Nghị Quyết
của Bộ Chính trị về Bảo vệ Môi trường
- Decree of the Political Bureau on Environment Protection
Tạp chí Khoa học &
Môi trường (12/28/04)
Hỏi 1: Vào ngày 15/11/2004, Bộ
Chính trị đă ra Nghị quyết(NQ)
số 41-NQ/TƯ về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Để
cho thính giả của đài ACTD có khái niệm về
tầm quan trọng của NQ nầy, xin TSMTT tŕnh bày sơ
lược về nội dung của bảng NQ.
Đáp 1: Thưa anh, nói một cách sơ lược th́ NQ 41 tóm gọn trong 6
trang chia làm 4 tiêu đề như sau:
1- T́nh h́nh bảo vệ môi
trường;
2- Quan điểm, mục
tiêu, và nhiệm vụ;
3- Các giải pháp chính; 4- và
sau cùng là các giải pháp thực hiện.
Nh́n chung, NQ nầy cũng
chỉ là một đúc kết của hai báo cáo trước
đây là: thứ nhất báo cáo Theo dơi môi trường
Việt Nam 2002 do Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan
Mạch (DANIDA) thực hiện qua sự tài trợ của
Ngân hành Thế giới và báo cáo Chíến lược
Bảo vệ Môi trường Quốc gia 2001 - 2010 do
Bộ Khoa học, Công nghệ, và Môi trường soạn
thảo.
Hỏi 2: Như vậy là không có ǵ
mới cả phải không thưa TS?
Đáp 2: Thưa đúng như
vậy, nói rốt ráo là khuôn khổ của bảng NQ
chỉ là một bảng tóm tắc của hai báo cáo vừa
nêu trên.
Hỏi 3: TS có thể nói vài điểm
đại cương cho thính giả hiểu rơ thêm.
Đáp 3: Có thể nói rằng, nh́n
chung th́ cả nước và
cả thế giới đều biết t́nh trạng môi trường
của Việt Nam đang xuống cấp trầm
trọng, đất đai bị xói ṃn và thoái hóa, phẩm
chất các nguồn nước mặt và nước
ngầm suy giảm mạnh và nhanh, không khí ở nhiều đô
thị, khu dân cự bị ô nhiễm nặng, khối lượng
phát sinh và mức độ độc hại của
chất thải ngày càng tăng, tài nguyên thiên nhiên bị khai
thác quá mức và không có kế hoạch, đa dạng sinh
học bị đe dọa trầm trọng, điều
kiện vệ sinh môi trường, nguồn cung cấp nước
sạch hoàn toàn không bảo đảm. Thêm
nữa việc đẩy mạnh phát triển công
nghiệp, dịch vụ, quá tŕnh đô thị hóa, sự
gia tăng dân số quá nhanh, t́nh trạng nghèo - đói quá cao
càng làm t́nh trạng thêm trầm trọng.
Hỏi 4: Về mục tiêu trong NQ th́
thế nào?
Đáp 4: Thưa, cũng vẫn như
cũ, chúng tôi xin trích ra đây và không b́nh luận như:
1- Ngăn ngừa, hạn
chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái, và
sự cố môi trường;
2- khắc
phục ô nhiễm môi trường, phục hồi hệ
sinh thái đă bị suy thoái, nâng cao chất lượng môi
trường; và 3- xây dựng nước ta trở thành
một nước có môi trường tốt.
Hỏi 5: C̣n nhiệm vụ có ǵ
khác không thưa TS?
Đáp 5: Nhiệm vụ vẫn là
một tập họp của những nhóm từ chung chung gồm ba điều căn bản:
1- Pḥng ngừa và hạn
chế các tác động xấu đối với môi trường
như: kiểm soát việc gia tăng dân số, thành
lập hệ thống các đô thị vệ tinh, tăng cường
kiểm soát ô nhiễm tại nguồn, chú trọng quàn lư
chất thải, kiểm soát chặt chẻ việc xử
dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực
vật;
2- Khắc phục các khu
vực môi trường đă bị ô nhiễm hay suy thoái;
3- Sau cùng điều tra các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Hỏi 6: Mục tiêu và nhiệm
vụ của NQ đề ra có vẻ có quy cũ, nhưng
c̣n các giải pháp để giải quyết vấn đề
th́ như thế nào thưa TS?
Đáp 6: Lần nầy, NQ đề
ra hai công tác hàng đầu đáng lưu tâm là:
1- công tác
đẩy mạnh giáo dục và tuyên truyền làm chính để
nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường
của mọi người dân.
2- Về quản lư việc
bảo vệ môi trường, NQ cũng có nêu ra việc
sửa đổi và bổ sung Luật Bảo vệ Môi trường.
Đây là hai điểm mà
chúng tôi cổ súy từ hơn 10 năm nay qua những đề
nghị để giải quyết vấn nạn môi trường
ở Việt
Một thí dụ điển
h́nh là Chí Lợi, chỉ sau gần 15 năm chuyển đổi
từ một chế độ độc tài qua một
chính phủ dân sự, t́nh trạng môi trường đă được
cải thiện vượt bực v́ chính phủ đă can đăm
để người dân dự phần trực tiếp
vào công cuộc quản lư và giải quyết môi trường
chung cùng với chính phủ. Làm được
như thế là nhờ lănh đạo của quốc gia
nầy biết vận dụng sự hợp tác của người
dân và chính quyền, cũng như chính quyền cố
gắng nâng cao tŕnh độ hiểu biết của người
dân qua giáo dục và tuyên truyền. Từ
đó, chính nhờ sự hợp tác và đối thoại
trực tiếp nầy mà việc giải quyết ô
nhiễm môi trường của quốc gia nầy rất
hài ḥa cùng với phát triển xă hội cũng như phúc
lợi của người dân được nâng cao
từng bước một. Đây là
một bài học lớn cho Việt
Hỏi 7: TS vừa nói NQ cũng có
dự định sửa đổ và bổ sung Luật
Bảo vệ Môi trường, theo TS
tại sao việc sửa đổi và bổ sung là cần
thiết và cấp bách?
Đáp 7: Sở dĩ chúng tôi xem điểm
cải đổi là cần thiết và cấp bách v́ sau khi
khảo sát bộ Luật Môi trường của Việt
Nam đă được quốc hội thông qua và đem vào
áp dụng từ ngày 10/1/94 gồm 7 chương và 55 điều.
Với nội dung như thế, Bộ luật nầy c̣n
quá sơ sài, thiếu sót nhiều điều khoản trong
việc minh định nhiệm vụ và trách nhiệm
của từng bộ phận trong quốc gia.Chính v́
những thiếu sót trên mà luật hiện hành được
suy diễn tùy tiện tùy theo quyết định vơ đoán
của người thi hành luật, cho nên cả người
dân lẫn chính quyền đều gặp khó khăn trong
việc thực thi và chấp hành.
Một thí dụ cho
việc luật trên không minh định rơ ràng và thiếu
tính xuyên suốt là: trong Điều 37 thuộc chương
4 có quy định rằng: nhà nước ban hành và tổ
chức thực hiện các văn bản pháp luật
về bảo vệ môi trường, và ban hành hệ
thống tiêu chuẩn môi trường. Cho đến nay, sau
10 năm thi hành luật, tiêu chuẩn môi trường
chỉ là những tiêu chuẩn tổng quát th́ làm thế nào
người dân hay chủ cơ sở sản xuất thông
hiểu được những quy định trong
luật, so với thực tế xă hội gồm nhiều
cơ sở sản xuất phức tạp liên quan đến
hàng 10.000 loại hóa chất khác nhau được trao đổi
và sản xuất hàng ngày.
Hỏi 8: C̣n tính xuyên suốt của
luật trên như thế nào?
Đáp 8: Chúng tôi muốn đưa
thêm ra đây một thí dụ khác về tính không xuyên
suốt của Bộ Luật Môi trường nằm trong Điều
38. Điều nầy quy định Bộ
Khoa học, Công nghệ, và Môi trường thực hiện
chức năng quản lư nhà nước để bảo
vệ môi trường. Trong lúc đó cũng chính Điều
38 nầy lại chỉ định ủy ban nhân dân,
tỉnh, thành phố thuộc trung ương thực
hiện chức năng quản lư trên. Hai Điều
trên cho thấy tính mơ hồ và tṛng tréo trong trách nhiệm
quản lư môi trường. Do đó, kết quả
hiển nhiên là không cơ quan nào có trách nhiệm quản lư
thực sự cả. Kết quả là từ hơn 4 năm
nay, hàng ngàn cơ sở sản xuất hóa chất ở
thành phố HCM đă được chỉ định
phải di dời, củng như các nhà máy dệt ở khu
vực Tham Lương bị vi phạm và bị đề
nghị đóng cửa...nhưng rốt cục cho đến
nay chỉ vài nhà máy trong nội thành đă di dời và các vi
phạm trầm trọng về ô nhiễm môi trường
của các nhà máy dệt đều vẫn hoạt động
b́nh thường như không có chuyện ǵ xảy ra cả.
Tin mới nhất vừa được biết là vào ngày
9/12 vừ qua, Bộ Môi trường & Tài nguyên đă
tổ chức một hội nghị góp ư dự thảo
bổ sung Luật Môi trường tăng lên thành 10 Chương
gồm 99 Điều tại thành phố HCM. Chúng tôi sẽ
rà soát laị khi nhận được toàn văn của
luật bổ sung nầy.
Hỏi 9: Để có một khái
niệm so sánh về Luật Môi trường của các quôc
gia trên thế giới, như Hoa Kỳ chẳng hạn, TS
có thể cho thính giả biết khái lược về
Bộ Luật nầy.
Đáp 9: Thưa anh, Bộ luật
Môi trường của Hoa Kỳ có tên là Quy định
về Luật Liên bang (Code of Federal Regulations-CFR) gồm 25
quyển, mỗi quyển độ 1.000 trang, và mỗi
trang chứa độ 1.000 chữ. Tổng
cộng khoảng 25 triệu chữ. Trong lúc đó
Luật Môi trường Việt Nam gồm 15 trang giấy
và có độ 500 chữ mỗi trang, vị chi 7.500
chữ. Trong luật Mội trường Hoa Kỳ, bất
cứ một cơ sở sản xuất nào dù nhỏ đến
đâu cũng đă được quy định rơ ràng
cả về định mức an toàn
lẫn việc xử lư phế thải. Do đó chủ cơ
sở sẽ dễ dàng thi hành các quy định ghi trong
luật mà không sợ bị suy diễn tùy tiện của
các thanh tra như trường hợp của Việt
Hỏi 10: Nói rốt ráo lại, qua
NQ mới nhất của Bộ Chính trị vừa kễ
trên, theo TS điều nào cần phải
đẩy mạnh nhất.
Đáp 10: Theo quan điểm
của chúng tôi, muốn giải quyết vấn đề
ô nhiễm và bảo vệ môi trường ở Việt
Nam, chúng tôi thấy cần phải có sự trợ giúp
của quốc tế về việc soạn thảo
bổ sung Luật môi trường áp dụng trong trường
hợp Việt Nam. Việc huấn luyện nhân sự chuyên
môn trong lănh vực nầy là một điều cần
thiết và cấp bách cũng như việc gia tăng ngân
sách quốc gia để đảm bảo công việc
quản lư môi trường.
Hai vấn đề then
chốt hiện tại ở VN là việc giải quyết
ô nhiễm do rác gia cư, phế thaỉ kỹ nghệ,
phế thải y tế, cũng như việc xử lư nước
thải gia cư, và kỹ nghệ. Trong một bản phúc
tŕnh mới nhất tên Diễn biến môi trường
2004 do Bộ Tài nguyên, Môi trường và Ngân hàng Thế
giới cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Canada
phối hợp cho biết:Trung b́nh một người
mỗi năm xả ra 200 Kg rác gia cư, và ở các đô
thị trung b́nh 300 Kg/người. Bản phúc
tŕnh c̣n dự phóng đến năm 2010, nếu không có
biện pháp giải quyết th́ Việt
Về việc xử lư nước
thải, mới đây Việt
Để kết luận,
chúng tôi thật sự không lạc quan về việc
cải thiện t́nh trạng ô nhiễm môi trường qua
Nghị quyết 41 nầy.
Kính chào Quư thính giả
của Đài ACTD