Cần Xét lại
Nghị Định Thư Kyoto - The
Sau khi quốc hội Liên
bang Nga phê chuẩn NĐT Kyoto vào tháng 11,2004, NĐT đă
hội đủ tỷ lệ 61% để trở thành
luật chung cho thế giới. Ngày 16/2/2005 LHQ đă chính
thức ban hành luật định áp dụng và quy định
hạn chế các khí thải hồi vào bầu khí quyển
trong đó khí carbonic là tác nhân chính cho sự hâm nóng ṭan
cầu. Định mức các quốc gia phải chịu
trách nhiệm được ước tính theo mức
sản xuất của từng nước đă được
đồng ư vào năm 1997 tại Kyoto, nghĩa là phải
gỉam thiểu 7% mức thải hồi vào năm 2012 so
với mức thải hồi ở năm 1990. HK cho đến
nay vẫn chưa chấp thuận luật định
nầy v́ nhiều lư do mà Tc KH&KT đă nêu ra trước đây.
Hôm nay, một lần nữa, Tạp chí được
tiếp chuyện với TS MTT về những diễn
biến mới của luật Kyoto, 5 tháng sau ngày ban hành.
Hỏi 1: Trước hết, xin TS
MTT cho thính giả biết về lịch sử h́nh thành
luật định
Đáp 1: Thưa anh. Nói về
lịch sử h́nh thành NĐT và luật định
Cũng cần nên biết
là vào thập niên 60, nhiều khoa học gia trên thế
giới đă diễu cợt nhà hóa học trên, nhưng măi đến
hội nghị thượng đỉnh Kyoto vào năm 1997,
câu chuyện hâm nóng ṭan cầu mới biến thành hiện
thực.
Hỏi 2: Thưa ông, có phải khí
carbonic là tác nhân của sự hâm nóng ṭan cầu hay không?
Đáp 2: Theo định nghĩa
trong NĐT có
tất cả 6 khí gọi là khí nhà kính (greenhouse gas). Các khí đó
là: khí carbonic (CO2), khí methane (CH4), nitrogen oxide (NOx),
hydrofluorocarbons (HFCs), perfluorocarbon (PFCs), và sulfur hexafluoride
(SF6). Khí carbonic chiếm tỷ lệ cao
nhất. Hiện tại, theo
luật định đă được đem vào áp
dụng sau ngày 16/2/2005 là tất cả định mức
hạn chế kh́ thải chỉ tính theo định
mức của khí carbonic, và các định mức khác
sẽ được tu chính trong tương lai.
Hỏi 3: Như vậy chuyện ǵ
đă xảy ra trên thế giới sau ngày NĐT Kyoto ban hành
thưa ông?
Đáp 3; Trên nguyên tắc, sau
ngaỳ 16 tháng 2, các quốc gia đă kư kết phải tuân
thủ theo luật. Vào ngaỳ 16 và 17
tháng 5, 2005 tại Bonn (Đức
quốc), LHQ đă tổ chức một cuộc hội
thảo quốc tế về Biến đổi Khí hậu
(Climate change) với sự tham dự của các chuyên gia
của gần 200 quốc gia. Cuộc hôị
thảo có mục đích nhằm xắp xếp giai đọan
thực hiện NĐT sau năm 2012, đồng thời
tiếp tục kêu gọi Hoa Kỳ và các quốc gia đang
phát triển thực hiện NĐT Kyoto. Cũng
cần nên biết là trong NĐT Kyoto, các quốc gia như
Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil, và Indonesia cùng
khoảng 100 quốc gia đang phát triển khác được
đặc miễn thi hành.
Hiện nay, một số
quốc gia trong Liên hiệp Âu Châu tiếp tục đặt
mục tiêu tiết giảm khí thải dài hạn từ 15 đến
30% trước năm 2020. Trong lúc đó Anh
Quốc, Thụy Sĩ và Liên Bang Nga vẫn đeo đuổi
mục tiêu đề ra trong NĐT. Tuy nhiên, có
những nước đă kư kết NĐT, nhưng vẫn
tiếp tục phát thải khí CO2 cao hơn định
mức quy định ở năm 1990, đó là Tây Ban Nha (tăng
47%), Bồ Đào Nha (59%), Ireland (40%), Hy Lạp, New Zealand và
Canada (24%). Hoa Kỳ cho đến nay, tuy không chấp
nhận NĐT, nhưng cũng đă có nhiều biện
pháp kiểm soát lượng khí thải CO2 bằng cách áp
dụng công nghệ sạch, và nhiều công nghệ tiên
tiến để thu hồi khí CO2 phóng
thiÙch vạ không khí do các nhà máy sản xuất.
Hỏi 4: Theo nhận xét vừa
kể trên, Hội nghị có đưa ra những kết
luận nào không thưa TS?
Đáp 4: Dạ có thưa anh. Trong
buổi tổng kết hội nghị, Bà Joke Waller Hunter,
TTK của Ban thư kư Công ước LHQ về Biến đổi
Khí hậu có yêu cầu 4 quốc gia kể trên cần tuân
thủ quy định giới hạn khí thải trong giai đoạn
2008-2012 v́ t́nh trạng hâm nóng và mức tăng nhiệt độ
bầu khí quyển có chiều hướng tăng nhanh hơn.
Hơn nữa, Bà hy vọng hội nghị cấp Bộ trưởng
về vấn đề nầy sẽ diễn ra tại
Montréal (Canada) vào tháng 12 sắp tới đây với mục
đích quy định những việc cần thực
hiện trong việc gia hạn NĐT Kyoto. Cũng cần
phải nói thêm là Ban Cố vấn Khoa học của LHQ đă
dự đóan nhiệt độ trên thế giới sẽ
tăng từ 1,4 đến 5,8 0C vào năm
2100. Những hiện tượng bất thường như
lụt lội, hạn hán, các tảng băng ở Bắc
và
Hỏi 5: Đứng trước
t́nh thế đó, thế giới có phương hướng
giải quyết như thế nào thưa TS?
Đáp 5: Dạ có thưa anh.
Gần đây nhất vào ngaỳ 6 tháng 7,2005
Hội nghị thượng đỉnh của 8 quốc
gia siêu cường G8 gồm Anh, Pháp, Đức, Y,Ù Canada,
Nhật, Hoa Kỳ và LB Nga đă diễn ra tại Edinburgh
(Scotland) trong 5 ngày, trong đó hai vấn đề chính được
bàn thảo là xoá đói giảm nghèo cho Phi Châu và t́nh
trạng hâm nóng ṭan cầu. Trong kỳ họp thượng
đỉnh kỳ nầy, với tư cách chủ nhà,
Thủ tướng Tony Blair đă phát biểu về t́nh
trạng hâm nóng ṭan cầu và phương cách giải
quyết vần đề là các quốc gia cần phải
giảm thiểu hơn nữa việc sản xuất năng
lượng tiêu dùng bằng than đá và dầu khí...và
phải thay thế bằng những công nghệ sạch
khác như năng lượng gió, mặt trời, và các năng
lượng tái tạo khác... Ông cũng
tiếp tục kêu gọi thế giới tuân thủ
những quy định của NĐT Kyoto.
Hỏi 6: Hoa kỳ vẫn c̣n đứng
ngoài, không chịu kư NĐT, điều nầy có làm cản
trở tiến tŕnh giảm thiểu sự hâm nóng ṭan
cầu hay không?
Đáp 6: Cho đến nay, lập
trường của HK qua chính phủ của TT Bush từ năm
2001, HK không chấp nhận NĐT Kyoto. Có nhiếu lư do mà HK
đưa ra để từ chối không chịu kư vào NĐT
trong đó 2 lư do chính sau đây là HK không đồng ư sự
đặc miễm cho Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil,
và Indonesia trong việc thi hành NĐT cũng như NĐT
không đề cập đến mức khấu trừ
sự thải hồi khí CO2 qua các chính sách trồng rừng
quy mô của HK do hiện tượng hấp thụ khí CO2 của
cây rừng.
Gần đây nhất, Cơ
quan Thông tin Năng lượng HK (Energy Information
Administration) đă công bố lượng khí thải vào năm
2004 của 20 quốc gia phát triển trên thế giới là
20 tỷ m3 khí carbonic, trong đó HK chiếm hàng đầu
với 31%, tiếp theo là Trung Quốc 17,3%,
Ấn Độ đứng
hàng thứ năm với 5,5%, Brazil thứ 18 với
0,4%. Do đó lập luận của HK có căn bản khoa
học là không đồng ư đặc miễn cho 3 quốc
gia vừa kể trên với tổng cộng 23,2% tổng lượng khí thải ṭan
cầu. Cũng trong hội nghị G8 nầy, nhà b́nh luận
Robert Samuelson đă lưu ư về t́nh trạng phát triển
của Ấn Độ và Trung Quốc là trong hiện
tại, TQ chỉ có 24 triệu xe hơi, và Ấn Độ
c̣n 500 triệu người dân không có hệ thống điện
trong nhà. Ông tiên đóan rằng, vào năm 2030, lượng
khí CO2 thải hồi của
TQ sẽ cao hơn tổng số lượng khí thải
của LH Âu châu, Úc châu, HK, Nhật, Canada, và ĐaÏi HaØn
gọp lại. Chính nguy cơ sau nầy
sẽ là một quan ngại lớn cho việc áp dụng NĐT
Kyoto.
Hỏi 7: Như vậy viễn
ảnh không lấy ǵ lạc quan lắm sao?
Đáp 7: Dạ đúng như
vậy thưa anh. Trước viễn ảnh không mấy
lạc quan trên, chúng ta chỉ hy vọng các quốc gia đă
phát triển
chuyển giao công nghệ dùng than sạch với
nguyên tắc biến than thành khí trước khi chuyển
hóa thành điện năng (phương pháp IGCC) đến các quốc gia đang
phát triển hiện đang xử dụng than đá để
chạy máy phát điện. Công nghệ
sạch nầy hầu như không thải khí CO2 vào môi trường.
Thứ nữa, các loại năng lượng
sạch nhất là năng lượng tái tạo cần
phải phát triển nhanh hơn nữa.
Nếu lấy HK làm thí
dụ, hiện tại điện năng của HK đến
từ than chiếm 51%, năng lượng hạch nhân
chiếm 16,5%, khí thiên nhiên 7%, và các loại năng lượng
tái tạo, năng lượng hydrogen, gió, mặt trời,
thủy triều v.v... chiếm 25%. Theo dự tính năng lượng tái tạo
sẽ tăng lên đến 10% trong 10 năm tới, và
việc xử dụng công nghệ than sạch sẽ
giải quyết được 50% của công nghệ than
hiện tại. Nếu các quốc gia trên thế
giới cũng có chiều hướng giải quyết
vần đề như HK trong ṿng 10 năm sắp đến,
thế giới có thể sẽ bớt đi nguy cơ
của sự hâm nóng ṭan cầu.
Hỏi 8: Để kết luận , theo quan điểm của TS th́ tương
lai của NĐT Kyoto sẽ đi về đâu?
Đáp 8: Để kết
luận, NĐT Kyoto theo như các sự kiện vừa
kể trên cần phải được xét lại để
mọi quốc gia trên thế giới đồng tuân
thủ và áp dụng công bằng hơn các điều luật của
NĐT Kyoto hiện taị. Và một số
quốc gia đă chuẩn bị bàn thảo về vấn đề
nầy trong kỳ họp vào tháng 12 sắp tới tại
Kỳ họp tháng 12 chưa
diễn ra, nhưng một biến cố khác liên quan đến
sự hâm nóng ṭan cầu vào cuối tháng 7 vừa qua có
thể làm cho NĐT Kyoto đi vào ngơ cụt. Đó là,
một Liên minh 6 quốc gia gồm Úc Châu, Trung Quốc,
Ấn Độ, Nhật Bản, Hoa Kỳ, và Đại
Hàn đă kư kết một hiệp thương tại
Vientiane (Lào) về sự hâm nóng ṭan cầu. Sáu
quốc gia trên đă chia xẻ trên 50% lượng khí
carbonic trên thế giới. Mục đích của
của việc hợp tác nầy là khai triển, giúp đở,
trao đổi thông tin, áp dụng và chuyển giao những
công nghệ sạch liên quan đến việc xử
dụng năng lượng tương hợp với
tiến tŕnh giảm thiểu mức tăng nhiệt độ
trên thế giới.
Do đó, tương lai
của NĐT Kyoto khó được định trước.
Kính chào Quư thính giả
của Đài ACTD