Nghị Định
Thư Về An Toàn Sinh Học
Trong thời gian qua, Tc
KH&MT có trao đổi với Ts MTT về Công Ước Đa
Dạng Sinh học. Một trong những vấn đề
mấu chốt được đề cập trong CƯ
là An toàn Sinh học (ATSH). Đây là
một khái niệm nêu lên nhu cầu bảo vệ sức
khỏe của con người và ǵn giữ môi trường
không bị những tác động bên ngoài ảnh hưởng
đến an toàn sinh học. Trong buổi hội luận hôm nay, chúng tôi trở
lại đề tài nầy với Ts MTT.
Hỏi 1: Trước hết xin Ts
cho biết nguyên nhân h́nh thành ATSH.
Đáp 1: Thưa anh. Từ
khi CƯ ĐDSH ra đời và có hiệu lực từ năm
1993. Cũng trong khoảng thời gian
nầy công nghệ sinh học (CNSH) trên toàn thế giới đă
phát triển mạnh nhằm mục đích đáp ứng
nhu cầu về thực phẩm, nông nghiệp, và sức
khỏe cho con người. CƯ ĐDSH
đă tạo điều kiện thuận lợi cho
việc tiếp cận, trao đổi, và chuyển giao các
công nghệ sinh học liên quan đến việc bảo
tồn và xử dụng bền vững ĐDSH giữa các
quốc gia. Do đó, vào tháng 11, 1995, Hội nghị các
thành viên trong CƯ ĐDSHđă thành lập nhóm nghiên cứu
về ATSH để tiến tới việc xây dựng
dự thảo về NĐT ATSH.
Và ngày 29 tháng 1, 2000 tại
Montreal, Canada, NĐT về ATSH đă ra đời. NĐT nầy c̣n có tên là NĐT Cartagena. Đây là một khung quốc tế nhằm hài ḥa
các nhu cầu hổ tương giữa các quốc gia
về thương mại và bảo vệ môi trường
của ngành CNSH. Việt
Hỏi 2: Viêt Nam đă là thành viên
trong NĐT ATSH từ năm 2004, từ đó đến
nay, VN đă có những hành động nào trong nghiên cứu
phát triển CNSH cũng như bảo vệ ATSH không thưa
ông?
Đáp 2; Nói về CNSH, từ
thập niên 1980 trở đi, VN đă bắt đầu để
ư đến CNSH trong các ngành ứng dụng nông nghiệp,
thủy sản, y dược, v.v... qua
những kỹ thuật ADN, sinh vật biến đổi
di truyền, và các kỹ thuật khác qua nhiều kế
hoạch 5 năm của VN. C̣n về ATSH, vào năm 2002, VN đă
nhận được một ngân sách 183 ngàn Mỹ kim cho
một dự án do Chương tŕnh Môi trường LHQ
(UNDP). Mục tiêu của dự án là
chuẩn bị một khung quốc gia về ATSH phù hợp
với các quy định của NĐT Cartagena về ATSH.
Dự án nầy do Cục Bảo vệ Môi trường đảm
trách và kéo dài trong 6 tháng. NĐT Cartagena là
một trong những hiệp ước quốc tế
nằm trong CƯ ĐDSH. Đây cũng là một
sự cam kết của cộng đồng quốc tế
về bảo đảm an toàn trong
vận chuyển, xử lư và xử dụng các sinh vật
biến đổi gen. Đây cũng là một ràng buộc
quốc tế đầu tiên về ATSH.
Hỏi 3; Xin TS nói rơ thêm về các
hoạt động chính của dự án.
Đáp 3: Đây là một dự án có tính cách thông tin và phổ biến
những quy định trong NĐT ATSH, đưa ra
những khái niệm mới cho những nhà làm khoa học
trong nước cho ngành CNSH. Trước hết dự án có mục tiêu điều tra và thu thập
tài liệu về:
- Hiện
trạng xử dụng CNSH hiện tại phù hợp
với NĐT ATSH;
- Các
văn kiện hiện hành của VN liên quan đến CNSH
và ATSH;
- Các
dự án trong nước đang hoạt
động hay đă lên kế hoạch liên quan đến
việc xử dụng CNSH;
- Các
khung quốc gia về ATSH đă có trong khu vực;
- Thông
tin về những chuyên gia trong nước đang hoạt động
trong lĩnh vực CNSH và ATSH.
Tiếp theo,
dự án tiến hành việc thiết lập các khung
quốc gia về ATSH. Và sau cùng, tổ chức các hội
nghị, hội thảo, tập huấn về vấn đề
kiểm soát và quản lư sinh vật biến đổi gen
cùng xuất bản những văn kiện, báo cáo của
các hội nghị cấp quốc gia và xuất bản
dự thảo khung quốc gia về ATSH.
Hỏi 4: Một trong các mục tiêu
của dự án là điều tra và thu
thập tài liệu về các dự án CNSH đang hoạt động,
Ông có thể cho biết VN có dự án nào liên quan đến
vấn đề nầy và hiện đang tiến hành hay
không?
Đáp 4: VN đă có những công
tŕnh xây dựng CNSH trong những giai đoạn của
kế hoạch 5 năm. Trong giai đoạn
1981- 1985, VN đă triển khai và phát triển những
ứng dụng các kỹ thuật sinh học trong nông
nghiệp và y dược. Trong chương tŕnh nghiên
cứu phục vụ nông nghiệp giai đoạn 1986-
1990, VN nghiên cứu bước đầu về hệ vi sinh cố định đạm chất,
nghiên cứu về sự phân lập và chọn một
số ṇi vi khuẩn có khả năng cố định đạm
chất ở vùng rễ lúa. Chương tŕnh CNSH giai đoạn
1991- 1995 đă khai triển 19 đề tài về công
nghệ xử lư môi trường, chọn tạo giống
cây trồng, và sản xuất chế phẩm vi sinh và
chế biến thực phẩm, cấy mô thực vật
trong việc nhân giống cây ăn trái, cây lâm nghiệp và cây
thuốc..
Chương tŕnh CNSH
bền vững phát triển nông lâm nghiệp và thủy
sản, bảo vệ môi trường và sức khỏe con
người trong giai đoạn 1995- 2000 qua chương
tŕnh nghiên cứu ứng dụng CNSH về tạo giống
cây trồng, gia súc, sản xuất phân bón và thuốc
trừ sâu sinh học.
Và chương tŕnh nghiên
cứu cho giai đoạn 2001- 2005 có mục tiêu xây dựng
tiềm lực khoa học và công nghệ về CNSH làm căn
bản cho việc tiếp nhận chuyển giao, cải
tiến, và phát triển công nghệ phục vụ phát
triển nông nghiệp, y dược và thủy sản.
Nội dung nghiên cứu chính là các ứng dụng về
kỹ thuật di truyền phân tử trong công tác tạo
giống cây trồng và thủy sản.
Hỏi 5: CNSH VN đă được
khai triển và nghiên cứu hơn ¼ thế kỷ qua, ông có
nhận thấy những tiến bộ nào của VN trong
công nghệ nầy không?
Đáp 5: CNSH của VN phục
vụ cho nông nghiệp đă tạo ra các ḍng lúa có độ
thuần nhất cao, chịu hạn tốt, tạo ra được
những giống lúa chịu phèn, mặn, sâu bịnh phù
hợp cho từng vùng sinh thái. C̣n CNSH trong chăn nuôi đă
hoàn tất quy
tŕnh công nghê gây sự rụng trứng cho ḅ cao sản,
kỹ thuật cấy truyền phôi để gia tăng
sản xuất sữa và nuôi ḅ thịt. Trong
thủy sản, công nghệ nhân tạo giống tôm sú, di
giống và thuần hóa một số cá nuôi. Trong y dược,
nghiên cứu và chẩn đoán sớm và chính xác các bịnh đặc
biệt là các nguồn gen tạo ra ung thư.
CNSH VN c̣n phục vụ xử lư môi trường , xử lư
chất thải rắn, cũng như đă thành công trong
việc xác định hai chuẩn vi khuẩn có khả năng
phân giải cellulose sau 4 ngày, rút ngắn thời gian ủ
rác là 10 ngày trước kia. Và đặc biệt hơn
cả, dự án đă có một chương tŕnh thu thập, bảo tồn và lưu giữ
các giống, loài động thực vật và vi sinh cùng
bảo tồn đa dạng sinh học. Căn cứ theo
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh học, VN có 1.939 loài thuộc
thực vật nổi, 697 loài rong tảo, 13.766 loài thực
vật trên cạn, 8.203 loài động vật không xương
sống biển, 1.000 ở đất, 5.115 loài côn trùng,
2.582 loài cá, 260 loài ḅ sát, 832 loài chim, và 275 loài thú.
Ngoài ra, và cụ thể
nhất là Quyết định TT VN kư ngày 26/8/2005 về
việc ban hành quy chế quản lư ATSH đối với
các sinh vật biến đổi gen, sản phẩm, hàng
hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi
gen. Quyết định gồm 8 Chương, 24 Điều
và 2 Phụ lục, tương đối khá rơ ràng trong
nghiên cứu, phát triển, sản xuất, và vi phạm.
Hỏi 6: Ngoài những thành tựu
trên, VN có những chương tŕnh, hợp tác quốc
tế về CNSH và ATSH với các quốc gia trong lưu
vực hay không thưa ông?
Đáp 6: Theo thống kê VN, từ
trước tới nay đă có trên 21 ngàn hoạt động
hợp tác về CNSH trong khu vực Á Châu, và khoảng 6,8
ngàn hợp tác quốc tế khác. Những hợp tác
nầy do Bộ KH&CN đảm trách. Ngoài
ra c̣n có những chương tŕnh hợp tác NGO và phát
triển CNSH như GEF, IUCN. Quỷ Châu Á, học
bổng Fulbright, Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên
Thụy Điển, v. v...
Hỏi 7: Qua trao đổi với
TS trong suốt những năm qua, chúng tôi thấy VN đă
phê chuẩn và tham dự hầu như tất cả các
tổ chức của LHQ, các Công Ước, Nghị định
thư về môi sinh, môi trường, nhưng tại sao
t́nh trạng môi trường của VN ngày càng xuống
cấp, TS có giải thích nào cho sự nghịch lư nầy chăng?
Đáp 7: Thưa Anh. Trong suốt hơn
2 năm qua, chúng tôi đă tŕnh bày và trao đổi với
thính giả của Đài ACTD về sự tham gia của VN
qua tất cả chương tŕnh môi trường của
LHQ, từ Ngày Nước thế giới, Ngày Đất,
Ngày Môi trường, từ Nghị tŕnh- 21, từ các Công ước
Stockholm, Rotterdam, Đa dạng sinh học, ATSH và NĐT Kyoto
về sự hâm nóng toàn cầu. Điều đó có
nghĩa là VN đă tiếp cận và thu thập đầy đủ
thông tin, tài liệu, và đă là thành viên chính thức trong
tất cả những tổ chức đă liệt kê trên đây.
Thiết nghĩ, nguyên nhân làm cho môi trường ngày càng
xuống cấp gồm những nguyên nhân khách quan và chủ
quan, trong đó cần kể đến: nhân sự chuyên
môn, sự thiếu hụt về ngân sách, quần chúng chưa
được phổ cập tin tức và được
hướng dẫn rơ ràng về những chương tŕnh và chính sách
môi trường.
Nhưng có hai nguyên nhân chúng
tôi nghĩ là quan trọng nhất; đó là chính sách phát
triển kinh tế và xă hội của VN không đặt
trọng tâm vào việc bảo vệ môi trường là
chính yếu, và năo trạng của lănh đạo VN không
thích ứng kịp với đà tiến hóa chung trên thế
giới. Và rốt ráo lại nguyên nhân sau cùng
mới chính là cốt lơi của vấn đề. V́ sao?
Chúng tôi muốn nói, năo
trạng xây dựng đất nước trong ngắn
hạn, nhằm nhắm tới một sự phát triển
biểu kiến trong trước mắt nhưng không
nghĩ đến những thăm nạn do phát triển không đồng
bộ, tận dụng tài nguyên thiên nhiên của quốc gia
như nguồn nước ngầm, nạn phá rừng
bừa băi, việc khai thác triệt để đất
canh tác...
Mặc dù VN cũng có
những kế hoạch quốc gia như Chiến lược
phát triển quốc gia và Bảo vệ môi trường
trong từng thập niên một, nhưng trong quá tŕnh
thực hiện, hệ thống quản lư của VN về
môi trường chưa thể hiện tương xứng
với nhiệm vụ phải làm, cán bộ quản lư vẫn c̣n
thiếu về lượng và yếu về phẩm
chất, chưa
kể đến vô số h́nh thức tiêu cực trong
quản lư như cửa quyền, tham nhũng v.v... Về
các kế hoạch phát triển tổng thể, hiện
vẫn c̣n trong giai đoạn rà soát và khai triển, cũng
như các cơ quan điều hành kế hoạch vẫn
chưa được phân nhiệm rơ ràng do đó có
nhiều trùng lấp và chồng chéo nhau gây ra nhiều
nghịch lư trong công cuộc quản lư chung.
Tóm lại, công cuộc đẩy
mạnh giáo dục môi trường đến mọi
tầng lớp quần chúng là diều cần thiết và
nhất là việc thay đổi năo trạng của lănh đạo
VN để có một tầm nh́n rộng và xa hơn trong
việc quản lư đất nước và phát triển
bền vững trước tiến tŕnh toàn cầu hóa
ở thế kỷ 21 nầy.