Bão Katrina và Ngập lụt ở New Orleans, Louisiana - (Hurricane Katrina and Flooding in New Orleans, Louisiana)
Sau khi tràn qua miền Nam Florida vào ngày 25 tháng 8 năm 2005
với sức gió thấp hơn 150 km/h, bão Katrina đã
tăng cường độ một cách nhanh chóng rồi
đổ bộ vào bờ biển Louisiana gần thành
phố New Orleans, với vận tốc gió lên đến 250
km/h vào rạng sáng ngày 29 tháng 8 năm 2005. Bão Katrina gây ảnh hưởng
trực tiếp trên một vùng rộng trên 230.000 km2 trong
vùng vịnh Mexico thuộc các tiểu bang Louisiana, Mississippi,
và Alabama, và gây thiệt hại nặng nề cho những
vùng đông dân cư như New
Orleans ở Louisiana và Biloxi ở Mississippi. Bão Katrina cũng là
nguyên nhân làm phần lớn thành phố New Orleans bị ngập lụt, có
nơi sâu hơn 6 m.
Để tìm hiểu thêm về trận bão Katrina và
ngập lụt ở New Orleans, được mô tả
như là một thiên tai tệ hại nhất trong lịch
sử Hoa Kỳ từ trước cho đến nay, Phóng
viên Đỗ Hiếu đã trao đổi với Kỹ
sư (KS) Nguyễn
Minh Quang.
Ông là một kỹ sư công chánh chuyên nghiệp
của tiểu bang California và
cũng là một chuyên viên thuộc Hội Khoa học và
Kỹ thuật Việt Nam. Trước năm 1975, KS Quang là
một chuyên viên phục vụ tại Ủy ban Quốc gia
Thủy lợi trực thuộc Bộ Công Chánh và Giao thông
ở Sài Gòn. Ông phụ trách
công tác nghiên cứu và soạn thảo các kế hoạch
phát triển thủy lợi ở miền Nam Việt Nam cũng
như công tác đo đạc thủy học và tiên đoán
lũ lụt ở Đồng bằng
sông Cửu Long. Xin kính mời
quý thính giả theo dõi.
Hỏi: Trước khi bão Katrina đổ bộ vào tiểu
bang Louisiana, đã có những tranh luận khoa học cho
rằng hiện tượng hâm nóng toàn cầu (global warming)
là một yếu tố làm cho bão xảy ra thường
xuyên hơn và có cường độ càng ngày càng mạnh hơn
cũng có theo dõi tin tức về trận bão Katrina và
những hậu quả nặng nề của nó. KS nghĩ sao về
những tranh luận nầy?
Đáp: Dạ thưa, những tranh luận nầy bắt
nguồn từ một nghiên cứu của Giáo sư (GS)
Kerry Emanuel thuộc Viện Khoa học Massachesetts (MIT)
được đăng tải trên Tạp chí Naturte
số tháng 8/2005. Theo GS Emanuel,
thời khoản (duration) và cường độ của
các trận bão lớn trong Đại Tây Dương và Thái
Bình Dương đã gia tăng khoảng 50% kể từ
thập niên 1970; tương ứng với sự gia
tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu (khoảng 1
OF) và sự gia tăng mức độ phóng thích khí CO2 và
các chất ô nhiễm giữ nhiệt (heat-trapping pollutants)
từ ống khói kỹ nghệ, xe cộ, và các nguồn ô
nhiễm khác.
Dựa theo dữ kiện mà tôi có
được thì lập luận của GS Emanuel không có
cơ sở. Trong
số 60 trận bão lớn nhất ghi nhận
được từ năm 1851, chỉ có 19 trận
xảy ra sau 1960. Không
kể bão Katrina, trong số 10 trận bão lớn nhất
lịch sử, có 5 trận xảy ra trước 1930 và
chỉ có 2 trận xảy ra sau 1970. Nhiều chuyên viên khí tượng
hàng đầu, thí dụ như GS Roger Pielke, Jr. của
Đại học Colorado và Giám đốc Max Mayfield của
Trung tâm Bão Quốc gia Hoa Kỳ (National Hurricane Center),
cũng cho rằng kêt luận của GS Emanuel cần có thêm
dữ kiện biện minh và rằng vùng Đại Tây
Dương và Vịnh Mexico đang trải qua một giai
đoạn có nhiều bão lớn.
Giai đoạn nầy nằm trong chu
kỳ tự nhiên và có thể kéo dài 20 năm hoặc hơn
nữa.
Hỏi: Như vậy thì yếu tố nào có ảnh
hưởng đến cường độ của
một trận bão và có cách nào để lượng
định cường độ nầy không, thưa KS?
Đáp: Có rất nhiều yếu tố cần thiết
để hình thành một trận bão, nhất là một
trận bão lớn như Katrina.
Thứ nhất là nhiệt độ nước
biển phải trên 80 OF (khoảng 26.7 OC); thứ hai,
bầu khí quyển gần mặt biển phải ấm và
ẩm; thứ ba, bầu khí quyển trên mặt biển
phải mát và ẩm; và sau cùng, sự hiện hữu
của một con lốc xoáy nhẹ ở đủ xa
đường xích đạo (tối thiểu là 300 miles
(480 km)) để vòng quay của trái đất có thể
thúc đẩy vòng xoáy của trận bão. Các yếu tố nầy có thể
thay đổi, do đó, cường độ của
một trận bão cũng thay đổi từ nơi
nầy sang nơi khác.
Cường độ của một
trận bão được ấn định bằng áp
suất khí quyển (atmospheric pressure) tại tâm bão (eye). Áp
suất nầy được đo trực tiếp
bằng máy bay đặc biệt, có thể bay thẳng vào
tâm bão nhiều lần trong một phi vụ. Áp suất càng
thấp so với áp suất tiêu chuẩn tại mặt
biển (101,325 kPa) thì cường độ bão càng cao. Trong số các trận bão có
cường độ cao đổ bộ vào Hoa Kỳ, bão
Katrina đứng hàng thứ ba với cường
độ 91,8 kilopascals (kPa). Hai trận bão mạnh hơn là
Camille (1969) có cường độ 90,9
kPa và Labor Day (1935) có cường độ 89,2 kPa.
Hỏi: Nhưng theo ước tính của các cơ quan có
thẩm quyền thì thiệt hại do bão Katrina gây ra,
mặc dù chưa đầy đủ, đã vượt
quá thiệt hại của bão Andrew năm 1992 để chiếm kỹ lục trong
lịch sử Hoa Kỳ. Con
số thiệt hại về vật chất
được ước tính đã lên trên 125 tỉ Mỹ
Kim. KS có thể
cho biết tại sao bão Katrina có thể gây thiệt hại
to lớn như vậy không?
Đáp: Có rất nhiều
yếu tố khiến thiệt hại do bão Katrina gây ra
rất nặng nề, cả về mặt nhân mạng
lẫn tài sản, nhưng yếu tố quan trọng
nhất chính là đặc tính của nó. Mặc dù có cường
độ và vận tốc gió thấp hơn bão Camille, là
một trận bão đổ bộ vào vùng Vịnh Mexico
ở cùng một vị trí vào năm 1969, bão Katrina lại
gây thiệt hại nhiều hơn vì đường kính
của bão Katrina lớn hơn nhiều so với bão
Camille. Đặc
tính thứ hai là bão Katrina bất ngờ thay đổi
hướng di chuyển sau khi tràn qua mỏm phía Nam của bán đảo Florida. Thay vì di chuyển theo hướng
Bắc để đổ bộ vào vùng cán chảo
của tiểu bang nầy, bão Katrina lại di chuyển xa
hơn về phía Tây rồi đổi sang hướng Tây
Bắc để vào vùng New Orleans.
Yếu tố bất ngờ nầy có thể làm cho
các cơ quan có trách nhiệm đối phó với thiên tai trở tay không kịp. Và nếu bão Katrina đổ
bộ vào vùng cán chảo Florida,
tương tự như bão Labor Day năm 1935, thiệt
hại chắc sẽ thấp hơn nhiều.
Hỏi: Ngoài yếu tố liên quan đến đặc tính
của bão Katrina như KS vừa trình bày, còn yếu tố
quan trọng nào khác đã làm gia tăng thiệt hại do
bão Katrina gây ra?
Đáp: Thưa yếu tố quan trọng thứ nhì có liên
quan đến tác động của con người, hay nói
cách khác, liên quan đến việc phát triển xã hội và
kinh tế dọc duyên hải vùng Vịnh Mexico. Do nhu cầu gia tăng dân số
và phát triển kinh tế như kỹ nghệ khai thác và
biến chế dầu, khai thác thủy sản, và kỹ
nghệ du lịch; các khu dân cư càng ngày càng đông hơn
và mở rộng hơn vào những vùng dễ bị
thiệt hại như bờ biển, cửa sông, hoặc
các vùng đất thấp, thí dụ như thành phố New
Orleans. Việc phát triển
thủy lợi lưu vực sông Mississippi từ năm 1927
có lẽ cũng là một yếu tố quan trọng vì sông
Mississippi không còn đủ phù sa để ổn cố các
đầm lầy và giồng đất dọc theo bờ
biển; do đó, bờ biển bị xâm thực nghiêm
trọng. Các
đầm lầy và giồng đất nầy là một
vùng đệm hữu hiệu để chống bão. Ở tiểu bang Louisiana, có nhiều nơi bờ
biển ăn sâu vào đất liền trên 25 km từ
thập niên 1920 cho đến nay.
Hỏi: Dựa theo tin tức mà chúng tôi thu nhận
được, thì thiệt hại nặng nề nhất
không phải do sức gió của bão Katrina mà do nạn
lụt đang xảy ở thành phố New Orleans. KS có thể giải
thích cho thính giả của đài biết tại sao thành
phố nầy bị ngập lụt như vậy.
Đáp: Dạ thưa, thành phố New Orleans
được xây dựng trên một lòng chảo nằm
giữa sông Mississippi ở phía Nam và
hồ Pontchartrain ở phía Bắc.
Có nhiều nơi, mặt đất
thấp hơn mặt nước biển trên 2 m. Để quý thính
giả dễ hình dung, thì thành phố New Orleans có thể ví như
Đồng Tháp Mười ở Đồng bằng sông
Cửu Long. Một hệ thống đê bao, tường
chắn sóng, và trạm bơm được xây dựng
để bảo vệ và thoát nước cho thành phố
khỏi bị ngập.
Sáng ngày 30 tháng 8 năm 2005, một ngày
sau khi bão Katrina tràn qua New
Orleans, 5 đoạn đê của hệ
thống đê bao nầy đã bị vỡ, khiến cho
nước trong hồ Pontchartrain, với mặt
nước lúc đó cao hơn mức bình thường trên
4 m, tràn vào thành phố. Vì hệ
thống trạm bơm bị tê liệt, do mất
điện hoặc bị ngập, số lượng
nước nầy không có lối thoát và tràn ngập thành
phố. Theo ước tính của chánh quyền
địa phương, khoảng 80% thành phố bị
ngập, có nơi sâu trên 6 m, và phải mất ít nhất 1
tháng mới có thể bơm hết số nước
ngập nầy ra khỏi thành phố.
Hỏi: Như vậy, cơ quan chịu trách nhiệm xây
dựng và điều hành hệ thống đê bao có
biết nguy cơ vỡ đê và có biện pháp đối
phó hay không, thưa KS?
Đáp: Công Binh Hoa Kỳ (U.S. Army Corps of Engineers) là cơ quan
chịu trách nhiệm xây dựng và điều hành hầu
hết các dự án thủy lợi trên toàn quốc, trong
đó có hệ thống đê bao bảo vệ thành phố
New Orleans, đã nhận thấy nguy cơ nầy sau
trận bão Betsy năm 1965.
Cơ quan đề nghị một dự án, có
thời giá khoảng 85 triệu Mỹ Kim, cho một hệ
thống đê và cửa chắn sóng để ngăn
chận sóng bão (surge) tràn vào hồ Pontchartrain qua cửa
Rigolets và Chef Menteur Pass. Mặc
dù được Quốc Hội phê chuẩn và Tổng
Thống Johnson ban hành thành luật, dự án bị nhóm môi
trường Save Our Wetlands, ngư dân trong vùng hồ Pontchartrain,
và Quận St. Tammany ở bờ phía Bắc hồ
Pontchartrain chống đối và kiện ra tòa với lý do
là dự án sẽ cản trở thương mãi và gây
tổn hại cho thủy sản trong hồ Pontchartrain. Công Binh Hoa Kỳ phải bỏ
dở dự án sau phán quyết của Chánh án Charles Schwarts
Jr. ngày 30 tháng 12 năm 1977 dành phần thắng về phía
nguyên đơn. Cũng
cần nói thêm là, dựa theo kết quả của mô hình do
GS Johannes Westerink của Đại học Notre Dame thực
hiện, hệ thống đê và cửa chắn sóng mà Công
Binh Hoa Kỳ đề nghị năm 1965 có thể ngăn
chận một cách có hiệu quả sóng bão trong trận bão
Katrina.
Hỏi: Trong thời gian vừa qua và sắp tới, KS đã
và có lẽ sẽ nghe rất nhiều dư luận liên quan
đến bão Katrina. Với tư cách của một kỹ sư
thủy lợi, KS có nhận xét gì về việc
đối phó với bão Katrina.
Đáp: Thưa anh, điểm nổi bật nhất mà tôi
nhận thấy là sự lúng túng của chánh quyền
địa phương, nhất là chánh quyền thành
phố New Orleans. Theo tôi, có nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan cho sự lúng túng nầy. Thứ nhất, bão Katrina đã
bất ngờ đổi hướng vào vùng biển
Lousiana khiến chánh quyền địa phương và
tiểu bang không kịp trở tay. Thứ hai, kế hoạch
khẩn cấp của thành phố New Orleans tỏ ra không thích
hợp, không sẳn sàng để áp dụng, và không
được điều chỉnh đúng mức
để đối phó với mọi tình huống. Thứ ba, không có
một sự phối hợp nhịp nhàng giữa kế
hoạch khẩn cấp địa phương và kế
hoạch khẩn cấp quốc gia; nhất là việc hổ
trợ của chánh quyền liên bang về nhân sự, chuyên
môn, và tiếp liệu (bao gồm nước uống,
thực phẩm, thuốc men, và các thiết bị và
vật dụng cần thiết.) Sau cùng là thiếu sự hợp
tác tích cực của người dân trong vùng thiên tai, nhất là ở một số nơi ngay
trong thành phố New Orleans.