Hoa Kỳ Chấm
dứt Dự án Nghiên cứu Ảnh hưởng của
Chất da cam/Dioxin đối với Dị tật Bẩm
sinh ở Việt Nam.
(United States Cancels Project on
Birth Defects and Agent Orange/Dioxin in Vietnam)
Nguyễn Minh Quang, P.E.
Theo một bản tin
đăng trên tạp chí New Scientist ngày 20 tháng 3 năm 2005,
Hoa Kỳ đă quyết định chấm dứt nghiên
cứu ảnh hưởng của chất da cam đối
với dị tật bẩm sinh ở Việt Nam kể
từ ngày 25 tháng 2 năm 2005 v́ không nhận
được sự hợp tác cần thiết của chánh
phủ Việt Nam.
Nhưng người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê
Dũng khẳng định là phía Hoa Kỳ đă quyết
định đơn phương ngừng chương
tŕnh hợp tác nghiên cứu ảnh hưởng của
chất da cam/dioxin đă thỏa thuận với Việt
Nam.
Sau Hội nghị Khoa học
về Ảnh hưởng của Chất da cam/Dioxin
đối với Sức khỏe và Môi trường ở
Việt Nam,
diễn ra tại Hà Nội từ ngày 3 đến 6
tháng 3 năm 2002, đại diện chánh phủ Hoa Kỳ
và Việt Nam thỏa thuận một chương tŕnh
nghiên cứu hỗn hợp (joint research plan) được
ghi trong Biên bản Ghi nhớ (MOU) kư kết vào ngày 10 tháng
3. Chương
tŕnh nghiên cứu nầy bao gồm lănh vực nghiên cứu,
phương thức hợp tác trong việc nghiên cứu, và
tiến tŕnh tài trợ và hướng dẫn việc nghiên
cứu. Dự án nghiên
cứu Ảnh hưởng của Chất da cam/Dioxin
đối với Dị tật Bẩm sinh ở Việt
Nam nằm
trong khuôn khổ của chương tŕnh nghiên cứu
được ghi trong Biên bản Ghi nhớ vừa nêu.
Theo thỏa thuận về
tiến tŕnh tài trợ và hướng dẫn việc nghiên
cứu được ghi trong Biên bản Ghi nhớ,
một Ủy ban Cố vấn Hỗn hợp Việt
Mỹ phải được thành lập để
điều hành chương tŕnh nghiên cứu hỗn
hợp. Ủy ban nầy có
nhiệm vụ xác định mục tiêu của chương
tŕnh nghiên cứu, điều hợp chương tŕnh nghiên
cứu, cứu xét, và chấp thuận nội dung của
các cuộc nghiên cứu.
Ủy ban nầy cho đến nay vẫn chưa
được thành lập; do đó, dự án nghiên cứu Ảnh
hưởng của Chất da cam/Dioxin đối với
Dị tật Bẩm sinh ở Việt Nam chưa
được xem là một thành phần của
chương tŕnh nghiên cứu hỗn hợp.
Viện Khoa học Y tế
Môi trường Quốc gia (VKHYTMTQG) (NIEHS) là cơ quan
đại diện trực tiếp của Hoa Kỳ trong
việc thực hiện chương tŕnh nghiên cứu
hỗn hợp. Sau khi Biên bản Ghi
nhớ được kư kết năm 2002, Giám đốc
của Viện là Bác sĩ (BS) Ken Olden đă hai lần
gởi văn thư chánh thức đến các đối
tác Việt Nam để thông báo việc đề cử
thành viên Hoa Kỳ cho Ủy ban Cố vấn Hỗn hợp
Việt Mỹ và yêu cầu phía Việt Nam phúc đáp. Măi cho đến nay, phía Việt
Nam vẫn chưa phúc đáp hoặc đề cử thành
viên cho Ủy ban Cố vấn Hỗn hợp Việt
Mỹ. Trong khoảng từ
tháng 9/2002 đến tháng 2/2004, VKHYTMTQG đă mời 3 phái
đoàn do chánh phủ Việt Nam chọn lựa sang Hoa
Kỳ nhằm thúc đẩy việc thực thi Biên
bản Ghi nhớ. Chính
Tiến sĩ (TS) Anne Sassaman, người kư tên trong Biên
bản Ghi nhớ, cũng sang Việt Nam hai lần trong
năm 2003 và đă gặp Ông Mai Ái Trực, Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan
đại diện trực tiếp của Việt Nam
để xúc tiến việc thực thi Biên bản Ghi
nhớ. Nhưng các cố gắng của
VKHYTMTQG đă không mang lại kết quả mong muốn.
Dự án nghiên cứu Ảnh
hưởng của Chất da cam/Dioxin đối với
Dị tật Bẩm sinh ở Việt Nam khởi
thủy là một dự án có tiêu đề Ảnh
hưởng của Dioxin đối với Thường
dân Việt Nam do BS David Carpenter, Khoa trưởng khoa
Khoa học Y tế Môi trường của Đại
học Tiểu bang New York ở Albany (UAlbany), đề
nghị lên VKHYTMTQG vào tháng 6 năm 2002. Dự án
được sự cộng tác của BS Nguyễn Văn
Tường thuộc Trường Đại học Y khoa
Hà Nội. Đến tháng 12/2002, một
ủy ban của VKHYTMTQG đă cứu xét và chấp
thuận đề nghị của BS Carpenter. Nhưng v́ có yêu cầu thay
đổi từ phía Việt Nam, đề nghị của
BS Carpenter được chuyển đến Hội
đồng Cố vấn Quốc gia về Khoa học Y
tế Môi trường để duyệt xét. Đến tháng 5/2003, Hội đồng
chấp thuận đề nghị với khuyến cáo là
nên biến thành một thỏa ước hợp tác
với thể thức tài trợ cho phép chuyên viên của
VKHYTMTQG được giám sát và theo dơi dự
án. Mục tiêu của dự án được giới hạn trong
phạm vi dị tật bẩm sinh và các mẩu máu có
thể do một pḥng thí nghiệm ở Canada phân tích.
Mục đích của
dự án là thực hiện một cuộc nghiên cứu
về dị tật bẩm sinh có thử nghi?m
thích hợp về nồng độ của dioxin và các hóa
chất gây xáo trộn (confounding substances) để có
thể thu thập bằng chứng vững chắc
(conclusive evidence) để có thể kết luận dioxin có
làm gia tăng nguy cơ gây dị tật bẩm sinh hay
không. Các mẩu
thử nghiệm gồm có máu của cha mẹ để
phân tích dioxin, PCBs, và hóa chất bảo vệ thực
vật; mẩu máu để thử nghiệm di truyền;
và mẩu phân của trẻ sơ sinh để phân tích PCBs
và hóa chất bảo vệ thực vật. Ngoại trừ các
mẩu thử nghiệm dioxin, các mẩu khác sẽ
được lưu trữ cho việc nghiên cứu
về sau.
Dự án sẽ nghiên
cứu các trường hợp dị thai ống năo (neural
tube defects), sứt môi sứt miệng (cleft lip/cleft palate), và
tay chân biến dạng (limb reductions/abnomalies) ở Bệnh
viện Từ Dũ, thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh
viện Trung Ương Huế, Huế và Bệnh viện
Phụ sản Quốc gia, Hà Nội. Dự án sẽ thu thập dữ
kiện của tất cả các trường hợp
dị tật bẩm sinh (cases) hội đủ
điều kiện và một số trường hợp so
sánh (controls) tương đương, nhưng các
trường hợp dị thai ống năo sẽ
được phân tích ưu tiên v́ đây là trường
hợp dị tật bẩm sinh phổ biến nhất
ở Việt Nam.
Dự án
sẽ cho thấy sự hợp tác giữa các nhà nghiên
cứu Việt Mỹ và sẽ chứng minh rằng phụ
nữ Việt Nam, với nồng độ dioxin trong máu
khác nhau, sẽ sinh con b́nh thường hoặc sẽ sinh
con có mang một trong những trường hợp dị
tật bẩm sinh được nghiên cứu. Nếu
được BS Carpenter và BS Tường đồng ư,
kết quả nghiên cứu sẽ được
đăng trong một tạp chí quốc tế nổi
tiếng.
Dự án
được VKHYTMTQG hoàn toàn tài trợ qua U. Albany với
điều kiện được chánh phủ Việt Nam
chấp thuận. Chi phí
tổng cộng cho dự án được ước tính
vào khoảng 3,2 triệu Mỹ Kim. Một ngân khoản 347.933 Mỹ
Kim được dự trù cho tài khóa 2004 để hoàn
tất một số công việc (milestones) theo
lịch tŕnh (timeline) được ấn định trong
thỏa ước hợp tác.
Ngân khoản c̣n lại, khoảng 2,9
triệu Mỹ Kim, sẽ được lần
lượt tháo khoán cho đến tài khóa 2007.
Sau khi được
VKHYTMTQG chấp thuận, U. Albany đă kư một Biên bản
Ghi nhớ với Trường Đại học Y khoa Hà
Nội vào ngày 19 tháng 11 năm 2003 trong khi dự án đang
được Bộ Y tế Việt Nam cứu xét. V́ muốn tháo khoán ngân khoản tài
trợ cho tài khóa 2004 trong tháng 7, VKHYTMTQG đă nhờ BS Marie
Sweeney, Tùy viên Y tế Ṭa Đại sứ Hoa Kỳ ở
Việt Nam, với sự giúp đỡ của Đại
sứ Burghart, vận động với Bộ Kế
hoạch và Đầu tư để dự án
được chánh phủ Việt Nam chấp thuận. Vào ngày 9 tháng 6, Thứ
trưởng Nguyễn Bích Đạt thông báo với Ṭa
Đại sứ rằng Thủ tướng đă
đồng ư nhận dự án (agreed to receive the project) và
giao cho Bộ Y tế trách nhiệm triển khai dự án và
chỉ đạo Trường Đại học Y khoa Hà
Nội trong việc cộng tác với U. Albany. BS Sweeney và VKHYTMTQG xem
đây là sự chấp thuận chính thức của chánh
phủ Việt Nam. Ngày 23
tháng 7 năm 2004, VKHYTMTQG tháo khoán ngân khoản 347.933 Mỹ
Kim cho tài khóa 2004 để U. Albany bắt đầu
tiến hành dự án.
Sau khi nhận
được tài trợ từ VKHYTMTQG, BS Carpenter đă
gặp gỡ các cộng tác viện ở Việt Nam
để thực hiện dự án.
Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2004 đến
tháng 1/2005, BS Carpenter đă chỉ định nhân sự
chủ chốt ở các bệnh viện địa
phương, soạn các câu hỏi (questionnaire) và dịch các
văn kiện sang tiếng Việt. Ông không biết rằng dự án
chưa được Bộ Y tế Việt Nam chấp
thuận cho đến khi VKHYTMTQG khám phá trong khi theo dơi tiến triển của dự án.
Nhiếu cố gắng
đă được thực hiện để t́m hiểu
chi tiết về những quan tâm của Bộ Y tế và lịch
tŕnh cho các giải pháp, trong đó có buổi họp giữa
Đại sứ Marine và Bộ trưởng Y tế
Trần Thị Trung Chiến vào ngày 14 tháng 1 năm 2005. Cho đến nay, vẫn chưa
có phúc đáp về đề nghị cho các phiên họp
tiếp theo với các giới chức có
thẩm quyền của Bộ Y tế Việt Nam
để thảo luận về dự án.
Vào ngày 4 tháng 2 năm 2005,
VKHYTMTQG và U. Albany đă thảo luận và đồng ư
rằng, mặc dù cả hai cơ quan đă nỗ lực
để thực hiện dự án, lịch tŕnh và công
việc ấn định trong thỏa ước hợp
tác vẫn chưa được hoàn tất, trong khi chưa
có dấu hiệu nào cho một giải pháp với Bộ Y tế Việt
Nam trong tương lai gần.
Do đó, VKHYTMTQG và U. Albany đă đồng ư chấm
dứt dự án.
Nguyễn Minh Quang
Hội KH&KT Việt Nam
(VAST)
4/2005