Tiếp Cận
Vấn Đề Môi Trường Việt
Approaching on Environment Impacts
in ViêtNam
Trong những lần
thảo luận trước, Tc KH&MT đă bàn về t́nh
trạng môi trường ở Việt Nam trong những năm
vừa qua về sức ép lên môi trường và hiện
trạng môi trường do phát triển kinh tế và xă
hội. Hôm nay, một lần nữa Tc được
hân hạnh trao đổi với TS MTT về những phương
cách tiếp cận và đề nghị để giải
tỏa một số vấn đề môi trường
ở VN hiện tại.
Hỏi 1: Trong một đề tài
thảo luận trước đây TS có nói sức ép lên môi
trường VN lần lượt như: sự gia tăng
dân số, sức ép trong sản xuất công nghiệp, xây
dựng, năng lượng, sản xuất nông nghiệp,
khai thác thủy sản, kỹ nghệ du lịch biển
v.v...Vậy xin TS phân tích từng phần
một và cung cách tiếp cận để giải tỏa
các sức ép trên; xin ông nói về sức ép qua sự gia tăng
dân số và phát triển đô thị trước.
Đáp 1: Thưa Anh. Như
chúng ta đă biết từ khoảng hai năm trở
lại đây, VN không thể ngăn chặn và kiểm soát
việc gia tăng mức sinh sản. Điều
nầy là một sức ép quan trọng nhất. Chính sự gia tăng nầy, nhất là ở vùng
nông thôn và vùng phát triển c̣n yếu kém, là lư do để
h́nh thành thêm những đô thị mới cũng như
nạn nhân măn trong các thành phố lớn, v́ dân
chúng đổ dồn vào các đô thị để t́m
việc làm. Do đó vần đề nầy cần
phải được lưu tâm hàng đầu để
chận đứng những cuộc di dân tự do vào thành phố.
Trong ṿng 4 năm vừa qua,
VN đă tăng thêm 200 đô thị mới với mật độ
dân số ngày càng tăng. V́ vậy
những nhu cầu cần thiết và căn bản để
bảo vệ môi trường thành phố như hệ
thống cống rảnh, xử lư nước sinh hoạt
gia cư, và chất thải...phải là
một ưu tiên trước khi quy hoạch và thiết
lập thành phố mới. Điều nầy không xảy
ra cho trường hợp VN, v́ các thành phố mới thường
được h́nh thành do tự phát qua t́nh trạng gia tăng
dân số. Tuy nhiên cũng có những đô thị được
quy hoạch tương đối hoàn chỉnh như Tp
Saigon Nam; nhưng tiếc thay những vấn đề
bảo vệ môi trường căn bản nêu trên không được
lưu tâm và nước thải sinh hoạt tự động
chảy vào sông Sài G̣n mà không qua xử lư.
Hỏi 2: C̣n các đáp ứng
của VN trong sức ép lên sản xuất công nghiệp,
nông nghiệp, năng lượng như thế nào thưa
ông?
Đáp 2: Có lẽ v́ không đủ
nhân sự để thanh tra và kiểm soát ô nhiễm môi trường
ở các cơ sở sản xuất công nghiệp, v́ vậy nhu
cầu bảo vệ môi trường ở những nơi
nầy vẫn c̣n nhiều hạn chế. Các
cơ sở sản xuất vẫn c̣n lơ là trong việc
quản lư chất thải khí, rắn, và lơng trong sản
xuất. Thêm nữa việc xử dụng những
thiết bị với công nghệ lỗi thời do đó
phát sinh thêm nhiều phế thải và tiêu thụ nhiều năng
lượng hơn so với thiết bị tiên tiến. Dù
VN đă có những quyết định cứng rắn
trong việc di dời những cơ sở gây ô nhiễm
trầm trọng, đă có danh sách đen, và cũng có
Quyết định xử lư triệt dể của
Thủ Tướng cho
những cơ sở vi phạm. Nhưng
kết quả vẫn không được như ư muốn.
Do đó, muốn giải
tỏa các sức ép vừ kể trên, việc làm đúng đắn
nhất trong hiện tại là phải chuyển đổi
và xử dụng những công nghệ tiên tiến, ít hao
tốn năng lượng mà thôi.
Hỏi 3: C̣n cung cách giải
quyết vấn nạn môi trường trong sản
xuất nông nghiệp th́ sao?
Đáp 3: Về sản xuất nông
nghiệp, cho đến nay nông dân vẫn c̣n xử dụng
bừa băi phân bón hóa học và các hóa chất BVTV làm cho môi trường
nước và đất cùng mạch nước ngầm
bị ô nhiễm trầm trọng. Do đó cần phải
có một chính sách hướng dẫn nông dân và việc đào
tạo cán bộ nông nghiệp chuyên môn để đi vào tận
làng xă là một phương cách hữu hiệu nhất để
giải quyết vần đề. Một thí dụ điển
h́nh là Indonesia, 20 năm trước đây đă áp dụng
chính sách trên và đă thành công trong việc bảo vệ môi
trường cũng như giảm thiểu ngân sách hàng
tỷ Mỹ kim qua sự hạn chế việc nhập
cảng phân bón và hóa chất BVTV.
Hỏi 4: Bước qua sức ép
trong việc khai thác thủy sản th́ sao, thưa ông?
Đáp 4: C̣n đối với
việc khai thác thủy sản như tôm, cá ba sa, việc làm cấp thiết nhất
của VN hiện tại là phải chận đứng hoàn
toàn việc khá rừng tràm rừng đước để
nuôi trồng tôm. V́ đây là một vùng sinh thái
có khả năng ngăn chặn băo tố, điều
tiết nước mặn thiên nhiên. Nếu
hệ thống sinh thái nầy bị phá vở sẽ có
những hậu quả không lường đặc biệt
là nước biển sẽ vào sâu trong đất liền.
Điều nầy đă được minh
chứng là hàng năm nước mặn ngày càng tiến sâu
vào đất liền. Và năm 2005, nhiều nơi nước
mặn đă tiến sâu trên 100 Km. Đối với
việc nuôi cá ba sa, dù trên bè hay cạnh bờ sông sẽ
tạo nên những vấn nạn môi trường như
sinh hoạt di chuyển trên sông bị hạn chế, nước
sông bị ô nhiễm, và bờ sông sẽ bị sạt
lỡ khó kiểm soát được. Thêm một kinh
nghiệm vừa xảy ra trong mùa cá 2005, là cá trong các bè
ở thượng nguồn bị mắc bịnh là
dịch bịnh đă tràn xuống các bè ở hạ
nguồn, làm thiệt hại trên 40% lượng cá nuôi cho năm
vừa qua. Do đo,ù để tháo
gở t́nh trạng trên, cần phải theo đúng quy tŕnh
kỹ thuật và an toàn vệ sinh dựa theo tiêu chuẩn
quốc tế để vừa bảo vệ môi trường
và vừa bảo đảm được các mặt hàng
xuất khẩu khỏi bị trả về nguyên quán.
Hỏi 5: Sang qua vấn đề
du lịch biển, VN đă có những biện pháp nào thích
ứng để BVMT qua việc khai thách du lịch biển
hay không?
Đáp 5: Hiện tại, việc
xây dựng các trung tâm du lịch biển hầu hết đều
do địa phương phối hợp với tư nhân
hay đối tác ngoại quốc thực hiện. Do đó
công đoạn nghiên cứu tác động môi trường
ở từng nơi quy hoạch khai thác không được
điều tra nghiêm chỉnh. Việc xây dựng có tính cách
tự phát và do địa phương quản lư. V́ vậy, những quy định về Quy
chế bảo vệ môi trường trong lănh vực du
lịch của trung ương không được tôn
trọng. Ngay chính các cơ quan trách
nhiệm trung ương cũng không đủ khả năng
kiểm soát và thanh tra. Với t́nh
trạng nầy, nếu muốn giải quyết và tháo
gở sức ép du lịch làm ô nhiễn bờ biển là
phải tăng cường kiểm tra và tài thẩm định
từng khu du lịch một mà thôi.
Hỏi 6: Đối với các
tiếp cận vừa được tŕnh bày trên đây, và
trước tiến tŕnh toàn cầu hóa trên thế giới,
theo TS, khả năng hội nhập vào
công cuộc BVMT chung của VN như thế nào? VN có thể
rút kinh nghiệm từ các quốc gia đang phát triển có
cùng những sức ép tương tự do phát triển kinh
tế xă hội gây ra không?
Đáp 6: Theo ư kiến chủ quan
của chúng tôi, VN đă được cung cấp đầy
đủ thông tin về kinh nghiệm của các quốc gia
đang phát triển trên thế giới. VN đă
đánh giá đúng đắn các sức ép lên môi trường
trong giai đoạn phát triển kinh tế. Nhưng một điều đáng tiếc ở đây
là VN không áo dụng đúng đắn những thành đạt
và kinh ngiệm mà các quốc gia đă làm để tháo
gở lần lần sức ép môi trường. Điển h́nh là Chí Lợi đă biết hy sinh
hàng tỷ ngoại tệ nặng trong việc khai thác mơ đồng
lớn nhất thế giới của nước nầy.
V́ việc khai thác mơ là nguyên nhân tạo ra ô
nhiễm môi trường nước trầm trọng
nhất. Do đó, quốc gia nầy chấp nhận
hạn chế việc khai thác mơ để BVMT. Điển h́nh thứ hai là chúng tôi vừa nói đến
chính sách nông nghiệp của
Trong hiện tại,
những chính sách môi trường của VN cùng những
mục tiêu, thời điểm để giải quyết
những vấn nạn môi trường cũng vẫn c̣n
là những chỉ tiêu, quyết tâm trên giấy tờ và
không thực tế. Do đó không giải quyết được
rốt ráo vấn đề.
Hỏi 7: TS vừa nói những
mục tiêu, chỉ tiêu để tháo gở vấn nạn
môi trường của VN là không thực tế, dựa vào
lư do ǵ khiến cho TS có nhận định trên?
Đáp 7: Thưa Anh. Với
quyết định di dời trên 30 ngàn cơ sở
sản xuất công nghiệp trong nội thành TpHCM, với
quyết định đóng cửa các hệ thống
kỹ nghệ dệt nhuộm ở khu Tham Lương
nếu không thiết lập hệ thống xử lư nước
thải, và biết bao biện pháp trừng trị khác trong
Quyết định xử lư Triệt để của
Thủ Tướng VN từ hơn 2 năm nay, t́nh
trạng chung ở tp HCM vẫn không thay đổi, có chăng
chỉ vài trường hợp lẽ tẻ để làm gương
cho các ơ sở vi phạm khác mà thôi.
Luật BVMT bổ túc
vừa được Quốc hội VN khóa 11 thông qua là Đẩy
mạnh công tác xă hội hóa hoạt động môi trường
nhưng đồng thời cho phép xử dụng nhiều
biện pháp, công cụ chế tài mạnh hơn, có tính răn đe cao hơn là tinh thần
nỗi bật của luật BVMT 2005. Để
rồi từ đó, Ông Trần Thế Ngọc, Giám đốc
Sở TN&MT tp HCM hạ quyết tâm là đến cuối
năm 2006, toàn bộ 100% khu công nghiệp phải có hệ
thống xử lư nước thải. Cũng như qua
quyết định của Thủ tướng là đến
năm 2010, VN sẽ quản lư 70% các nguồn thải,
loại chất thải, và lượng chất thải:
90% tổng sản lượng chất thải rắn phát
sinh tại các đô thị và khu công nghiệp được
thu gom và xử lư, 10% chất thải rắn y tế và 60%
chất thải rắn độc hại công nghiệp được
xư lư bằng công nghệ phù hợp v.v...
Chúng tôi nhận thấy các
chỉ tiêu và thời hạn để giải quyết
vấn đề ô nhiễm qua các quyết tâm trên là không
thực tế nếu không nói là ảo tưởng đối
với điều kiện và t́nh trạng môi trường
VN hiện tại.
Cần phải phân biệt
rơ ràng hai loại chỉ tiêu: Hoặc là thiết lập
một chỉ tiêu thực tế để hoàn tất công
cuộc giải quyết vấn nạn môi trường
trong lâu dài, hay là tô vẽ một chỉ tiêu ảo
để có được một viễn ảnh đẹp
nhưng hoàn toàn không có tính cách khả thi như những
lời hạ quyết tâm của ông Giám đốc Sở
TN&MT trên báo SGGP ngày 5 tháng 1, 2006. Hỏi
tức nhiên nhiên là đă có câu trả lời.