Việc Thí Nghiệm
Hoá Chất Bảo Vệ Thực Vật Trên Con Người
Pesticides/Herbicides Experiments On Human
Việc thẩm định
mức tác hại của các hoá chất bảo vệ
thực vật (BVTV) là một việc làm vô cùng cần
thiết và phức tạp. Hiện nay trên thế giới nhất là Hoa
Kỳ, với khả năng nhân sự và tài chính dồi
dào, đă có nhiều nghiên cứu về mức độ
tác hại của các hóa chất trên lên con người. Nhưng
cho đến nay, việc thẩm định ảnh hưởng
lên sức khỏe con người thường chỉ làm
thí nghiệm lên thú vật để rồi từ đó
chiết tính ra liều lượng hóa chất có thể tác
hại lên con người. Do đó việc thí nghiệm
mức độc hại trực tiếp lên con người
vẫn c̣n bị giới hạn và đang là một vấn
đề đang c̣n trong ṿng tranh căi giữa các khoa học
gia, và là câu chuyện mạn đàm hôm nay giữa Tc KH&MT
và TS MTT.
Hỏi 1: Thưa TS, việc
thẩm định trực tiếp mức độc
hại của hóa chất lên con người hiện c̣n đang
tranh căi giữa các nhà làm khoa học, TS có nhận xét nào
về vấn đề nầy?
Đáp 1: Thưa anh. Các cuộc
thử nghiệm lâm sàng liên quan đến việc thẩm định
liều lượng độc hại của hóa chất
BVTV lên con người cũng như việc xác định
nồng độ giới hạn cho phép đến nay
vẫn là một tranh chấp từ khắp mọi phía
giữa các nhà làm luật, khoa học gia, và
các chuyên gia về độc tố. Tuy nhiên việc
thẩm định trực tiếp lên con người đă
được nhiều nhà khoa học đồng ư trên
nguyên tắc với điều kiện là phải thực
hiện trong điều kiện cẩn thận tối đa
do một hội đồng y khoa quy định. Tuy nhiên,
những kết quả lâm sàng có được cũng khó
có thể đem ra áp dụng để thiết lập định
mức an ṭan tiếp nhiễm (safe
threshold) cho con người.
Vào cuối tháng sáu vừa
qua, Cơ quan Bảo vệ Môi trường HK (USEPA) đă
phát thảo một dự luật làm thế nào để
thẩm định mức độc hại trực
tiếp lên con người. Và phát thảo
nầy đă gặp phản ứng khắp nơi trên báo
chí và cả quốc hội.
Hỏi 2: Tại sao lại có
phản ứng từ mọi phía như thế thưa TS?
Đáp 2: Sở dĩ có nhiều
phản ứng bất thuận lợi cho EPA v́ cơ quan
nầy đă không nêu lên nhiều điểm quan trọng
cần phải chuẩn bị thi hành trước khi đem
áp dụng vào việc thử nghiệm lên con người. Đó
là, tùy theo từng loại hóa chất,
cần phải sọan thảo một thủ tục nghiêm
nhặt trước khi đem thử nghiệm vào người.
Thủ tục nầy phải được
Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (NRC) chấp
thuận trước. Trong thủ
tục cần phải liệt kê rơ những ǵ cần
phải làm trước và sau khi thử nghiệm ḥan
tất.
Thêm nữa, trong phát
thảo cũng không có điều lệnh cấm thử
nghiệm lên trẻ em, trẻ sơ sinh, đàn bà đang có
mang, hay tù nhân. Và quan trọng hơn cả là
việc cam kết phải chửa trị ḥan ṭan miễn
phí suốt đời nếu ngướ được
thử nghiệm bị thương tổn trong giai đoạn
thử nghiệm.
Hỏi 3: Vấn đề quả
thật phức tạp, nhưng trước khi đi sâu
vào chi tiết xin TS cho biết nguyên tắc chung
về việc thử nghiệm trên thú vật và từ đó
định mức tác hại lên con người như
thế nào?
Đáp 3: Theo Luật Bảo vệ
Phẩm chất Thực phẩm HK (Food Quality Protection Act),
các nhà bào chế hóa chất BVTC cần phải thử
nghiệm lên thú vật và có thể thử nghiệm lên con
người tùy theo lọai hóa chất, tuy nhiên rất ít khi
áp dụng điều sau nầy. Các kết
quả thử nghiệm phải được đính kèm
trong thủ tục đăng bộ của sản
phẩm. Tiêu chuẩn chấp thuận của cơ
quan nầy dựa theo yếu tố an
ṭan căn bản là định mức tiêu chuẩn về
sức khỏe của con người bị tiếp
nhiễm hóa chất. Đó là, trong khi thử
nghiệm lên thú vật Cơ quan BVMT phải thiết
lập mức độ không ảnh hưởng
(no-observed-effect level, NOEL), nghĩa là nồng độ cao
nhất của hóa chất không ảnh hưởng lên
sức khỏe của thú vật được thử
nghiệm trong pḥng thí nghiệm. Khi đem áp dụng
vào người, định mức không ảnh hưởng
của thú vật được tăng thêm 10 lần cho
con người. Định mức nầy được
tăng thêm 10 lần nữa, gọi là yếu tố
nhạy cảm của con người; và sau cùng được
tăng thêm 10 lần nữa, là mức độ thay đổi
nhạy cảm của nhiều người khác nhau.
Tóm lại, nồng độ
không ảnh hưởng được tăng lên 1000
lần do các yếu tố an ṭan trên khi đem
áp dụng vào định mức an ṭan cho con người.
Nhưng kễ từ năm 1996 trở đi, các công ty lại yêu cầu cơ
quan BVMT xét lại định mức nhạy cảm
của con người và cho rằng định mức
nầy thấp hơn 10 lần va øcó thể thay đổi
tùy theo loại hóa chất thử nghiệm.
Hỏi 4: Các công ty dựa theo lư do nào để có yêu cầu trên thưa
TS?
Đáp 4: Thưa anh, họ dựa
vào các kết quả nghiên cứu của những nhà
sản xuất hóa chất BVTV ở Anh và
Hỏi 5: Như vậy, việc
thử nghiệm lên con người có được chính
quyền HK cho phép hay không thưa TS?
Đáp 5: Thưa anh, HK vẫn cho
phép việc thử nghiệm lên con người, nhưng các
nhà sản xuất hóa chất muốn thử nghiệm
phải tuân thủ nhiều luật lệ rất khắc
khe. Và điều
nầy chỉ có thể thực hiện được khi
công cuộc thí nghiệm đem lại lợi ích cho nhu
cầu y tế công cộng và cho môi trường. Và
con người không được dùng để thẩm định
mức độ không ảnh hưởng của
hoá chất lên cơ thể mà phải đáp ứng được
hai nhu cầu vừa kể trên. Theo tin tức mới
nhất từ ṭa Bạch Ốc (tháng 2/2006), Thượng
viện HK vẫn c̣n đang cứu xét luật cho phép
thực hiện một số thử ngiệm hạn
chế bằng thuốc trừ sâu trên trẻ con và phụ
nữ có thai tùy theo các quy định đặc
biệt. Tuy nhiên luật nầy vẫn c̣n đang
tranh căi và đă được đ́nh hoăng vô hạn định.
Hỏi 6: Cho đến hiện nay,
việc thử nghiệm trên con người đă thực
hiện trên các loại hóa chất BVTV như thế nào? Và số lượng thử nghiệm có đáp
ứng cho hàng ngàn hóa chất đang lưu hành trên thị
trường thế giới hay không?
Đáp 6: Tính đến cuối năm
2004, HK chỉ mới thực hiện 22 cuộc thử
nghiệm lên con người. Các cuộc thử nghiệm
gồm có: 11 thử nghiệm trực tiếp lên hoá
chất BVTC thuộc loại organo-phosphates gồm 5 thử
nghiệm lên họ carbamates, cũng như 6 thử
nghiệm để định mức mức độ
không ảnh hưởng lên con người. Một thí
dụ điển h́nh là việc thí nghiệm trực
tiếp lên con người qua hóa chất có tên methyl isothiocyanate.
Đây là một hóa chất h́nh thành qua công tác diệt
trừ nấm mốc trong đất trước khi
trồng rau hay các loại trái như dưa, đậu, dâu
v.v... Hóa chất nầy có tác dụng làm
sốn mắt và chảy nước mắt. Thí nghiệm đă cho thấy rằng mắt
của người nhaỵ cảm với hóa chất
nầy gấp nhiều lần hơn so với súc vật.
Thêm một thí nghiệm khác vào tháng 12/2004 là 127
sinh viện được thử nghiệm trực
tiếp bằng cách ở trong một pḥng kín và được
bơm hóa chất chloropicrin, một hóa chất dùng để
diệt côn trùng và nấm mốc trong đất. Hóa
chất nầy ảnh hưởng lên hệ thần kinh và
có khả năng làm giảm thiểu tính miễn nhiễm
của con người.
Hỏi 7: Qua các cuộc thử
nghiệm lên con người như trên, quan niệm của
TS như thế nào về phương pháp định
mức an ṭan của các loại hóa
chất BVTV?
Đáp 7: Qua các công cuộc thử
nghiệm lên con người và qua các kết quả thu
nhận được từ các thí nghiệm, việc áp
dụng công thức nhân lên 1000 lần định mức an
ṭan của con người so với thú vật không thể
áp dụng cho tất cả các hóa chất được.
Kết quả thử nghiệm c̣n cho thấy độ
nhạy cảm của con người so với thú vật
thay đổi tùy theo trường
hợp, do đó không thể được tính tóan một
cách máy móc là 10 lần so với thú vật.
Dù muốn dù không, việc
thử nghiệm trên con người cũng vẫn không
thể giải quyết rốt ráo vấn đề
ảnh hưởng lên sức khoẻ và môi trường
của tất cả hoá chất BVTV. Môi trường sống
của chúng ta đang bị bao phủ quá nhiều hóa
chất độc hại rồi, do đó việc hạn
chế xử dụng các hoá chất trên là một biện
pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ con người
và môi trường sống chung quanh. Một thí dụ cụ thể là
việc lạm dụng hóa chất để tăng năng
suất cây trồng đôi khi là một việc làm vô
nghĩa trong trường hợp của cây lúa. Trước
kia, nông dân được khuyến cáo là
cần xử dụng hóa chất diệt sâu rầy, đặc
biệt là sâu cuống lá để cho cây lúa mạnh
khoẻ và cho năng suất cao. Nhưng thực tế đă
chứng minh ngược lại qua nhiều kết quả
nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc
tế (IRRI) là, mặc dù sâu cuống lá có thể tiêu hủy
đến 50% lá lúa, cây lúa vẫn mạnh khoẻ và vẫn
cho năng suất cao như b́nh thường. Và đây không phải là trường hợp duy
nhất trong quan niệm sai lầm về việc xử
dụng hóa chất BVTV.
Từ quan niệm trên,
việc hạn chế tối đa hóa chất BVTV trong công
tác chăn nuôi là một việc làm đúng đắn để
bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người.
Kính chào Quư thính giả
của Đài ACTD.