(Water Resources Problems in the
Kể từ
năm 1975, một hệ thống thủy lợi qui mô
đã được xây dựng trong toàn vùng Ðồng
bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) ở Việt
Hỏi: Theo KS thì hệ thống
thủy lợi ở ÐBSCL đã phát sinh ra nhiều vấn đề
tiêu cực.
Ðáp: Những vấn đề
do hệ thống thủy lợi hiện nay ở ÐBSCL phát
sinh có liên quan đến nhiều phương diện. Nhưng ở đây, tôi chỉ
chú trọng đến phương diện thủy học
và môi trường, vì đây là hai phương diện quan
trọng nhất và có ảnh hưởng đến các
phương diện khác, chẳng hạn như nông ngư nghiệp và xã hội.
Về phương diện
thủy học, hệ thống thủy lợi ở ÐBSCL đã
làm thay đổi cơ chế thủy học (flow regime)
tự nhiên của ÐBSCL, mà hậu quả là (1) thay đổi
tình trạng lũ lụt ở ÐBSCL, (2) gia tăng mức độ
sạt lỡ và bồi lắng ở lòng lạch và cửa
sông, và có khả năng ảnh hưởng đến
việc xói mòn của bán đảo Cà Mau, và (3) giúp cho
nước mặn xâm nhập vào đất liền xa
hơn, lâu hơn, và cao hơn.
Về phương diện
môi trường, hệ thống thủy lợi ở ÐBSCL
(1) làm nhiều vùng ở hạ nguồn bị nhiễm
nước phèn (acid water) nhiều hơn, nhất là ở
cuối Ðồng Tháp Mười (ÐTM), (2) là một trong
những tác nhân làm suy thoái phẩm chất nước
ở ÐBSCL, và (3) góp phần không nhỏ trong việc xâm
lấn vào những vùng sinh thái tự nhiên còn lại trong
vùng ÐTM và Tứ giác Long Xuyên (TGLX) và có thể làm cho chúng suy
thoái trong tương lai.
Hỏi: KS có thể giải thích
tại sao hệ thống thủy lợi hiện nay đã
thay đổi tình trạng lũ lụt
ở ÐBSCL?
Ðáp: Thật ra, hệ thống
thủy lợi ở ÐBSCL đã được xây dựng
từ năm 1705, nhưng mãi đến 1975, hệ
thống nầy dường như không có ảnh
hưởng đáng kể đến đường thoát lũ thiên nhiên ở ÐBSCL. Nước trong sông
Hệ thống kinh đào
hiện nay ở ÐBSCL; sâu hơn, rộng hơn, và dày đặc
hơn so với hệ thống kinh đào trước năm
1975; đã tạo thành những lòng lạch thuận lợi
khiến cho nước lũ từ Kampuchia và sông Tiền
và Hậu chảy vào ÐTM và TGLX sớm hơn, nhiều
hơn, và nhanh hơn. Ở
thượng nguồn, hệ thống đê đập làm
giảm diện tích của đường thoát lũ khiến mực nước lụt dâng
cao hơn. Ở hạ
nguồn, lượng nước lũ
nầy đã bị hệ thống đường giao
thông được nâng cao hoặc hệ thống đê đập
cống ngăn mặn ngăn chận khiến cho mực
nước lụt ở ÐBSCL sâu hơn và thời gian
ngập lụt kéo dài hơn trước.
Hỏi: Các cơ quan chức năng
của Việt
Ðáp: Thưa, những
người có trách nhiệm và các cơ quan chức năng
phụ trách việc quy hoạch và xây dựng hệ
thống thủy lợi hiện nay ở ÐBSCL đã
nhiều lần nhận thấy ảnh hưởng
của nó kể từ trận lụt năm 1978, và hơn
thế nữa, ảnh hưởng của chúng đã được
kiểm chứng. Theo dữ
kiện đo đạc của Phân viện Khảo sát Quy
Hoạch Thủy lợi Nam Bộ (PVKSQHTLNB), sự gia tăng
lưu lượng qua biên giới Việt Miên - từ 6.300
m3/sec trong trận lụt 1991 đến 8.270 m3/sec
trong trận lụt 1996, so với lưu lương 2.930 m3/sec
trong trận lụt 1961 - là do các kinh cấp I và II nối
từ rạch Cái Cỏ - Long Khốt vào ÐTM. Thời gian truyền lũ từ
Tân Châu đến Mộc Hóa, thường mất từ 15 đến
17 ngày trong thập niên 1970, chỉ còn khoảng 3 đến
5 ngày trong thập niên 1990. Trong
trận lụt 2000, mực nước lụt nội đồng
trong vùng ÐTM và TGLX cao hơn mực nước cao nhất
các năm 1978 và 1996 từ 20 đến 50 cm.
Hỏi: Có những biện pháp nào được
đưa ra để khắc phục những ảnh
hưởng tiêu cực của hệ thống thủy
lợi ở ÐBSCL không?
Ðáp: Theo giới chức có trách
nhiệm ở Việt
Hỏi: KS có nhận xét gì về
những biện pháp nầy?
Ðáp: Theo dữ kiện mà tôi có được,
những biện pháp mà giới chức có trách nhiệm đề
ra chẳng những không có tác dụng tích cực, mà
ngược lại, làm cho tình hình lũ
lụt ở ÐBSCL ngày càng thêm nghiêm trọng. Thí dụ như trong mùa
nước nổi 2005 vừa qua, mặc dù mực
nước lũ cao nhất trong sông Tiền và Hậu
chỉ đạt mức 4,32 m ở Tân
Châu và 3,87 m ở Châu Ðốc (thấp hơn mực
nước lũ cao nhất 4,82 m ở Tân Châu và 4,42 m
ở Châu Ðốc trong trận lụt năm 2002), mực
nước lụt trong vùng ÐTM đã tăng nhanh hơn và
vượt quá mực nước cao nhất trong năm
2002.
Một sự kiện
thủy học nổi bật được quan sát
lần đầu tiên trong lịch sử, đó là, trong 23
trạm của hệ thống đo đạc thủy
học ở hạ lưu vực sông Mekong, do Ủy
hội sông Mekong điều hành, chỉ có 5 trạm có
mực nước vượt quá mức nước
lụt do Ủy hội ấn định trong năm
2005. Ðó là các trạm Thakhek và
Pakse ở Lào, Mukdahan ở Thái Lan, và Tân Châu và Châu Ðốc
ở Việt
Hỏi: Trong thời gian gần đây,
báo chí trong nước thường loan tin về tình
trạng ngập lụt, không chỉ ở những vùng
trũng ở ÐBSCL mà còn ở cả những vùng
tương đối cao như Bình Chánh và Thủ Ðức
ở thành phố Hồ Chí Minh.
Các cơ quan chức năng khẳng định là do
triều cường gây nên. KS có nhận xét gì về tình trạng ngập
lụt nầy.
Ðáp: Tôi không nghĩ là do
triều cường gây ra, mà do tác hại của hệ
thống đê biển, đê đập ngăn mặn, và đê
bao. Chính hệ thống đê đập
nầy đã khiến cho thủy triều không thể
chảy tràn vào những vùng ngập mặn trước kia mà chỉ dồn vào những sông rạch
không bị hoặc chưa bị ngăn chận và hệ
thống kinh mương thủy lợi không hoặc
chưa được kiểm soát có hiệu quả. Hậu quả là
thủy triều trong sông rạch và hệ thống kinh
thủy lợi dâng cao hơn và đi sâu vào đất
liền hơn trước năm 1975.
Hỏi: Có nhiều nguồn dư
luận Việt
Ðáp: Có nhiều lý do để
kết luận rằng các nguồn dư luận đó
chỉ là những suy luận mang nhiều cảm tính và
không có cơ sở khoa học.
Trước hết, lưu lượng phát xuất
từ Trung Hoa chỉ chiếm khoảng 15 đến 25
phần trăm lưu lượng lũ
của sông
Hỏi: Như vậy, yếu
tố nào có ảnh hưởng quan trọng nhất đối
với tình trạng lũ lụt ở
ÐBSCL, thưa KS?
Ðáp: Trước hết, do điều
kiện khí hậu và địa hình, lượng mưa
trong vùng trung lưu vực sông
VANDETHUYLOIDBSCL2.DOC