Cơn Khủng
Hoảng Của Ngành Mía Đường - The Crisis of
Từ những năm đầu
tiên của thập niên 1990, Việt
Hỏi 1: Thưa TS, công nghệ
mía đường đă được nhà cầm
quyền VN cổ súy và đầu tư mạnh, vậy
tại sao có cảnh nghịch lư là t́nh trạng của
kỹ nghệ nầy đang bị khủng hoảng?
Đáp 1: Thưa Anh. Tương
tự như những công nghệ phát triển kinh tế
khác của Việt Nam, mỗi khi có một chính sách quốc
gia vừa được nêu ra, các địa phương
có dịp để khai triển kế hoạch phát
triển trong địa phận trách nhiệm của ḿnh mà
không có một chính sách chung, đồng bộ cũng như
không điều nghiên về môi trường và tác động
đến vùng sinh thái của nơi được
thiết lập. Do đó, kết quả tất nhiên là
phải đi đến thất bại mà thôi.
Việt
Hỏi 2: Xin ông nói rơ hơn đây
là một cơn khủng hoảng thừa như thế
nào?
Đáp 2: Từ những nhà máy đường
chính đă có từ trước 1975 như nhà máy đường
Hiệp Ḥa, Khánh Hội, Bà Lụa, Quảng Ngăi v.v
ngay sau khi chính sách được phát động,
hơn 40 nhà máy mới được thiết lập
vội vă từ Tuyên Quang, Thanh Hóa, Quăng B́nh xuống tận
Cam Ranh, Sóc Trăng. Thậm chí có những nhà máy được
địa phương xây trước khi có giấy phép như
nhà máy Sơn Dương, và những nhà máy được
xây trước khi có được quy hoạch trồng
mía, nghĩa là có nhà máy mà không có nguyên liệu mía để
ép. Có thể nói, ṭan bộ các nhà máy đường
mới đều được khởi công trước
khi được các cấp có thẩm quyền ra quyết
định đầu tư như nhà máy Ninh Ḥa. Đó là t́nh trạng khủng hoảng thừa cho
cả nước.
Hỏi 3: Trước hết,
chỉ trong một thời gian ngắn mà đă thiết
lập trên 40 nhà máy. Thưa ông thiết bị
để xây dựng đến từ đâu, từ trong nước
hay phải nhập cảng?
Đáp 3: Thưa anh. Hầu
hết những thiết bị đều được
nhập cảng từ Trung Quốc, Úc Châu, Pháp
và đều không được
đấu thầu, không có kiểm soát và không bảo đảm
công suất họat động, cũng như ḥan ṭan
thiếu sự đồng bộ trong việc quy hoạch
vùng nguyên liệu mía và xây dựng nhà máy. Trong
số 44 nhà máy chỉ có 6 nhà máy có nguồn vốn đầu
tư từ nước ng̣ai cho nên có thiết bị
mới với công nghệ tiên tiến và công suất cao trên
6 ngàn tấn mía/ngày. C̣n lại những
nhà máy xử dụng máy móc sản xuất từ TQ có công
suất nhỏ dưới 1 ngàn tấn/ngày và phẩm
chất của đường rất xấu. Có rất nhiều hợp đồng
cung cấp thiết bị không được duyệt
thiết kế cho nên phải thay đổi, điều
chỉnh.. . do đó
chi phí xây dựng bị lảng phí rất nhiều thời
gian và nguồn vốn. Điển h́nh là công ty đường
Tuyên Quang, Sóc Trăng, B́nh Dương đă mua thiết
bị của TQ mà không có tài liệu thẩm định, do
đó vẫn chưa hoạt động được và
máy móc c̣n đang nằm la liệt như vật liệu
phế thải. Ngoài những vấn nạn
trên, c̣n một vấn nạn lớn nhất, đó là
tệ trạng tham nhũng. Đây
cũng là một trong những nguyên nhân chính đưa
kỹ nghệ đường VN đến bờ vực
thẩm.
Hỏi 4: C̣n về quy họach
trồng nguyên liệu mía th́ sao, thưa TS?
Đáp 4: Theo ước tính
hiện tại (11/2005), chỉ c̣n 37 nhà máy đường
hoạt động trên ṭan quốc và số liệu do
Hiệp hội Mía Đường cho thấy tổng công
suất chế biến là 75 ngàn tấn/ngày nghĩa là trên 27 triệu tấn mía/năm. Năm
1996, diện tích trồng mía ở VN chỉ khoảng 200
ngàn mẫu với sản lượng 600 ngàn tấn/năm.
Đến mùa năm 2003 - 2004, nông dân trồng mía tăng lên
300 ngàn mẫu và cho sản lượng 1,1
triệu tấn/năm. Nhưng qua đến
mùa 2004 - 2005, chỉ c̣n khoảng 920 ngàn tấn/năm mà
thôi. V́ vậy, nếu so sánh với yêu cầu nguyên
liệu mía cho các nhà máy là 27 triệu tấn/năm, nguyên
liệu mía có được chỉ cung ứng 3,4% cho nhu
cầu của các nhà máy mà thội. Thí dụ như nhà máy đường
Quảng B́nh có công suất ép mía là 7,1% cho
mùa 1998 - 1999; qua mùa 1999 - 2000 tăng lên được 18,6%;
2000 - 2001, c̣n 12,4%; và 2001 - 2002 chỉ c̣n laiï 6%. Hiện tại nhà máy đang bị đóng cửa
vô hạn định.
Hỏi 5: Ngoài việc xây
dựng gấp rút, thiếu quy họach, ng̣ai việc nguyên
liệu mía không đủ cung ứng cho công suất ép mía
của các nhà máy, c̣n yếu tố nào khác để gây ra
khủng hoảng cho công nghệ nầy trong hiện
tại không thưa ông?
Đáp 5: Ngoài hai yếu tố
vừa kể trên cần phải nói đến phẩm
chất và giá trị thị trường của đường
Việt
Hỏi 6: Xin ông nói rơ hơn
về phẩm chất và giá trị thị trường
của đường Việt
Đáp 6: V́ các nhà máy đường
đa phần là do thiết bị của TQ, với công
nghệ lạc hậu, cho nên ngay từ khi kỹ nghệ đường
bộc phát, phẩm chất đường Việt
Hỏi 7: C̣n công cuộc quản
lư th́ sao?
Đáp 7: Thưa anh. Chính sách quốc gia đă ra đời một cách
vội vă và thiếu điều nghiên, cộng thêm cung cách
quản lư không chuyên nghiệp và tệ trạng tham nhũng
đă khiến cho Chương
tŕnh 1 triệu tấn đường chỉ c̣n là một bánh vẻ sau hơn 10 năm
thực hiện. V́ thiếu chuyên môn cho nên thiết
bị nhập cảng đă bị ăn
xén từ kỹ thuật đến xây dựng. Đại để là mua thiết bị cũ,
không có năng suất cao mà vẫn được nhập
với tiêu chuẩn của thiết bị mới. C̣n việc lấp đặt nhà máy đường
rất tùy tiện qua móc ngoặt. Ngay
cả ở những địa phương ḥan ṭan không có
khả năng trồng nguyên liệu mía cũng có nhà máy đường.
Kết quả là, có những nhà máy sau khi khánh
thành đă âm thầm đóng cửa. Hiện tại,
báo chí trong nước cho biết có 34 nhà máy c̣n nợ
của nhà nước trên 7 ngàn tỷ đồng tương
đương với 500 triệu Mỹ kim.
Hỏi 8: Vậy theo
ông, công nghệ mía đường VN phải làm ǵ để
tháo gở bế tắc và khủng hoảng của ngành
nầy hay không?
Đáp 8: Trước hết,
chúng tôi nghĩ:
- Việt
- Dứt khoát loại
trừ những nhà máy có thiết bị cũ với quy
tŕnh sản xuất lạc hậu mà phải thay thế
bằng những nhà máy có công nghệ tiên tiến;
- V́ đây là một công
nghệ quốc gia, cho nên phải có một chính sách
quản lư nghiêm ngặt, kiểm soát gắt gao từ giá mía
thu mua cho đến giá đường thành phẩm, ngơ
hầu tạo điều kiện cho nông dân trồng mía có
lợi tức ổn định, không bị ép giá mà đổi
nghề. Điều sau nầy sẽ tạo ra khủng
hoảng nguyên liệu mía cho mùa mía tiếp theo;
- Và sau cùng, kiểm soát các
vùng biên giới để chận đứng hay tối
thiểu hạn chế được lượng đường
nhập lậu từ phương Bắc và Cambodia, ngơ
hầu bảo vệ được mức tiêu thụ
của đường nội địa.
Thiết nghĩ, làm được
4 điều trên, VN có thể điều chỉnh đượng
t́nh trạng khủng hỏang đường hiện
tại và việc phân phối đường trong ṭan
quốc sẽ ổn định v́ đă có quy hoạch rơ
ràng. Như thế có thể tránh được những
xáo trộn xă hội do khủng hoảng thiếu hoặc
thừa cho công nghệ mía đường gây ra.
Kính chào Quư thính giả
của Đài ACTD