RFA - Tạp Chí Khoa
Học và Môi Trường
Khía
cạnh Pháp lư của Vụ Khiếu nại chất Da cam
của Việt Nam
- Legal Aspects of the Vietnamese's Agent Orange Claim.
Tạp
chí Khoa học và Môi trường kính chào quư thính giả. Đến với quư thính giả
mỗi tối thứ tư, tạp chí tŕnh bày cùng quư
vị những vấn đề khoa học và môi trường
qua cuộc trao đổi giữa Biên tập viên Nguyễn
An của Ban Việt ngữ và Tiến sĩ (TS) Mai Thanh
Truyết thuộc Hội Khoa học và Kỹ thuật
Việt Nam, một tổ chức phi chính phủ bất
vụ lợi (NGO) có trụ sở tại California, Hoa
Kỳ.
Tiếp tục câu
chuyện về chất Da cam/Dioxin ở Việt Nam, tạp chí kỳ nầy nói
về những khía cạnh pháp lư của vụ kiện các
công ty hóa chất Hoa Kỳ của Hội Nạn nhân
Chất độc Da cam/Dioxin Việt Nam
sắp được đem ra xem xét tại ṭa án liên bang Brooklyn, New
York. Chuyên viên thuộc Hội Khoa học và Kỹ
thuật Việt Nam
mà chúng tôi trao đổi là Kỹ sư (KS) Nguyễn Minh
Quang.
Hỏi 1:
Trước hết, xin KS cho biết diễn tiến
của vụ kiện cho đến giờ phút nầy như
thế nào?
Đáp 1:
Trước khi trả lời câu hỏi, tôi muốn làm sáng
tỏ về cái danh từ vụ kiện chất Da ca/Dioxin
vẫn thường được dùng từ trước
cho đến nay. Đúng ra th́ phải gọi là khiếu nại
(dịch từ chữ claim) v́ chữ kiện được
dịch từ chữ lawsuit.
Theo phán quyết của Chánh án Jack Weinstein ngày 8 tháng 10 năm
2004, bị đơn đệ nạp phần biện
hộ và đề nghị của ḿnh (motions) vào ngày 2 tháng
11 năm 2004 và nguyên đơn đệ nạp phản bác
(oppositions) vào ngày 3 tháng 12 năm 2004. Sau đó, bị đơn có 3
tuần để cứu xét phản bác và trả lời
nguyên đơn, hạn chót là ngày 24 tháng 12 năm 2004. Buổi điều trần
(hearing) về các đề nghị bác đơn (dispositive
motions) được ấn định vào lúc 2 giờ
chiều ngày 13 tháng 1 năm 2005.
Cũng trong phán quyết nầy, Chánh án
Weinstein không cho phép bổ túc đơn và gia hạn thêm
nữa.
Hỏi 2:
Nhưng tại sao Chánh án Weinstein lại
không cho phép bổ túc đơn và gia hạn thêm.
Đáp 2:
Dựa theo những lời tuyên bố của Chánh án
Weinstein trong buổi điều trần sơ bộ vào ngày
18 tháng 3 năm 2004 th́ Ông muốn giải quyết dứt
khoát vấn đề da cam của cựu chiến binh Hoa
Kỳ tham chiến ở Việt Nam cũng như của
cái gọi là nạn nhân da cam Việt Nam càng sớm càng
tốt. Thứ
nhứt, vụ kiện của cựu chiến binh Hoa
Kỳ đă kéo dài quá lâu.
Ông muốn họ được bồi
thường, nếu họ thắng kiện, trước
khi họ và gia đ́nh đă quá già. Thứ nh́, việc
khiếu nại của Việt Nam cũng phải được
xét xử nhanh chóng v́ việc phun thuốc khai quang đă
chấm dứt 33 năm và có liên quan đến những vi
phạm luật pháp quốc tế. Và sau cùng, bản thân
Ông cũng đă quá già.
Nếu nguyên đơn muốn kháng cáo, Ông sẽ chuyển
cả hai vụ kiện lên ṭa Kháng án và Tối cao Pháp
viện để được cứu xét cùng một lúc.
Hỏi 3:
Như vậy, quan điểm của Chánh án
Weinstein về đơn khiếu nại của Việt Nam như
thế nào, thưa KS?
Đáp 3: Theo Chánh án Weinstein, khía cạnh pháp
lư quan trọng nhất liên quan đến việc khiếu
nại của Việt Nam là thẩm quyền của ṭa án
Brooklyn, nhất là về phương diện luật pháp
quốc tế. Ông thừa
nhận rằng Ông chỉ là người mới bước
vào lănh vực nầy (beginner) và rất cần nhiều
sự trợ giúp từ hai phía nguyên và bị đơn. Ông không biết luật chiến
tranh, luật quốc tế, và luật nhân quyền mà nguyên
đơn viện dẫn có áp dụng được hay
không; nhưng Ông không công nhận vụ kiện của
Việt Nam là một vụ kiện tập thể (class
action) cho đến khi nào đơn khiếu nại
của Việt Nam được chấp thuận. Ông bác bỏ đ̣i hỏi bồi
hoàn lợi nhuận của nguyên đơn, v́ theo Ông, các công ty hóa chất có thể đă
bị lỗ trong việc sản xuất thuốc khai
quang. Ông cũng không muốn
bàn thảo về vấn đề liệu chất Da cam có
phải là nguyên nhân của các bệnh tật và thiệt
hại đă được cáo buộc trong đơn
kiện, v́ theo Ông, đây là một
vấn đề rất khó khăn và mất nhiều th́
giờ.
Hỏi 4:
Các công ty hóa chất đă đệ nạp đề
nghị của họ chưa và các đề nghị
nầy như thế nào?
Đáp 4: Các công ty hóa chất đă đệ
nạp tất cả 12 văn kiện lên ṭa án Brooklyn vào
ngày 2 tháng 11 năm 2004 đúng như phán quyết của
Chánh án Weistein. Các đề
nghị tŕnh bày chi tiết những luận cứ và án lệ để biện minh cho việc bác
đơn. Ngoài
ra, các công ty hóa chất cũng yêu cầu được
bồi hoàn chi phí liên quan đến việc khiếu
nại, kể cả luật sư phí.
Hỏi 5:
KS có thể cho thính giả của Đài biết thêm
một số chi tiết về đề nghị của
các công ty hóa chất không ạ?
Đáp 5: Họ chỉ chú trọng về
mặt pháp luật và cho rằng đơn khiếu nại
của Việt Nam
phải được bác bỏ v́ hai lư do: thứ
nhứt, đơn khiếu nại không thuộc thẩm
quyền của ṭa án và thứ hai, các cáo
buộc của nguyên đơn là vô căn cứ. Lập luận và dẫn chứng
mà luật sư của nguyên đơn đưa ra để
yêu cầu bác đơn khiếu nại của Việt Nam th́
rất dài. Tôi
chỉ xin nêu một vài điểm chính yếu như sau.
Thứ nhứt,
ṭa án (tư pháp) không có thẩm quyền và cũng không có
chức năng để xác định xem những thương
tật do các hoạt động quân sự của Hoa
Kỳ gây ra trong thời chiến có được bồi
thường hay không? Đặc
biệt là các hoạt động nầy được
thực hiện theo lệnh của
Tổng thống (hành pháp) và được Quốc hội
(lập pháp) chuẩn chi.
Thứ hai, không có
một điều khoản nào trong các bộ luật liên
bang và quốc tế có thể dùng làm cơ sở (cause of
action) để cho chiến binh phía bên kia hoặc những
người ở trong vùng chiến tranh viện dẫn để
đ̣i Hoa Kỳ hoặc nhà thầu của chánh phủ Hoa
Kỳ bồi thường cho họ do hậu quả
của những hoạt động quân sự trong thời
chiến.
Thứ ba, cáo
buộc của nguyên đơn vi phạm nguyên tắc
của luật phổ thông liên bang (federal common laws), v́
luật nầy ấn định rằng Hoa Kỳ không có
trách nhiệm về thiệt hại dân sự đối
với chiến binh phía bên kia và ngay cả đối
với thường dân (noncombatants) trong vùng chiến.
Thứ tư, cáo
buộc của nguyên đơn về việc các công ty hóa
chất Hoa Kỳ vi phạm luật pháp
Việt Nam là vô lư v́
nguyên đơn không thể viện dẫn một cơ
sở pháp lư nào của luật pháp Việt Nam cho phép đ̣i
bồi thường như vậy.
Thứ năm, các
khiếu nại về thương tật cá nhân xảy ra
trước ngày 30 tháng 1 năm 1994 đă quá thời hạn
quy định trong Luật Giới hạn Thời gian Trách
nhiệm.
Thứ
sáu, Hội Nạn nhân Chất độc Da cam/Dioxin
Việt Nam
không đủ tư cách pháp nhân để đ̣i bồi thường
v́ hội không bị ảnh hưởng của việc
phun thuốc khai quang.
Hỏi 6:
KS có cho biết là phía nguyên đơn phải đệ
nạp phản bác vào ngày 3 tháng 12 năm 2004. Và họ phản bác các đề
nghị yêu cầu bác đơn khiếu nại của
bị đơn như thế nào?
Đáp 6:
Dạ thưa phía nguyên đơn chưa đệ nạp
phản bác của họ lên ṭa án Brooklyn đúng như
lịch tŕnh đă được ấn định v́ vào
ngày 8 tháng 11 năm 2004, họ yêu cầu ṭa được
gia hạn thêm 60 ngày với lư do là các đề nghị bác đơn
của bị đơn quá dài nên họ cần thêm thời
gian để nghiên cứu và phúc đáp.
Hỏi 7:
Như vậy th́ ṭa án Brooklyn
giải quyết ra sao?
Đáp 7:
Dựa theo một phán quyết của Chánh án Weinstein ngày 22
tháng 11 năm 2004, yêu cầu gia hạn của phía nguyên đơn
được chấp thuận ngày 9 tháng 11 năm 2004, nhưng
chỉ được gia hạn thêm 45 thay v́ 60 ngày. Như vậy, phía nguyên đơn
phải đệ nạp phản bác vào ngày 18 tháng 1 năm
2005 và phía bị đơn sẽ trả lời vào ngày 8
tháng 2 năm 2005. Buổi điều
trần về các đề nghị bác đơn được
ấn định vào lúc 11 giờ sáng ngày 28 tháng 2 năm
2005.
Hỏi 8:
Theo KS, kết quả của vụ kiện sẽ ngă ngũ như thế nào?
Đáp 8:
Trên phương diện pháp lư, cho đến giờ phút
nầy, tôi thấy tư thế của phía nguyên đơn
rất yếu cả về mặt nhân lực lẫn pháp
luật. Tôi không thấy
một bằng chứng nào do nguyên đơn đưa ra
có thể giúp cho họ thắng được vụ
kiện; nhưng họ vẫn tuyên bố là sẽ theo đuổi vụ kiện cho đến
cùng. Tôi cũng không thấy
một lư do nào khiến cho các công ty hóa chất sẵn ḷng
dàn xếp như họ đă làm trong năm 1984, bởi v́
t́nh h́nh hiện nay hoàn toàn khác biệt. Họ không lo sợ như họ đă
lo sợ vào năm 1984, bởi v́ họ không phải đối
phó với vấn đề của người dân Mỹ
và họ không phải mất ăn mất ngủ v́ chưa
biết kết quả của các nghiên cứu về
ảnh hưởng của Chất Da cam đối với
sức khỏe của cựu chiến binh tham chiến
tại Việt Nam đang tiến hành. Họ không lo sợ
như họ đă lo sợ vào năm 1984, v́ họ biết
Chất Da cam không gây ra tất cả các bệnh tật mà
Việt Nam
cáo buộc. Và quan
trọng hơn hết, các công ty hóa chất nầy có
thừa phương tiện tài chánh để theo đuổi hoặc kéo dài vụ kiện
cho đến khi nguyên đơn tự bỏ cuộc.
Hỏi 9: Về
phần ḿnh, KS nhận xét như thế nào về vụ
kiện nầy.
Đáp 9: Vụ
kiện Chất Da cam thực chất là một hành động
đ̣i bồi thường chiến tranh, một việc mà
Việt Nam
đă đồng ư từ bỏ khi thiết lập quan
hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Cáo buộc Chất Da cam/Dioxin gây
ra những căn bệnh do hậu quả của việc
phát triển đất nước tùy tiện và thiếu
trách nhiệm không phải là một hành động
thiếu khôn ngoan. Chính việc cáo buộc nầy sẽ khiến cho
t́nh h́nh bệnh tật ở Việt Nam càng thêm nghiêm trọng v́
người dân thờ ơ với những nguyên nhân
rất gần và vô cùng nguy hiểm như thuốc bảo
vệ thực vật, hóa chất dùng trong kỹ nghệ,
và t́nh trạng ô nhiễm môi trường. Khi đưa đơn đến
ṭa án Brooklyn, tôi nghĩ phía Việt Nam đă đánh mất đi cơ
hội đáng giá để tranh thủ sự giúp đỡ
của chánh phủ và nhân dân Hoa Kỳ trong việc xác định
nguyên nhân thực sự và giải quyết dứt khoát các căn
bệnh hiện nay ở Việt Nam. Tôi nghĩ nhân dân và
chánh phủ Hoa Kỳ vô cùng nhân đạo và giàu ḷng bác ái,
và họ đặt ḷng nhân đạo và bác ái của
họ đúng chỗ và đúng lúc. Điển h́nh là việc viện
trợ 10 triệu Mỹ Kim trong ṿng 5 năm để giúp
Việt Nam pḥng chống bệnh liệt kháng (AIDS), và
gần đây nhất, 155.000 Mỹ Kim để giúp
Việt Nam chống nạn buôn người.
Trân
trọng kính chào Quư thính giả của Đài.