Rượu Ethanol:
Nguyên Liệu Thay Thế Dầu - Ethanol: A Petroleum
Replacement
RFA - Tạp chí Khoa học
& Môi trường
Từ hơn một năm
qua, giá xăng dầu tiếp tục tăng dần
trên thế giới và hiện tại vẫn
chưa có chỉ dấu nào cho thấy sự sụt
giảm trong tương lai gần đây. Có những
nguyên do chính để giải thích hiện
tượng nầy. Đó là tình hình
chính trị chung trên thế giới đang bất
ổn với cuộc chiến tranh
Hỏi 1: Trước hết xin TS
MTT cho biết thêm về tình hình trữ
lượng dầu trên thế giới?
Đáp 1: Kính chào Quý
thính giả của Chương trình Tạp
chí KH&MT. Thưa anh,
trữ lượng dầu hỏa trên thế giới, qua nhiều thăm
dó và nghiên cứu của những cơ quan
khác nhau như: Bộ
Năng lượng Hoa Kỳ (1997), Báo Washington Post
(1996), Kỷ yếu Năng lượng quốc tế 1998
(International Energy Annual), Phòng Thống kê LHQ (1994). Hầu
hết đều kết luận là trữ lượng
dầu thô hiện chiếm vào khoảng 1.000 tỷ
thùng (barrel) hay 1,5 1011 m3. Cũng cần biết: 1 barrel
= 42 Gallon = 159 lít = 0,16 m3.
Cũng theo ước
tính của Cơ quan Địa chất HK (US GS)
thì với trữ lượng nầy, nhân loại
chỉ có triển vọng xử dụng trong
vòng 50 năm tới mà thôi.
Hỏi 2: Như vậy, với
tình trạng xử dụng xăng dầu ngày
càng tăng theo nhu cầu và đà gia tăng
dân số hiện nay, giới hạn tiêu thụ
trên sẽ thấp hơn 50 năm, có phải vậy
không thưa TS?
Đáp 2: Nếu căn cứ theo mức
sản xuất của OPEC và các quốc gia sản
xuất dầu độc lập thì đúng
như vậy. Nhưng trên thế giới hiện tại,
còn có nhiều quốc gia đang tiếp tục
truy tìm và khai
thác những khu vực có triển vọng
có mõ dầu ở trong đất liền cũng
như ở trong trầm tích của thềm lục
địa như ở Việt Nam, Alaska (Hoa Kỳ), Nam
Dương, Venezuela, Liên bang Nga v.v... Do đó trên thực
tế, có thể cho phép chúng ta ước
tính một cách lạc quan hơn con số 50
năm. Đó là chưa kể đến những
phương pháp và nguyên liệu khác
đang được nghiên cứu để thay thế
xăng dầu.
Hỏi 3: Trước khi đi
đến những phương pháp nghiên cứu
thay thế xăng dầu, xin TS cho biết OPEC là
gì? và công việc sản xuất cũng
như phân phối đầu thô trên thế giới
như thế nào?
Đáp 3: OPEC là chữ viết
tắt của “The Organization of Petroleum Exporting
Countries” hay “Tổ chức các Quốc gia Sản
xuất Dầu”. Có tất cả 9 quốc gia
trong tổ chức nầy, đó là:
Do đó, tùy theo
tình hình biến động mà giá dầu
có thể tăng bất ngờ do tình trạng
“tạm ngưng” sản xuất của OPEC
làm cho khủng hoảng năng lượng trên thế
giới. Đó là cuộc khủng hoảng
vào năm 1973. Hiện nay, chúng ta đang sống
trong một giai đoạn của một hình thức
khủng hoảng vì giá dầu đã tăng
gần gấp đôi so với năm ngoái. Tuy
nhiên cuộc khủng hoảng thực sự chưa xảy
ra vì giá dầu hiện tại vẫn còn thấp
so với giá của năm 1973 cộng thêm mức
lạm phát hàng năm.
Hỏi 4: Đứng trước
những bất trắc có thể xảy ra bất cứ
lúc nào để tạo nên cuộc khủng
hoãng năng lượng xăng dầu trên thế
giới, các nhà khoa học có những bước
tiên liệu nào để ngăn chặn hay hạn
chế các bất trắc có thể xảy ra cho
thế giới hay không thưa TS?
Đáp 4: Dạ có thưa anh.Thế
giới đã nhìn thấy hiểm họa của
việc xử dụng dầu thô làm nguồn
nguyên liệu chính cho công nghệ phát triển
và di chuyển. Vì đó là: 1- nguồn
nguyên liệu có trữ lượng giới hạn
và đã báo hiệu trước thời gian
bị cạn kiệt không xa; 2- mức ô nhiễm
môi trường đặc biệt là sự
hâm nóng toàn cầu là một nguy cơ thật
sự mà thế giới cần phải giải quyết;
3- sau cùng, phương hướng tập trung để
giải quyết hai vấn nạn trên là: truy
tìm nguyên liệu để thay thế xăng dầu
và biện pháp giải quyết mới để
giảm thiểu việc phóng thích khí monoxide
carbon (CO) và thán khí (CO2) vào không khí.
Hai hướng giải quyết
trên là hai định hướng tối ưu
trong hiện tại để tiến đến việc
ngăn ngừa khủng hoãng năng lượng
xăng dầu, và giảm thiểu được
lượng thán khí, tác nhân chính của
sự tăng nhiệt độ của bầu khí quyển.
Hỏi 5: Với hai hướng giải
quyết vừa nêu trên, thế giới đã
đạt được tiến bộ nào không
thưa TS?
Đáp 5: Trước hết
chúng tôi xin nhắc lại quá trình khai
thác công nghệ dầu khí.. Cho đến thập
niên 80, phẩm chất xăng dầu không
được tốt vì công nghệ nầy
chưa khử được dư lượng chì
(Pb) trong xăng, và phóng thích nhiều
khí CO và CO2 vì động cơ của
các phương tiện giao thông không đốt hết
lượng xăng dầu trong máy. Chì là
tác nhân làm cho trí não của trẻ
em sơ sinh chậm phát triển..
Qua nghiên cứu,
vào dầu thập niên 90, các nhà khoa học
đã tìm ra công nghệ chưng cất
(cracking) dầu khí tinh vi hơn và đã giải
quyết được sự hiện diện của
chì trong xăng. Hiện nay vấn đề tồn
đọng còn lại là làm thế nào
để hoàn chỉnh việc xử dụng
toàn lượng xăng dầu trong động cơ.
Hỏi 6: Về phương diện
TS vừa nói, Hoa Kỳ đã cho thêm chất
hóa học MTBE gọi là chất “trợ
oxy” vào trong xăng trong vòng một thập
niên qua để trợ giúp việc tiêu thụ
hoàn toàn lượng xăng dầu bơm
vào động cơ, nhưng sau đó chất nầy
bị cấm. Xin TS vui lòng giải thích nguyên
do việc đó?
Đáp 6: Thưa đúng như
vậy. Vào năm 2002, chính chất trợ oxy nầy
là nguyên nhân của một nguy cơ mới.
Đó là mầm mống của một loại
ung thư cho con người, và chất nầy
đã được tìm thầy trong nguồn
nước ở nhiều tiểu bang. Do đó, từ
cuối năm 2003, chất MTBE hoàn toàn bị cấm
xử dụng làm chất trợ oxy cho xăng dầu.
Để thay thế, Cơ quan Bảo vệ Môi
trướng HK (US EPA) cho phép áp dụng rượu
cồn hay ethanol để trộn vào xăng dầu
chạy xe. Có thể pha trộn đến tỷ lệ
70% rượu trong xăng. Vì vậy mà mức sản
xuất rượu cồn ở Hoa Kỳ trong năm 2004
là 12,5 tỷ lít, 17% cao hơn so với năm 2003. Các tiểu
bang trồng bắp để sản xuất ra rươu
ethanol ở Hoa Kỳ là
Hỏi 7: Lợi điểm của
chất trợ oxy mới là rượu ethanol trong
công nghệ xăng dầu như thế nào
thưa TS?
Đáp 7: Đây là một
trợ thủ đắc lực cho xăng dầu. Nó
làm tiêu đốt hết lượng xăng dầu
đã được bơm vào động cơ
xe. Do đó, không còn phát sinh ra khí CO
nữa. Lợi điểm thứ hai là do sự đốt
cháy hoàn toàn nầy, hiệu quả kinh tế
của việc xử dụng phương tiện di chuyển
bằng xăng dầu giảm từ 7 đến 10%
tùy theo tỷ lệ lượng ethanol thêm
vào. Lợi điểm sau cùng nầy càng
làm cho các nhà khoa học cố gắng
thêm trong việc truy tìm những phương
pháp hữu hiệu để hầu tăng năng suất
điều chế rượu cồn từ ngũ cốc,
đặc biệt từ bắp.
Hỏi 8: Xin TS nói qua về
phương pháp nầy?
Đáp 8: Rượu ethanol
đã được điều chế từ gạo,
nếp, bắp...từ hàng ngàn năm trước
qua sự lên men rượu do vi khuẩn. Hiện nay, với
nhu cầu giải quyết nạn khan hiếm năng
lượng xăng dầu và giảm thiểu ô
nhiễm môi trường, ethanol quả thật là
một nhu cầu cấp bách cho thế giới.. Do
đó tiêu chuẩn đặt ra cho công nghệ
lên men nầy là : 1- Truy tìm loại vi khuẩn
làm tăng tiến trình lên men nhanh hơn
và cho hiệu suất cao; 2- Và giảm thiểu tối
đa các phó phẩm khác không cần thiết
trong quy trình.
Công cuộc nghiên cứu
nầy đã dược khắp thế giới thực
hiện từ những năm 1970. Kết quả là
qua hơn 1.400 báo cáo khoa học về vi khuẩn
Zymomonas mobolis đăng tải trong suốt thời gian nầy,
Kang và các cộng sự mới vừa hoàn tất
mô hình di truyền (genome) của vi khuẩn nầy
vào cuối năm 2004. Và từ mốc thời
gian trên, công nghệ chuyển bắp thành
ethanol đã tiến một bước dài
góp phần vào công cuộc làm giảm
ô nhiễm môi trường và giải quyết
phần nào nạn khan hiếm năng lượng
xăng dầu trong tương lai.
Hoa Kỳ đã
đánh giá cao chương trình nầy, cho
nên trong một Báo cáo của Ũy hội
Quôc gia về Chính sách Năng lượng của
HK, một tổ chức phi chính phủ (NGO) do William
và Flora Hewlett tài trợ, trong đó quy tụ
nhiều chính trị gia, khoa học gia, kỹ nghệ
gia, giáo sư và đăc biệt có GS
Molina, khôi nguyên giải Nobel. Trong báo cáo nầy,
chỉ riêng chương trình dùng năng
lượng thay thế, trong đó việc sản xuất
ethanol là quan trọng nhất. Và theo như đã dự trù,
trong năm 2025, HK sẽ giảm lượng tiêu thụ
xăng dầu từ 10 đến 15% so với mức
dùng hiện tại năm 2004 do việc xử dụng
ethanol trong các phương tiện di chuyển.
Kính chào Quý
thính giả của Đài ACTD.