RFA
- Tạp chí Khoa học & Môi trường.
DIOXIN:
Báo cáo Hatfield - Dioxin: Hatfield Report
Vấn
đề dioxin-chất da cam đă được dư
luận thế giới và Hoa kỳ lưu ư ngay từ sau
khi có những yêu cầu đ̣i hỏi chính phủ Mỹ
phải bồi thường và cung cấp bảo hiểm y
tế cho các cựu quân nhân Hoa kỳ đă từng tham
chiến tại Việt Nam. Về phía
Việt
Từ
khi Hội Nạn Nhân Chất Da cam/Dioxin Việt
Hỏi 1: Xin
TS MTT cho biết khái lược về nguyên nhân và lịch
sử của báo cáo Hatfield nầy.
Đáp 1:
Thưa anh, thật ra đây là một phối hợp hành
động của công ty Hatfield Consultants Ltd (West Vancouver,
Canada) và Ủy ban 10-80 của Việt Nam (thành lập vào
tháng 10/1980 tại Hà Nội). Công ty Hatfield
được cơ quan Canadian International Development Agency tài
trợ. Báo cáo thứ nhất đúc kết các
cuộc điều tra sơ khởi và thu
thập dữ kiện từ năm 1994 - 1998. Báo cáo thứ hai công bố vào tháng 4/2000
dưới tiêu đề Development of Impact Mitigation Strategies
Related to the Use of Agent Orange Herbicide in the A Luoi Valley, Viet Nam.
Chúng tôi xin tạm dịch Chiến
lược giải tỏa những vấn nạn trong phát
triển liên quan đến việc xử dụng chất
Da cam ở thung lũng A Lưới.
Mục
tiêu của buổi nói chuyện hôm nay là cố gắng làm
sáng tỏ hay phơi biện những nghi vấn cùng các
luận cứ không đủ sức thuyết phục,
hoặc thiếu cơ sở khoa học, hoặc vô t́nh hay
cố ư đánh lạc hướng dư luận...của
các kết luận và đề nghị của Cty Hatfield và
Ủy ban 10-80.
Hỏi 2:
TS có thể cho biết tại sao công ty Hatfield chọn A
Lưới là địa điểm nghiên cứu?
Đáp 2:
Cty Hatfield đă chọn thung lũng A
Lưới, cách Huế 65 Km về hướng đông
để làm địa điểm nghiên cứu. A Lưới đă từng nổi tiếng
một thời dưới danh hiệu Ngọn đồi
937 (Hill 937) hay Hamburger Hill. Căn cứ nầy đă bị
quân đội Hoa kỳ bỏ hoang từ tháng 5/1969. A So hay
A Shau hay Đồng Sơn (tên đặt sau 1975) là một
căn cứ không quân nhỏ của quân đội Hoa
kỳ nằm phía nam của thung lũng,; căn cứ
đă bị bỏ hoang từ 8/12/1965. Tại
hai nơi nầy, chất khai quang màu da cam đă
được phung xịt nhiều nhất trong suốt
thời gian từ 1965 đến 1970. Có tất cả
224 phi vụ trên tổng số 606 phi vụ của vùng
Thừa Thiên được răi xuống A Lưới trong
khoảng thời gian nầy.
Hỏi 3:
Cuộc nghiên cứu đă tiến hành như thế nào,
thưa TS?
Đáp 3:
Các mẫu đất, máu, sữa mẹ, và thực
động vật lấy từ thung lũng
được phân tích để t́m chỉ dấu của
dioxin, một hóa chất độc hại có trong thuốc
khai quang. Do chi phí phân tích quá cao (khỏang US$ 1.000/mẫu). Có
28 mẫu được phân tích trong năm 1996 cho vùng A Lưới, và 22
mẫu cho A So trong năm 1997.
Sau
đây là kết quả các cuộc phân tích trích ra từ báo
cáo trên:
Đất:
A So: 220 ppt (một phần
ức)(3/99) Đáy
hồ A So: 6,9 (1998); A
Lưới: 1,1 - 0,9 ppt (1997);
Rễ
khoai ḿ: ND (1996), ND (1997).
Cá chép: Mô mở/ A So: 1,9 - 21 ppt (1999);
Gia
súc: Gan vịt/A So: 1,4 ppt (1/96);
Gan vịt/A Lưới: ND (1996);
Mở
vịt/A So: 6,1 ppt (1997);
Gan heo/A So: ND (1996), ND
(1999).
Máu/
A So - Đàn ông: - (lớn hơn 25 tuổi) 41 ppt (1999); Đàn bà : - (lớn hơn 25 tuổi) 16 ppt
(1999);
Sữa
mẹ/ A So: 1,4 - 16 ppt (1999).
Hỏi 4:
Từ các kết quả trên, báo cáo Hatfield đă đứa
ra kết luận như thế nào thưa TS?
Đáp 4:
Các kết luận sau đây được ghi nhận trong
báo cáo 1998:
·
Dây chuyền thực phẩm có
chỉ dấu nhiễm độc dioxin trong đất,
đáy hồ, cá, vịt , và người
ở gần căn cứ A So.
·
Ở những vùng khác của thung
lũng A Lưới lượng dioxin ở dưới
mức tác hại căn cứ theo
định mức Tây phương.
·
Lượng dioxin tương
đối cao được t́m thấy trong máu cư dân
sống quanh căn cứ A So. Trẻ em sinh sản sau
chiến tranh cũng có lượng dioxin cao trong máu
chứng tỏ rằng dioxin đă xâm nhập vào dây
chuyền thực phẩm.
·
Số lượng phân tích cho
thấy có sự liên hệ trực tiếp giữa
chất màu da cam và môi trường có ảnh hưởng
lên sức khỏe con người.Tuy nhiên báo cáo cũng
đề nghị cần phải có những khảo sát sâu
rộng hơn nữa cùng với sự tham gia của các tổ
chức đa quốc gia gồm những chuyên viên chuyên môn
về dioxin để thẩm định lại những
mối liên hệ trên.
Nh́n
chung các kết luận và đề
nghị trong báo cáo sơ khởi nầy tương
đối khách quan và trung thực dựa theo các số
liệu thu thập được. Qua
đến báo cáo 4/2000, và cũng là báo cáo tổng kết,
sự việc ḥan ṭan trái ngược hẳn. Các
số liệu trong báo cáo trước đă được
xử dụng lại cộng thêm một số kết
quả phân tích mới trong năm 1997,ø
1998, và 1999.
Hỏi 5:
TS vừa nói đến báocáo tháng 4/2000 hoàn toàn trái
ngược với báo cáo ở những năm
trước đó. Như vậy có
điều ǵ nghịch lư chăng?
Đáp 5:
Thưa có thưa anh. Về Đất. Trước
hết, theo kết luận của
Hatfield, căn cứ theo kết quả thu thập năm
1996, 1997 th́ vùng đất đă bị ô nhiễm dioxin
phải được tuyên bố là vùng ô nhiễm
(contaminated site) (trang 2 trong báo cáo) căn cứ theo quy
định Tây phương (western juridictions). Theo luật
Canada, đất nông nghiệp và đất xây cất nhà
ở (residential) th́ tiêu chuẩn dioxin có thể ảnh
hưởng lên sức khỏe người dân không
được vượt quá 350 ppt. Trong lúc đó, US EPA
đă thẩm định và tái thẩm định liên
tục tác hại của dioxin để định
mức tiêu chuẩn chấp nhận được hơn
10 năm nay mà vẫn chưa có kết luận chắc
chắn , và định mức chấp nhận sự
hiện diện của dioxins trong đất hiện
tại là 1.000 ppb (phần tỷ - 10 -9 ).
Về
máu người. Kết quả phân
tích và suy diễn hàm lượng dioxin trong máu của cư
dân sống tại A So đă được tŕnh bày trên
đây cho thấy có hiện tượng không b́nh
thường. Để có khái niệm về hàm
lượng dioxin trong máu người dân sống ở các
nước Tây phương, các số liệu sau cho
thấy lượng dioxin trung b́nh trong máu người dân
sống chung quanh các cơ sở hay nhà
máy sản xuất có nguy cơ phóng thích ra dioxin trong quy tŕnh
sản xuất:
·
Hoa kỳ (Dân chúng sống chung quanh
nhà máy giấy): 8,6 ppt dioxin;
·
Nga sô (Nhân viên văn pḥng ở nhà
máy hóa chất nông nghiệp): 23,5 ppt;
·
Đức (nhà máy sản xuất
2,4,5-T): 331,8 ppt và 125,6 ppt ở
hai thành phố sản xuất khác nhau;
·
Nga sô (Nhà máy sản xuất 2,4,5-T) 168 ppt (đàn ông), 202 ppt (đàn bà).
Tiến
sĩ Bruce Ames, nhà độc tố học nổi tiếng
trên thế giới nhận định và so sánh rằng,
lượng dioxin mà con người hấp thụ trong
thực phẩm hàng ngày khoảng 1pg/Kg/ngày sẽ làm tăng
sác xuất ung thư thấp hơn việc uống một
lon bia/ngày trong 125 năm, và khả năng sinh con dị h́nh
dị dạng thấp hơn việc uống bia trong 3000
năm!
Ở
những nơi có hàm lượng dioxin cao trong máu như
một vài vùng ở Đức, Nga sô, măi cho đến nay,
vẫn chưa thấy có báo cáo chính thức nào về các
hiện tượng dị h́nh dị dạng cũng
như các chứng ung thư xảy ra cho cư dân sống
chunh quanh vùng bị ô nhiễm.
Hỏi 6:
C̣n về sữa mẹ th́ sao?
Đáp 6:
Về sữa mẹ. Báo cáo cung cấp lượng dioxin t́m
thấy trong sữa mẹ ở vùng A So trong năm 1999 thay
đổi từ 1,9 đến 19 ppt cho 16 mẫu thử
nghiệm (trung b́nh là 14.6 ppt). Trong lúc đó, ở các
quốc gia Tây phương lượng dioxin trung b́nh trong
sữa mẹ được ghi nhận như sau: Kazakhstan
(vùng nông thôn ở Nga sô, 8 mẫu) 46,5 ppt (số liệu
của Hatfield) ; Los Angeles (21 mẫu) 3,1 ppt; Birmingham (Anh
quốc, 1 mẫu) 6,5 ppt; Thuỵ điển (10 mẫu) 3,3
ppt; Ḥa lan (nông thôn, 1 mẫu) 5,2 ppt; và Bỉ (vùng kỹ
nghệ, 1 mẫu) 10,2 ppt. Theo báo cáo nghiên cứu của Kim
Hooper et al. (Environmental Health Perspectives Volume 107, Number 6,
June/1999) th́ mức độ ô nhiễm ở vùng nông
nghiệp phía Nam tỉnh Kazakhstan (Nga Sô) rất cao. Lượng dioxin trong sữa mẹ đă lên
đến 208pg/g (hay ppt) (phần ức) qua 64 mẫu
thử nghiệm, vùng nầy là một vùng trồng bông
vải và đă xử dụng thuốc diệt cỏ
dại có chứa TCDD. Người viết đă
trực tiếp hỏi Tiến sĩ Hooper về t́nh trạng
sức khỏe ở vùng nầy nhưng được cho
biết là không có báo cáo về vấn đề nầy.
Tóm
lại, các số liệu và dữ kiện trên đây là
những bằng cớ xác định sự hiện
diện của dioxin trong máu và sữa mẹ của cư
dân sống ở vùng A So, nơi bị phung xịt rất
nhiều chất da cam, và những nơi trên thế
giới đă xảy ra tai nạn hay
nhiễm độc dioxins. Kết quả so
sánh cho thấy nồng độ trong máu giữa các nơi
kễ trên cũng không sai biệt bao nhiêu, và tại
những nơi nầy cũng chưa thấy có chỉ
dấu bất thường nào cả.
Hỏi 7:
Như vậy toàn vùng A Sho, A Lưới hoàn toàn bị tiêu
hủy và đất không c̣n có thể canh tác
được theo báo cáo của Hatfield,
phải không?
Đáp 7:
Vẫn theo báo cáo trên th́ đúng như
vậu thưa anh. Tuy nhiên dựa theo tin
tức đăng tải trên báo Sài G̣n Giải Phóng ngày
15/9/2004 th́ t́nh h́nh khác hẳn.
Hỏi 8:
Khác như thế nào thưa TS?
Đáp 8:
Cái khác biệt ở đây là từ một vùng đă
được công bố là bị nhiễm nặng
chất độc da cam mà nay, Đoàn kinh tế-quốc
pḥng 92 đă khai thac tối đa tiềm năng
đất đai ở đây để đẩy
mạnh kinh tế trong vùng. Đặc
biệt là câytrồng như bầu, bí, rau
quả...đều cho cây trái tốt tươi và đàn bó
phát triển mạnh ngay trênđồng cỏ nguyên là sân bay
A Sho cũ. Chỉ nội điều nầy thôi
cũng đă nói lên tính mâu thuẩn trong kết luận
năm 200 của công ty Hatfield mà Hội NNCDCViệt Nam
đă dựa vào báo cáo nầy để kiện 37 công ty hóa
chất Hoa Kỳ.
Hỏi 9: TS đă nêu ra những nghịch lư
trong báo cáo trên,như vậy tại sao
Hội NNCDCViệt
Đáp 9:
Ngay trong phần mở đầu của phần kết
luận trong báo cáo 4/2000, Cty Hatfield đă khẳng
định như sau : Cho đến ngày
nay, với mức độ của dioxin hiện diện
trong môi trường và trong máu cư dân sống quanh thung
lũng A Lưới và nếu trường hợp trên xảy
ra ở những nơi như Hoa kỳ, Canada, hay Âu châu, th́
một kế hoạch bảo vệ sức khoẻ
người dân sẽ được khai triển tức
khắc để hạn chế hay giải quyết
vấn đề. Theo sự ghi nhận của
người viết, tại Hoa kỳ, vấn đề
giải quyết và xử lư ô nhiễm dioxin chỉ xảy
ra trong một trường hợp duy nhất ở thị
trấn Times Beach (Missouri), và quyết định của
chính quyền sở tại là phải di chuyển 1.400
cư dân trong thành phố nầy và tiêu hủy một
số lượng lớn xà bần đă bị ô
nhiễm. Cũng tại Hoa kỳ, có rất nhiều nhà máy
sản xuất giấy tập trung ở tiểu bang
Wisconsin, là nơi sản xuất giấy và các sản
phẩm về giấy lớn nhất thế giới; các
cơ sở nầy thải hồi vô số chất
phế thải rắn và lỏng trong quy tŕnh sản
xuất có chứa dioxin....nhưng cho đếùn nay vẫn
chưa có báo cáo về ảnh hưởng của hóa
chất trên lên cư dân hay công nhân làm việc trong vùng.
Trong
phần kết luận về đất, Cty Hatfield lại
khẳng định thêm: Phần lớn
đất ô nhiễm đă liên đới một cách rơ ràng
(clearly) với 2,3,7,8-T4CDD chất da cam
chứ không phải phát xuất từ các nguồn kỹ
nghệ nào khác của dioxin. Nói như thế, tức
là khẳng định một cách vô căn cứ, ḥan ṭan
không dựa theo một căn bản khoa
học nào cả. Trong lúc đó các thuốc diệt cỏ
dại, thuốc trừ sâu rầy đan cử ở
phần trên đă được xử dụng hàng
loạt trong canh tác kễ từ sau chiến tranh mà nồng
độ t́m thấy cao hơn nhiều so với nồng
độ dioxin hiện diện, và các thuốc nầy
cũng là những hóa chất nầy được xem
như là hợp
chất tương đương dioxin . Hậu quả và
mức tác hại của những chất trên đă
được chứng minh và xác định một cách rơ
ràng ảnh hưởng lên sức khỏe con
người như: ung thư, dị h́nh
dị dạng nơi trẻ sơ sinh...giống như
đă được gán cho dioxin.
Thêm
nữa, hàm lượng dioxin được t́m thấy
ở thung lũng A Lưới như Hatfield đă công
bố vẫn c̣n thấp so với nhiều nơi trên
thế giới, và tại những nơi nầy vẫn
chưa hề có những báo cáo để đánh
động dư luận và lương tâm thế giới
như ở A Lưới. Theo ước tính
của Arthur Westing (Nature, London, 298, 114, 8-7-1982) trong báo cáo
nơi Đại hội Quốc tế về Thuốc Khai
Quang và Diệt cỏ tại
Sàigon tháng 1/1983, trong số 57 triệu Kg chất da cam
xịt xuống miền Nam Việt Nam trên một diện
tích độ 38.000 Km2, tổng cộng có khoảng
độ 170 Kg Dioxin . Và cũng theo báo cáo trên, sự bán
hủy (half life) của dioxin là mười năm, thử
hỏi, sau hơn 30 năm, những vết tích của
dioxin có c̣n bao nhiêu nữa không?
Về
máu, Cty Hatfield lại khẳng định: Các thử
nghiệm năm 1999 xác nhận mức độ cao của
dioxin-chất da cam (AO dioxin) trong máu cư dân A So so với
kết quả năm 1997. Kết luận nầy lại mâu
thuẩn với những số liệu đo đạc và
lời b́nh (comments) của tác giả. Đối
với đàn ông, nồng độ trong máu tăng từ
31 ppt (1997) lên 41 ppt (1999), và đàn bà giảm từ 25 ppt
(1997) xuống c̣n 16 ppt (1999). Các số liệu trên đă nói lên
tính cách suy luận có định kiến sẳn của báo
cáo rồi. Và với kết quả trên, làm sao giải thích
được dioxin đă xâm nhập vào dây chuyền
thực phẩm
qua gia súc và tôm cá... Hơn nữa, ở một
phần khác báo cáo giải thích rằng, đàn ông ở A Lưới v́ thường xuyên đi làm
việc ở xa thung lũng, rất ít xử dụng
lương thực có được ở A
Lưới...cho nên ít bị ảnh hưởng của dioxin
qua thức ăn hơn. Nếu nhận
định như thế th́ làm sao giải thích
được lượng dioxin trong máu cao nơi đàn
ông? Và nếu kết
quả đo đạc là một xác tín, có phải chăng
các nam nhân nầy đă bị nhiễm do các hoá chất
diệt cỏ dại, thuốc diệt trùng trong khi lao động ngoài đồng?
Ở
phần kết luận về thuốc diệt cỏ
dại, báo cáo ghi nhận: Việc xử dụng các
thuốc diệt cỏ dại thực hiện ở
mức độ thấp ở thung lũng, do đó hàm
lượng các chất trên c̣n ở mức độ
thấp trong ḷng đất và sữa mẹ. Và trong một
bảng ghi kết quả, tổng lượng DDT, DDE, và
DDD trong sữa mẹ được ghi nhận là 10.611 ppt
trong năm 1999 !?
Tại
sao Cty Hatfield và Ủy ban 10-80 lại chọn thung lũng A Lưới, một nơi hoang dă và
rất khó khăn đi lại làm điểm thí nghiệm?
Có thể có nhiều lư do trong đó:
·
A Lưới đă nổi danh
dưới tên Hamburger Hill là nơi quân đội Hoa kỳ
với căn cứ không quân A So và có kho chứa chất màu
da cam;
·
Hoặc dựa theo báo cáo của
Hội Cựu quân nhân Hoa kỳ trong việc đ̣i bồi
thường về những hậu quả mà họ và con
cháu mắc phải;
·
Hoặc đây là một điểm
nóng có thể đạt được dương tính ngay
trong khi phân tích mẩu;
Tại
sao phải đợi măi đến tháng 11/1996 mới
bắt đầu lấy mẩu trong khi Ủy ban 10-80
đă được thành lập từ tháng 10/1980?
·
Có lẽ theo ước tính của
Ủy ban, thời điểm thuận lợi cho việc la
làng không thích hợp với thời gian trước
đây, và năm 1996 là thời gian thuận lợi nhất
ngay sau khi có được bang giao chính thức với Hoa
kỳ;
·
Hoặc v́ chưa kết hợp
với một đối tác đồng thuận như Cty
Hatfield trước đo,ù cũng như
chưa nhận được nguồn tài trợ trong
thời gian đầu.
Cuối
cùng, sự mâu thuẫn trong số liệu về các mẫu
thử nghiệm làm cho báo cáo Hatfield có thêm nhiều nghi
vấn! Trong phần đầu của báo cáo
có ghi tổng số mẫu đă được phân tích là
50 mẫu v́ chi phí phân tích quá cao. Nhưng trong Figure 2.12
th́ tổng số mẫu tính riêng cho việc phân tích máu mà
thôi (không kễ việc phân tích đất, cây cối và súc
vật) đă lên đến 790 mẫu! Điều nầy
cho thấy tính tiền hậu bất nhất và thiếu
tính trong sáng trong nghiên cứu khoa học.
Như
đă tŕnh bày ở phần trên, chiến dịch hâm nóng
lại vấn đề chất da cam dioxin đă nở
rộ từ hơn sáu tháng trở lại đây trên
truyền thông, qua báo chí khắp nơi trên thế giới,
đặc biệt là ở Việt
Những
lời b́nh luận ở phần trên dựa trên căn
bản của các số liệu công bố trong báo cáo, và
được xem như là những dữ kiện
thật và đúng, mặc dù dựa theo kinh nghiệm
chuyên môn, vấn đề đo đạc dioxin vẫn c̣n
là một vấn đề cần phải thẩm
định lại nhiều nơn nữa.
Từ
các phân tích ở phần trên, Cty Hatfield và Ủy ban 10-80
đă vô t́nh hay cố ư tạo ra những báo cáo không trung
thực, và đôi khi các kết qủa và kết luận lại
mâu thuẫn với những khám phá đo đạc của
chính công ty ấy. Cty Hatfield đă thẩm định và suy
diễn một cách có dụng ư từ những con số
phân tích để đưa ra những kết luận có
thể làm sai lệch sự thật.
Làm
như thế, Hatfield đă đánh lạc hướng
dư luận quần chúng trên thế giới, nhất là
quần chúng Việt Nam có thể hiểu một cách sai
lạc về vấn đề chất da cam - dioxin do quân
đội Hoa kỳ phun xịt xuống Miền Nam
Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong giai
đoạn chiến tranh vừa qua.
Làm
như thế, Cty Hatfield có dụng tâm ǵ khác hơn là hy
vọng có được một hợp đồng béo
bở cho việc xử lư vùng bị ô nhiễm?
Làm
như thế, Việt Nam hy vọng được ǵ ng̣ai
việc đánh động lương tâm thế giới,
mong t́m được số tiền bồi thường
khổng lồ từ phía chính phủ Hoa kỳ, mong
được thêm tài trợ từ các cơ quan từ
thiện trên thế giới, hay thầm kín hơn nữa,
mong giải thích cho đồng bào cùng khổ ở Việt
Nam biết được rằng v́ hậu quả
chiến tranh triền miên mà không thể phát triển
đất nước như mong muốn để cho dân
giàu nước mạnh được?!
Nên
nhớ, hiện tại các công ty hóa chất Hoa kỳ
chấp nhận tài trợ chi phí y tế cho cựu quân nhân
Hoa kỳ và con cháu, không phải v́ công nhận hậu
quả của dioxin, nhưng là một hành động
thuần túy nhân đạo và chính trị để trấn
an dư luận của Hội Cựu Chiến binh Hoa kỳ.
Vấn
đề dioxin hiện diện trong chất màu da cam là
một thực tế không cần phải bàn cải thêm
nữa. Nhưng vấn đề ở
đây là làm thế nào xác định được
một cách chính xác và có căn bản về mức
độ nhiễm độc của dioxin lên con người.
Hậu quả của dioxin phải
được chứng minh bằng khoa học và thử
nghiệm đứng đắn.
Để
kết luận, chúng tôi xin trích dẫn một câu hỏi
của Ông chánh án ở Brooklyn, Jack Weinsteintrong một
buổi phúc thẩm tại ṭa vào ngày 18/3/2004 để
trả lời cho ông Kokkoris, luật sự đại
diện Hội NNCDCViệt Nam là : Nếu bên Nguyên
đơn (Việt Nam)
xâm
nhập bất hợp pháp vào vùng đất đă bị
phun xịt, tức là miền Nam Việt Nam, th́ điều
đó ảnh hưởng như thế nào đối
với việc chủa trị (nạn nhân) không?
Kính
chào thính giả của Đài ACTD