nghiên cứu tác động môi trường từ
đó đã trở thành luật định căn bản áp dụng cho tất cả các công
nghệ dù là tư nhân hay quốc doanh, và không có bất cứ một ngoại lệ
nào ngay cả cho các công ty ngoại quốc đầu tư vào Chí lợi.
Một
thí dụ điển hình là công ty Bellingham, một công ty hóa chất Hoa kỳ
đầu tư vào Chí Lợi đã bị CONAMA kiện vì đã làm ô nhiễm môi trường.
Ban Giám đốc công ty đã thành công trong việc kiện lên Tối cao Pháp
viện viện cớ là CONAMA chưa định mức được tác động môi trường của
công ty. Tuy nhiên, chỉ trong vòng vài tuần lễ, CONAMA thiết lập được
các định mức trên và buộc được CTy Belligham không được vượt quá
giới hạn đã được quy định. Nơi đây thể hiện một tinh thần dân chủ
cao độ và sự độc lập giữa chính quyền (hành pháp) và hệ thống tư
pháp Chí Lợi.
Về
mục tiêu thứ hai, chính phủ đã thực hiện những kế hoạch đặc biệt
và tùy theo mức độ ô nhiễm để sắp xếp thứ tự ưu tiên của những
nơi cần xử lý như ô nhiễm không khí ở Santiago, xử lý phế thải độc
hại ở các hầm mỏ khai thác, những vùng bị bão hòa (saturated), và
các nguồn nước ô nhiễm.
Đối
với mục tiêu thứ ba, chính phủ đã đệ nạp lên quốc hội dự thảo
luật về quản lý rừng nguyên sinh từ hơn sáu năm, và các luật tiếp
theo cũng đang được CONAMA soạn thảo.
Tuy
nhiên, vấn đề nhân sự chuyên môn là một trong những cản ngại
lớn của Chí Lợi trong việc quản lý môi trường. Hiện tại, cũng còn
nhiều trường hợp vi phạm môi trường xảy ra do sự khiếm khuyết nhân
sự. Việc kiểm soát và quản lý không được chặt chẽ như mục tiêu đã
đề ra. Thêm nữa, còn có quá nhiều định mức chưa được cứu xét và quy
thành luật, do đó có nhiều kẽ hở về phía chính quyền và chính các
kẽ hở đó đã vô tình tiếp tay cho các công ty, nhất là các công ty
ngoại quốc tiếp tục vi phạm vì chưa có quy định rõ ràng.
Ngoài
yếu tố nhân sự, yếu tố tài chính cũng chính là một cản ngại
then chốt thứ hai, và trở ngại nầy đã gây khó khăn cho việc quản
lý rất nhiều, và cũng là lý do chánh trong việc trì trệ cứu xét
các định mức độc hại.
Yếu
tố thứ ba là thiếu tính nhất quán trong quản lý. Vì khả năng
chuyên môn của nhân sự quản lý không được huấn luyện đồng bộ, vì
chính phủ không đủ điều kiện để cập nhật hóa các thông tin về luật
lệ mới để thích ứng với tình hình, cho nên việc thi hành luật ở
nhiều nơi đôi khi mâu thuẫn với nhau khiến cho CONAMA phải mất nhiều
thời gian để điều chỉnh và dàn xếp ở tòa án thay vì tập trung vào
việc soạn thảo các quy định còn thiếu sót.
Tuy
luật môi trường đã được quốc hội thông qua từ năm 1994 và có thêm
nhiều bổ túc tiếp sau đó, nhưng sự hiểu biết của dân chúng về vấn
đề nầy vẫn còn mơ hồ do sự thiếu phổ biến và dân trí của người
dân cũng còn hạn chế.
Tại Chí Lợi, cơ quan quyền lực cao nhất về
quản lý môi trường kể từ năm 1994 là CONAMA. Cơ quan nầy báo cáo
trực tiếp những vấn đề liên quan đến môi trường lên Tổng thống qua
trung gian của Bộ Tổng thư ký. Ủy ban quản lý môi trường được triệu
tập do ông Tổng thư ký. Tổng thống chủ tọa mỗi khi có vấn đề môi
trường có tính cách quốc gia cần được tham khảo. Ủy ban gồm có các
thành viên của CONAMA và một số Bộ trưởng liên hệ. Trong tương lai,
các tham vấn độc lập và các nhóm vận động môi trường, tổ chức phi
chính phủ NGO, cùng các công ty có tầm vóc lớn có thể tham gia vào
ủy ban nầy.
Nhiệm
vụ chính của CONAMA được ghi rõ trong luật môi trường là: Đề nghị và
Thực thi các chính sách môi trường của chính phủ cùng phối hợp với
các ban ngành liên hệ để bảo đảm tính hữu hiệu và tính đồng bộ
trong quản lý. Nhiệm vụ thứ hai cũng không kém phần quan trọng là
hợp tác với các công ty kỹ nghệ và các công ty tư vấn môi trường
để hoàn chỉnh các chính sách ngày càng thích ứng với thực tế hơn.
CONAMA thiết lập hệ thống thẩm định, phân tích tác động môi trường
và qua đó đã theo dõi và kiểm soát việc chấp hành các quy định môi
trường của từng công ty. Tổng số nhân viên điều hành CONAMA ở trung
ương là 240 người và hoạt động với nhân sách 14 triệu Mỹ kim/năm
(1999). Cơ quan nầy đặt văn phòng ở khắp 13 vùng (tương đương hệ thống
tỉnh ở VN), cung cấp mọi dịch vụ tiếp ứng kỹ thuật cho Hội đồng môi
trường của từng vùng có tên gọi là COREMA (R: Regional). Mỗi COREMA
do
ông Trưởng vùng (Tỉnh trưởng) làm chủ tịch và thành viên là các đại
diện của từ 12 đến 15 bộ liên hệ trong vùng. Hội đồng tư vấn độc
lập cũng được triệu tập để tham khảo ý kiến.
Điều căn bản trong hiến pháp 1980 là tất cả
mọi công dân đều có quyền được sống trong một môi trường sạch,
không ô nhiễm. Hiến pháp cũng quy định rõ ràng là chính phủ phải
bảo vệ quyền căn bản trên. Đây là một luật ưu tiên so với tất cả
các luật khác trong hiến pháp mỗi khi có tranh tụng về giới hạn
giữa các luật.
Một
trong những thành quả lớn nhất của luật môi trường là hệ thống
thẩm định, phân tích môi trường (Điều 2, luật môi trường được Tổng thống
ban hành tháng 4/1997). Qua hệ thống nầy CONAMA đã theo dõi và kiểm
soát tất cả các công ty từ lúc mới xây dựng cho đến khi đi vào
hoạt động. Mọi vi phạm đa số đều được khám phá kịp thời và thực thi
những biện pháp đáp ứng thích đáng ngay sau đó. Điều luật nầy được
áp dụng cho các đập thủy điện, hệ thống dẫn thủy (aqueduct), hệ
thống điện cao thế, các nhà máy phát điện dùng than, gas, hay nguyên
tử năng. Phi cảng, bến xe buýt, đường xe lửa, đường sá, hải cảng,
bến tàu, cùng tất cả các vùng phát triển trong thành phố...điều
được luật nầy chiếu cố đến. Các dự án có nguy cơ ảnh hưởng lên
sức khỏe người dân, làm nguy hại nguồn tài nguyên thiên nhiên, bắt
buộc phải di dân, hay làm tổn thương môi trường.... đều phải nộp bản
báo cáo nghiên cứu tác động môi trường trước khi được chính quyền
duyệt xét.
Thủ tục thẩm định tác hại môi trường
Khi nhận
được báo cáo trên, COREMA cho tiến hành thủ tục triệu tập Ủy ban
vùng để cứu xét dự án. Tùy theo tầm quan trọng của dự án, đại
diện các bộ Y tế, Hầm mỏ, hay Du lịch...cùng các cơ quan hành pháp
trung ương cũng được triệu tập để cùng thẩm định. Trong trường hợp có
bất đồng ý kiến trong Ủy ban cứu xét, COREMA có thể mời gọi các tư
vấn độc lập để tham khảo ý kiến thêm. Và COREMA có 120 ngày để
quyết định chấp thuận hay từ chối dự án, kể từ ngày dự án được đệ
nạp. Và luật nầy cũng quy định rằng, nếu COREMA không lấy quyết định
trong thời hạn kể trên, dự án sẽ được tiến hành mà không qua thẩm
định của COREMA nữa.
Thêm
nữa, cơ quan nầy còn có thêm quyền hạn là có thể chấp thuận toàn
thể dự án, chấp thuận với điều kiện thay đổi vài điểm, hay từ chối
hẳn dự án. Nhưng một khi được chấp thuận, người điều hành của dự
án có toàn quyền thực thi dự án, được cấp giấy phép, và giấy phép
nầy có tính cách bất khả hoàn, nghĩa là không còn có cơ quan chính
phủ nào có thể thu hồi giấy phép trở lại được. Điều nầy là một
điểm mạnh trong thủ tục điều hành và phối hợp giữa hành pháp và
CONAMA, COREMA để tránh mọi lạm dụng có thể xảy ra và đưa đến thảm
nạn tham nhũng.
Tuy
nhiên, cho đến nay luật lệ về quản lý nước và rừng vẫn còn nhiều
thiếu sót và cần phải bổ túc thêm để tránh bớt lạm dụng vì còn
nhiều quy định chưa được minh bạch.
Từ khi COREMA lấy quyết định từ chối, người
chủ biên của dự án có quyền khiếu nại lên Giám đốc CONAMA trong
vòng 30 ngày. Từ đó, Hội đồng bộ trưởng có 60 ngày để giải quyết
các khiếu tố; và nếu cần tòa án có thể giải quyết trong vòng 30
ngày sau đó. Trong trường hợp nầy, các tổ chức dân sự và tư vấn
độc lập cũng có quyền tham gia vào việc khiếu nại trên. Giám đốc
điều hành CONAMA sẽ phải giải quyết và lấy quyết định sau cùng.
Tuy
nhiên, một trong nhiều yếu điểm của hệ thống thẩm định môi trường
là COREMA vẫn là một bộ phận chính trị của chính quyền địa phương, do
đó có nhiều quyết định đôi khi đi ngược lại với những khuyến cáo kỹ
thuật do các công ty tư vấn đề nghị. Để điều chỉnh yếu điểm nầy,
“công dân tư vấn” ở các vùng có thể khiếu nại và đem COREMA ra tòa
về những quyết định thiếu căn bản khoa học hay không hợp lý.
Một trong những lý do làm tăng thêm uy tín
của ngành quản lý môi trường tại Chí Lợi là sự tham gia của dân
chúng vào những buổi điều trần của các dự án có tầm vóc quốc gia..
Đây là một điểm son của chế độ, thể hiện một tinh thần dân chủ
rất cao, lãnh đạo Chí Lợi đã can đảm dành cho người dân có tiếng
nói hầu hạn chế bớt những lạm quyền nếu có của COREMA, hay CONAMA.
Sự tham dự nầy cũng còn có khả năng làm giảm thiểu hay chấm dứt
những tệ nạn hối lộ và cửa quyền qua các thủ tục phê chuẩn giấy
phép cho các dự án.
Từ
tháng 7/1997, chính phủ đã thiết lập Bộ Giáo dục Môi trường và Tham
vấn công dân ( Department of Citizen Participation & Environmental
Education) để tiếp tay với chính quyền trong việc soạn thảo và thi
hành các chính sách về môi trường. Hiến pháp đã quy định rõ quyền
hạn của công dân trong việc tham gia trực tiếp quản lý môi trường ở
bốn địa hạt chính yếu như: 1- Định chuẩn; 2- Chất lượng môi trường;
3-Chương trình giải nhiễm (decontamination plan); 4- Dự kiến và cập nhật
hóa các luật lệ mới.
Người
dân còn được tham vấn qua hệ thống thẩm định phân tích tác động môi
trường và được thông báo chính thức qua công báo và
các báo chí địa phương hay toàn quốc. Trong vòng 60 ngày kể từ
ngày công bố, mỗi công dân có quyền trình bày ý kiến về các dự án
gửi lên cho CONAMA duyệt xét, và cơ quan nầy phải ghi nhận ý kiến
trên trong tiến trình phê chuẩn dự án theo tinh thần của hiến pháp.
Trong trường hợp ý kiến của người dân không được lưu ý, họ có
quyền khiếu tố lên cấp cao hơn trong vòng 15 ngày. Cơ quan sau cùng
nầy phải có câu trả lời trước 30 ngày sau đó, và mọi khiếu tố
cũng phải được ghi trên công báo..
Do
được hiến pháp bảo vệ, người dân Trí Lợi đã mạnh dạn tham gia cụ
thể vào công cuộc phát triển quốc gia, do đó đã tạo điều kiện cho
đất nước nầy có cơ hội tiến dần theo chiều thuận của đà dân chủ
hóa. Mọi người dân được khuyến khích góp ý vào các dự án quốc gia
đặc biệt liên quan đến bốn địa hạt mấu chốt kể trên. Không khí
dân chủ lần lần làm tăng thêm uy tín của chính quyền và đây cũng
là điều kiện cần và đủ để xây dựng và phát triển một đất nước
trong giai đoạn toàn cầu hóa.
Những mối ưu tư hàng đầu của Chí lợi
Vì nhận thức được nguy cơ của các thảm nạn
môi trường đã, đang và sẽ xảy ra song hành với việc phát triển quốc
gia, chính phủ Chí Lợi qua CONAMA đã đưa vào kế hoạch giải quyết đồng
loạt những vấn nạn môi trường xảy ra sau đây:
Không
khí: Ô nhiễm không khí là một vấn nạn môi trường nguy hiểm nhất là
ở các thành phố lớn như
Thay
đổi thời tiết: CONAMA phối hợp cùng với các đại học liên hệ, các
viện nghiên cứu, Bộ năng lượng để thiết lập bộ luật về bảo vệ và
giảm thiểu sự hâm nóng toàn cầu trong phạm vi của quốc gia nầy theo
tinh thần Hội nghị thượng đỉnh
Nước:
Ô nhiễm nguồn nước là một hiểm họa quốc gia. Do sự phân phối
không đồng bộ của thiên nhiên, miền Nam Chí lợi có lượng nước dư
thừa; trong khi miền Bắc thì khô cằn (địa thế tương tự như miền Trung
Việt
Đất
canh tác: Giống như trường hợp của các quốc gia đang phát triển, ba
vấn nạn căn bản của đất đai dùng để canh tác ở Chí Lợi nhằm mục
đích tăng nguồn sản xuất nông nghiệp là: sự xói mòn (erosion), sự sa
mạc hóa (desertification), và sự ô nhiễm. Hai phần ba lãnh thổ Chí
Lợi đang bị xói mòn, 75% đất trồng trọt đang trên đà thoái hóa và
có khả năng bị sa mạc hóa nếu không có biện pháp cứu chữa thích
nghi . (Tình trạng trên cũng đang xảy ra tương tự như ở Việt
Trước
những nguy cơ trên, chính phủ bắt đầu theo dõi, kiểm soát các kế
hoạch phát triển nông nghiệp cũng như hạn chế sản xuất một số nông
phẩm dư thừa dùng để xuất cảng để bảo vệ đất và giữ cho đất có
đủ thời gian để tái tạo trở lại giống như tình trạng nguyên thủy.
Quản
lý chất phế thải rắn: Chất phế thải từ các hộ gia cư vẫn còn được
đổ vào những bãi rác mở (open dump site). Tình trạng chất phế thải
kỹ nghệ cũng chẳng khá hơn, tuyệt đại đa số công nghệ hiện có đều
không có hệ thống xử lý và phế thải vẫn phải đi vào các bãi rác
nếu là chất rắn, và vào sông, hồ, biển nếu là chất lỏng.
Chính
phủ đã đưa ra một chương trình hành động nhắm vào từng mục tiêu
riêng biệt để giải quyết tình trạng trên:
·
Thiết lập cơ quan giáo dục công cộng về môi
trường có mục đích giải thích cho người dân hiểu rõ thêm về các vấn
nạn môi trường;
·
Khai triển thêm các luật lệ chi tiết để
quản lý từng loại rác;
·
Thành lập những bãi rác theo tiêu chuẩn
quốc tế nghĩa là có vách ngăn nước rỉ để bảo vệ nguồn nước ngầm
và hệ thống xử lý nước rỉ để bảo vệ sức khỏe người dân;
·
Khuyến khích và hỗ trợ sự tham gia của các
nhà sản xuất công nghiệp vào việc giảm thiểu phế thải (waste
minimization) kỹ nghệ.
Nhận thức được nguồn tài nguyên thiên nhiên
không phải là một nguồn vô tận, đó là một nguồn dự trữ thiết yếu
của quốc gia, và là một vấn đề sống còn của đất nước, Chí lợi đã
thấy và thấy rất rõ đây chính là nguồn nội lực cần phải được bảo
vệ. Do đó việc khai thác các hầm mỏ và nguồn tài nguyên rừng được
lưu tâm kỹ lưỡng.
Mõ:
Đây là một nguồn tài nguyên lớn chiếm 25% sản lượng thế giới về
đồng (Cu), 40% về lithium (Li), 21% về selemium (Se), và 40% về rhenium
(Rh). Quốc gia nầy đứng thứ nhì thế giới về molybdenum (Mo); ngoài ra
còn có nhiều mõ có trữ lượng đáng kể như: sắt, manganese, vàng,
bạc, nitrate và iodine. Tổng lượng xuất cảng của Chí Lợi chiếm 50%
trong doanh số về quặng mỏ. Để đổi lại các thành tựu trên, Chí lợi
phải trả một giá đắt về tình trạng ô nhiễm ở những vùng bị khai
thác. Do đó kể từ 1992, luật về mõ số 185 đã quy định rõ ràng định
mức khai thác và biện pháp để làm giảm thiểu ô nhiễm bắt đầu đi
vào áp dụng. Tình trạng ô nhiễm ở những vùng bị khai thác đã được
cải thiện rất nhiều sau đó.
Rừng:
Gỗ là nguồn tài nguyên thứ hai của Chí Lợi. 90% gỗ xuất cảng
gồm gỗ thông và khuynh diệp. Do thiếu kiểm soát và không có kế
hoạch khai thác từ đầu, nạn phá rừng thiên nhiên đã đưa Chí lợi đến
nguy cơ cạn kiệt về rừng. Nhưng sau đó chính phủ đã kịp thời đưa ra hai
biện pháp thích nghi để chận đứng nạn khai thác rừng bừa bãi như: 1-
Cấm và hạn chế xuất cảng một số gỗ tạp; 2- Quy định kế hoạch trồng
rừng để tái tạo rừng nguyên thủy. Hành động nầy của chính phủ tuy
có làm giảm bớt một số ngoại tệ nặng do xuất cảng nhưng trái lại
nó đã mang lại cân bằng hệ sinh thài của quốc gia, một điều cần
thiết để bảo vệ môi trường.
Nông
nghiệp: Trong khoảng 20 năm trở lại, sản xuất nông
nghiệp của Chí Lợi tăng vọt mạnh với khoảng 5 triệu mẫu trồng cây
ăn trái. Nhiều trái cây hầu hết được xuất cảng qua Bắc Mỹ và Âu
châu.
Vì phải tập trung vào việc xuất cảng nông
phẩm tối đa, Chí Lợi hiện nay phải trực diện với tình trạng đất xói
mòn, bị sa mạc hóa, và ô nhiễm môi trường do phân bón tồn đọng
trong đất và sự hiện diện của đủ loại thuốc trừ sâu rầy, diệt cỏ
dại. Hiện tại có 45% đất bị xói mòn, và lượng thuốc trừ sâu rầy
khổng lô được nhập cảng trong năm 1998 là 50 ngàn tấn gồm hơn 900
loại khác nhau. Hầu hết các loại thuốc bị cấm sử dụng như DDT,
Aldrin, Endrin,...đều đang được sử dụng rộng rãi ở Chí lợi (tương tự
như ở Việt
TRƯỜNG HỢP VIỆT
Theo Tổng cục thống kê năm 2000, dân số của
Việt
Từ
hiện trạng xã hội nầy, lãnh đạo Việt
Nhìn
chung, nếu so với Chí Lợi về mặt địa dư và khí hậu, Việt Nam có nhiều
thuận lợi hơn vì thời tiết ít khắc nghiệt và vũ lượng thích hợp cho
nông nghiệp. Nhưng ngược lại, Việt
Về
rừng, năm 1945, cả nước có 14 triệu mẫu rừng chiếm một diện tích là
43,8%. Nhưng hiện nay chỉ còn khoảng độ 17% diện tích rừng tự nhiên.
Cũng theo ước tính, Việt
Mặc
dù phải đối diện với nhiều nghịch lý và mâu thuẫn trong bài toán
phát triển quốc gia và bảo vệ môi trường, mặc dù cần phải nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong một quốc gia đang
phát triển, lãnh đạo Chí Lợi đã thấy rất rõ là cần phải cân bằng
sản xuất, chấp nhận hy sinh một số thu nhập ngoại tệ nặng do xuất
cảng để đổi lấy một tình trạng cân bằng hợp lý cho đất nước. Họ
biết phải hy sinh để cứu lấy tài nguyên thiên nhiên, nguồn tiềm
năng của quốc gia. Họ biết phải bảo vệ môi trường cho các thế
hệ về sau mặc dù phải tiến chậm lại vài bước.
Các
quyết định và cung cách giải quyết sáng suốt những vấn đề môi
trường trên đã đem lại tin tưởng cho người dân, do đó Chí Lợi có
được sự ổn định chính trị và xã hội trong nước. Từ sự ổn định trên,
đầu tư ngoại quốc sẽ an tâm hơn để giúp đất nước nầy đẩy mạnh phát
triển, mang nhiều quy trình công nghệ tân tiến và “sạch” có khả năng
làm tăng nhanh phát triển đồng thời giảm thiểu hay ngăn ngừa được ô
nhiễm. Làm được như thế, Chí Lợi cùng một lúc giải quyết được hai
vấn đề cho quốc dân: làm tăng phúc lợi cho người dân và bảo vệ
được môi trường cho các thế hệ về sau, đi đúng theo tiêu chuẩn của
Liên hiệp quốc đề ra cho sự phát triển bền vững của các quốc gia
đang phát triển là: 1- Tạo dựng tăng trưởng kinh tế; 2- Cân bằng môi
sinh; 3- và Tiến bộ xã hội.
Tính tiêu cực trong phát triển
Đối
với Việt
Sản
xuất càng tăng, nhưng ngược lại, mức sống người dân ngày càng thoái
hóa! Theo sách Le Dossier Noir du Communisme do Michel Tauriac xuất bản
tại Pháp (4/2001) thì hiện có 80% dân chúng Việt Nam sống với ít hơn 1
Mỹ kim/ngày và 12 triệu người vẫn thường xuyên bị đói. Có 69,5% trẻ
em đang trong tình trạng thiếu dinh dưỡng và nghịch lý hơn nữa là có
từ 500 đến 1.000 đảng viên là triệu phú đô la!
Các
nghịch lý trên đưa đến những mặt tiêu cực sau đây: 1- Nhiều dịch vụ
phát triển quá nhanh chóng và không được điều nghiên kỹ lưỡng như
việc thiết lập các trung tâm giải trí, khách sạn, sân golf.. . với
mục đích phục vụ cho người giàu và ngoại quốc tạo thêm ranh giới
cách biệt giữa tuyệt đại đa số quần chúng và một nhóm thiểu số “tư
bản mới”; 2- Một số tư bản mới đã thành hình, từ đó phát xuất ra
thêm nhiều mâu thuẫn và hệ lụy tiêu cực trong hệ thống quyền lực -
kinh tế - chính trị. Chính hai mặt tiêu cực trên đã là một trong nhiều
nguyên nhân chính tạo nên khủng hoảng xã hội gần đây nhất và làm
giảm dần mức tăng trưởng kinh tế từ 10% ở những năm đầu đổi mới
xuống đến 4% năm 1999, mặc dù Việt Nam vẫn còn quá nhiều nhu cầu
cần phải cung cấp cho đất nước.
Việc
tăng trưởng kinh tế - kỹ nghệ quá nhanh so với tốc độ trước khi có
chính sách đổi mới, nhưng không đủ nhanh so với nhu cầu của quốc gia,
đã tạo nên những biến động ảnh hưởng lên môi trường ở những vùng
được phát triển mạnh. Tại các nơi trên, bầu không khí ngày càng ô
nhiễm thêm. Thán khí cùng với nhiều kim loại độc hại như chì, thủy
ngân, manganese, chrome và một số hợp chất hữu cơ nhẹ làm dung môi
trong quá trình sản xuất đã được ghi nhận. Nguồn nước bị ô nhiễm,
đặc biệt ở các vùng tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải từ các
nhà máy vào hệ thống cống rãnh. Kết quả phân tích cho thấy ô nhiễm
hữu cơ đã được ghi nhận ở Bến Than, thượng nguồn sông Đồng Nai,
nguồn nước chính cung cấp nước cho cư dân thành phố. Ở nhiều nơi, chỉ
dấu oxy hòa tan (Dissolved oxygen_DO) giảm xuống đến 2.3 mg/L (nếu chỉ
số DO xuống dưới 3,5, cá tôm sẽ không đủ nguồn oxy trong nước để có
thể tồn tại được). Lượng E-coliform, vi khuẩn gây bịnh đường ruột và
có thể làm chết người nếu không cứu cấp kịp thời, tăng trung bình
túy nơi từ 14.000 đến 480.000 MPN/100mL ở kinh Nhiêu Lộc (tiêu chuẩn
cho nước sinh hoạt ở Hoa kỳ là 23MPN/100mL) (MPN, most probable numbers).
Đặc biệt cũng tại Bến Than, độ mặn đo được vào giữa tháng 2/1999
(giữa mùa khô) là 400 mg/L. Tuy lượng chloride trong nước chưa đến mức
báo động, nhưng đây là lần đầu tiên chỉ dấu trên báo hiệu sự nhiễm
mặn đã xâm nhập vào thượng nguồn sông Đồng Nai. Ngoài ra, các ô
nhiễm dầu, kim loại nặng đạt đến mức độ có thể tác động đến nguồn
tài nguyên nước và con người. Hàm lượng thuốc trừ sâu như aldrin,
diedrin, D DT (đây là những loại thuốc đã được xếp vào trong danh
sách 12 hóa chất độc hại bị cấm sử dụng do LHQ đề ra) đôi khi vượt
quá tiêu chuẩn của nước uống. Riêng arsenic, được trực tiếp phân
tích từ các mẫu nước giếng mặt và giếng khoan trên nhiều nơi ở Việt
Nam, đã hiện diện ở nhiều địa phương mà kết quả sơ khởi đã được ghi
nhận như sau: 5ug/L (phần tỷ) tại Xóm Mới (Tp HCM); ở thị xã Biên Hòa
35 ug/L (cho giếng khoan sâu trên 150m), 11,5ug/L (giếng mặt); thị xã
Tân An, 8,5 ug/L (giếng đóng sâu trên 280m); thị xã Tiền Giang, 11 ug/L;
và nhất là tại những nơi có nồng độ nhiễm mặn cao như Bình Đại (Bến
Tre), 37 ug/L; Gò Công, 5,4 ug/L. Các kết quả trên cho thấy tình trạng
ô nhiễm arsenic đã bắt đầu ảnh hưởng lên ĐBSCL.
Về
các bãi chứa rác, các bãi chính không bảo quản đúng tiêu chuẩn như
bãi rác Đông Thạnh ở Hốc Môn đã xảy ra nhiều vụ “bể bờ” làm cho
nước rỉ chảy tràn ra sông Rạch Tra và Sàigòn năm 2000. Cũng tại nơi
bãi rác nầy, chính quyền đã chi ra trên 500 tỷ đồng (tương đương 32
triệu Mỹ kim) để xây dưng nhà máy xử lý nước rỉ. Nhưng tiếc thay,
nhà máy chỉ hoạt động không hơn một tuần lễ sau khi khánh thành vào
giữa tháng 7/2002. Ngoài ra, còn vô số bãi rác “phụ” chen lẫn trong
các khu dân cư đông đúc đã làm tăng thêm điều kiện cho các bịnh
truyền nhiễm phát triển mà thôi.
Về
ô nhiễm đường nước, một thí dụ cụ thể cho thấy tại Việt Trì (Bắc
Việt), hàng năm các khu kỹ nghệ nơi đây đổ ra biển khoảng 35 triệu
m3 nước thải kỹ nghệ, 100 tấn acid sulfuric H2SO4),
4000 tấn acid chloridric (HCl), 1300 tấn sút (NaOH), 300 tấn dầu đủ
loại, và 24 tấn thuốc bảo vệ thực vật. Một thí dụ khác là hàng
năm nhà máy than đá Quảng Ninh đã thải vào vịnh Hạ Long 900 triệu
tấn nước thải và bụi than làm ô nhiễm toàn vùng san hô vùng biển
phía bắc và đông bắc vịnh Bắc Việt. Viện Hải Dương Học Nha Trang đã
ước tính là có ít nhất 50% san hô bị hủy diệt ở vùng nầy và đã tìm
thấy dấu vết của kim loại chì trong cá tôm. Đối với khu Tứ Giác Long
Xuyên (ĐBSCL) độ mặn đã xâm nhập đến nhiều nơi và đạt đến mức 6,5
mg/L cũng như đã lấn sâu vào đất liền trên 80 Km.
Nhìn
chung, tình trạng môi sinh ở Việt Nam đã đến mức báo động, nhất là
ở các thành phố lớn mặc dù mức độ khai triển kỹ nghệ vẫn chưa
phát triển tương xứng với nhu cầu của dân chúng toàn quốc, chỉ tập
trung váo những thành phố lớn mà không lưu tâm hay quy hoạch tùy theo
điều kiện của từng địa phương. Hiện nay vẫn còn khoảng 75% dân chúng
sống tập trung ở các vùng nông nghiệp, vẫn sống trong điều kiện sơ
khai của thời đại phát triển kỹ nghệ.
Nguyên
nhân của việc trì trệ phát triển cho những năm gần đây cũng như
hiện trạng ô nhiễm ở Việt
·
Ảnh hưởng của sự sụp đổ hệ thống Cộng sản
ở Nga sô và Đông Âu đầu thập niên 90 cùng với sự khủng hoảng kinh
tế vùng Đông Nam Á ở những năm gần đây làm cho quốc tế ngần ngại
đầu tư vào Việt Nam.
·
Hệ thống tiền tệ Việt
·
Hệ thống ngân hàng không hữu hiệu, chưa thể
hiện chức năng đúng đắn trong dịch vụ trao đổi và không có tính
xuyên suốt trong báo cáo. Thống đốc ngân hàng Nhà nước mới đây đã
xác quyết chức năng của ngân hàng là phục vụ cho nhu cầu của quốc
gia và dân chúng chứ không thi hành theo chỉ thị và mệnh lệnh của
Đãng nữa (?)
·
Mặc dù có sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế
giới (WB), Ngân hàng Phát triển Á Châu (ADB), Quỹ Tiền tệ thế giới
(IMF), Chương trình phát triển LHQ (UNDP).. . về tài chính và kỹ thuật
cho việc nâng cấp và giải quyết các vấn nạn môi sinh ở Việt
·
Việc phá hoại các rừng ven biển và việc
dẫn nước mặn vào sâu trong đất liền để khai thác dịch vụ nuôi tôm
là một trong những nguyên nhân chính cho việc nhiễm mặn. Ngay cả việc
nuôi tôm, sau một vài mùa có thu hoạch cao, dịch vụ nầy lần lần đi
vào phá sản vì tôm con bị chết quá nhiều do hệ sinh thái thay đổi và
môi trường sinh sống của tôm không còn đồng nhất như vùng nước mặn
nguyên thủy. Việc thay thế chloramphenicol, một hóa chất được sử dụng
như thuốc kháng sinh trong kỹ nghệ nuôi tôm đã bị cấm vì không đáp
ứng được tiêu chuẩn xuất cảng qua Liên Hiệp Âu châu và Hoa Kỳ,
bằng rễ của cây thuốc cá có chất rotenone trong thời gian gần đây
cũng sẽ là một đề tài cần phải thảo luận và nghiên cứu lại trong
kỹ nghệ nầy. Ảnh chụp từ vệ tinh năm 1999 cho thấy khoảng 150.000
mẫu tây ở ven biển Cà Mau, Bạc Liêu đã bị bỏ hoang trong số khoảng
200.000 mẫu đã khai thác trong thời gian 5 năm trở lại đây. Từ xa xưa,
các rừng tràm, đước, vẹt.. . đã phát triển vững mạnh trong vùng
nầy, thiết lập một hệ sinh thái thiên nhiên vừa cân bằng và cầm
chân nước mặn tiến sâu vào đất liền, vừa là môi trường sống thích
hợp cho tôm cá, do đó tôm khó thể phát triển lâu dài được vì sự
mất cân bằng trên.
·
Trong những năm sau nầy, lãnh đạo Việt
·
Có nhiều thành phần tham gia vào việc phát
triển Việt
·
Đối với nhu cầu phát triển, điều kiện tiên
quyết là phải có sự bàn thảo và đồng thuận giữa chính quyền và
các tư nhân. Cho đến nay, sự hợp tác giữa chính quyền – tư nhân –
ngoại quốc chưa được đặt trên căn bản công bằng và đồng thuận, do
đó vẫn còn nhiều cản ngại trong việc giao thương quốc tế. Vẫn còn
có nhiều thiên vị cho các đối tác có liên quan đến chính quyền.
Công ty quốc doanh chiếm đa số vẫn còn được tài trợ và ưu đãi mặc
dù làm ăn thua lỗ. Việc kiểm soát môi sinh còn quá lỏng lẻo đưa
đến việc lơ là trong bảo quản và xử lý phế thải.
·
Một số dự án có tầm vóc quốc gia, đối tác
được chọn chưa thu thập đầy đủ dữ kiện nghiên cứu tác hại môi
trường, nhân sự chuyên nghiệp không đáp ứng được nhu cầu của công
trình, do đó nhiều dự án phải bị bỏ dở nửa chừng. Một công ty tư
vấn ngoại quốc vừa mới trình dự án khả thi để thải hồi 800.000 m3
nước sinh hoạt của thành phố HCM hàng ngày sau khi xử lý sơ bộ (cơ
học) và thải vào sông Sàigòn với mục đích vừa để giải quyết lượng
nước thải của thành phố và vừa để ngăn chặn sự nhiễm mặn trong
mùa khô (2000). Có cần phải xét lại tính khả thi của dự án về mặt
kỹ thuật và ảnh hưởng tác hại lên môi trường hay không?
·
Các công ty tư vấn ngoại quốc được Việt
Nhận
diện được một số nguyên nhân căn bản đưa đến sự kiện chậm phát
triển cho Việt
Ấu trĩ trong quản lý môi trường
Luật
môi trường của Việt
·
Chương I - Những quy định chung.
·
Chương II - Phòng chống suy thoái môi trường,
ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.
·
Chương III - Khắc phục suy thoái mội trường,
ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.
·
Chương IV - Quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường.
·
Chương V - Quan hệ quốc tế về bảo vệ môi
trường.
·
Chương VI - Khen thưởng và xử lý vi phạm.
·
Chương VII - Điều khoản thi hành.
Ngoài
luật lệ môi trường, Việt
Viễn
tượng tài nguyên bị cạn kiệt vì sự khai thác quá độ để đáp ứng cho
nhu cầu kinh tế cấp bách như: nạn phá rừng, đất đai bị tận dụng khai
thác mà không có đủ thời gian để tái lập cân bằng cho đất, sử
dụng phân bón và thuốc sát trùng bừa bãi, tận dụng nguồn nước mặt
và nước ngầm mà không điều nghiên kỹ lưỡng đến tác động môi
trường, không khí và nguồn nước bị ô nhiễm. Nếu không tìm được một
phương cách tiếp cận mới để tạo dựng một sinh lộ cho tương lai thì
hình ảnh một dân tộc triền miên sống trong nghèo đói, và không có
sinh khí vì thiếu dinh dưỡng và bịnh hoạn sẽ là hình ảnh của Việt Nam
trong tương lai. Trong chuyến viếng thăm Việt
Cực đoan trong quản lý đất nước
Từ
các hiện tượng tiêu cực trong phát triển, ấu trĩ trong quản lý môi
trường, lãnh đạo Việt
Pháp
quốc và người Pháp luôn luôn tự hào là chiếc nôi của cách mạng
dân chủ trên thế giới qua cuộc nổi dậy phá ngục Bastille năm 1789.
Họ đã kiêu hãnh vì có một nền văn hóa ưu việt và một ngôn ngữ
văn minh, tiến bộ nhất trên thế giới. Nước Pháp cũng là một trong
những quốc gia đầu tiên phát triển công-kỹ-nghệ và có nền kinh tế
thịnh vượng hàng đầu. Nhưng đứng trước nhu cầu toàn cầu hóa, người
dân Pháp đã thể hiện một số mặt tiêu cực có thể làm chậm lại tiến
trình đi đến gần nhau của các dân tộc trên thế giới để cùng giải
quyết những vấn đề chung cho nhân loại. Các thí dụ điển hình sau đây
liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ trong giao dịch quốc tế đã nói
lên tính “cô lập” tiêu cực của người Pháp.
Kể
từ năm 1994, chính phủ Pháp đã dự phóng tính toàn cầu hóa của nhân
loại nên khuyến cáo về việc sử dụng tiếng Anh trong giáo dục, dịch
vụ công cộng và trao đổi quốc tế. Claude Allegré, Bộ trưởng giáo
dục Pháp thời bấy giờ đã yêu cầu các nhà nghiên cứu khoa học trong
khi viết luận án hay báo cáo nên trình bày bằng Anh ngữ. Nhưng cho
đến nay (2002), các tài liệu nghiên cứu từ Pháp vẫn hoàn toàn soạn
thảo bằng Pháp ngữ, và đây là một cản ngại lớn cho thế giới và
nước Pháp trong việc trao đổi các tiến bộ của khoa học. Hiện tại chỉ
còn 130 triệu người nói tiếng Pháp so với hơn 6 tỷ người hiện diện
trên thế giới.
Tính
cực đoan còn thể hiện trong việc trao đổi trong lãnh vực hàng không.
Các phi công Pháp vẫn tiếp tục cưỡng lại lệnh của chính phủ đề ra
trong luật an toàn không lưu vào tháng 2/2000 về việc sử dụng Anh ngữ
khi đi và đến phi trường De Gaulle (