Bão ở Việt Nam (Typhoons in Vietnam)
Như quý thính giả đã biết,
trong mùa bão năm nay, nhiều trận giông bão đã
đổ bộ vào vùng duyên hải Việt Nam và gây
nhiều thiệt hại vật chất cũng như nhân
mạng. Bão Số 6
đổ bộ vào Nghệ An ngày 18 tháng 9. Kế đến là
bão Số 7 đổ bộ vào Thanh Hóa ngày 27 tháng 9. Gần đây nhất, áp thấp
nhiệt đới hình thành ngoài khơi miền Trung trong
các ngày 7 đến 9 tháng 10 đã gây mưa to và lũ
lụt lớn ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng
Trị, và Thừa Thiên. Để tìm hiểu thêm chi tiết về tình hình
giông bão ở Việt Nam,
Phóng viên Đỗ Hiếu đã trao đổi với
Kỹ sư (KS) Nguyễn Minh Quang. Ông là một kỹ sư công chánh
chuyên nghiệp của tiểu bang California
và cũng là một chuyên viên thuộc Hội Khoa học và
Kỹ thuật Việt Nam. Trước năm 1975, KS Quang là một
chuyên viên phục vụ tại Ủy ban Quốc gia
Thủy lợi trực thuộc Bộ Công Chánh và Giao thông
ở Sài Gòn. Ông phụ trách
công tác nghiên cứu và soạn thảo các kế hoạch
phát triển thủy lợi ở miền Nam Việt Nam cũng
như công tác đo đạc thủy học và tiên đoán
lũ lụt ở Đồng bằng
sông Cửu Long. Xin kính mời
quý thính giả theo dõi.
Hỏi: Theo tin của các hãng thông tấn quốc tế, ngày
26 tháng 9, một trận bão có tên là Damrey đã đổ
bộ vào thành phố Vạn Ninh trên đảo Hải Nam
của Trung Hoa với sức gió lên đến 200 km/h
khiến cho hòn đảo nầy bị mất điện
hoàn toàn. Sau khi
tràn qua đảo Hải Nam,
trận bão nầy tiến vào vịnh Bắc Bộ và
đổ bộ vào Việt Nam. Có phải bão Số
7 ở Việt Nam
chính là bão Damrey không, thưa KS?
Đáp: Dạ thưa, đúng như vậy.
Hỏi: Như vậy, tại sao nó lại có tên khác nhau?
Đáp: Trung tâm Bão Tokyo thuộc Cơ quan Khí tượng
Nhật Bản có nhiệm vụ đặt tên cho áp
thấp nhiệt đới (tropical depression) hình thành trong
vùng Tây bắc Thái Bình Dương và biển Đông khi nó
trở thành giông nhiệt đới (tropical storm) có sức
gió trên 62 km/h. Tên
được lấy theo thứ tự trong danh sách
gồm 140 tên do 14 quốc gia thành viên của Ủy ban Bão
thuộc Tổ chức Khí tượng Thế giới (Word
Meteorological Organization (WMO)) cung cấp. Damrey là cơn giông nhiệt
đới thứ 18 được Trung tâm Bão Tokyo
đặt tên, nhưng mỗi quốc gia mà giông nhiệt
đới đi qua có thể đặt tên riêng. Thí dụ, ở Việt Nam, bão
được gọi theo số thứ
tự của giông nhiệt đới hình thành trong vùng
biển Đông; do đó, bão Damrey có tên là bão Số 7. Còn Philippines thì
có danh sách riêng, và bão Damrey được gọi là bão Labuyo.
Hỏi: KS có thể cho biết thêm chi tiết về danh sách
tên bão trong vùng Tây bắc Thái Bình Dương và biển
Đông của Ủy ban Bão mà KS vừa đề cập
không?
Đáp: Danh sách tên bão hiện nay
được áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2000 và
hoàn toàn khác với các danh sách khác trên thế giới. Trong 14 quốc gia thành viên của
Ủy ban Bão; gồm có Kampuchia, Trung Hoa, Bắc Triều
Tiên, Nam Triều Tiên, Hong Kong, Nhật, Lào, Macau, Malaysia,
Micronesia, Philippines, Thái Lan, Hoa Kỳ, và Việt Nam; mỗi
quốc gia cung cấp 10 tên. Hầu hết là tên Á Châu, không những là tên
người mà còn là tên của loài hoa, thú vật, chim chóc,
cây cối, thức ăn, và tĩnh từ. Danh sách không được
xếp theo mẫu tự của tên bão mà
lại xếp theo mẫu tự của tên quốc gia,
với Kampuchia (Cambodia)
đứng đầu và Việt Nam đứng sau cùng. Damrey, tiếng Miên có
nghĩa là con voi, đứng đầu; và Saola, tên một
loài hươu quý ở Việt Nam, đứng cuối
danh sách. Một số tên
tiêu biểu khác như Wukong, Tề thiên của Trung Hoa;
Pongsona, hoa trinh nữ của Bắc Triều Tiên; Kai-tak, phi
trường củ của Hồng Kông; Kujira, cá voi của
Nhật; Namtheun, một con sông của Lào; Parma, thịt heo
xào gan gà và nấm của Macau; Nangka, cây mít của Malaysia;
Mitag, tên phái nữ của Micronesia; Malakas, mạnh của Philippines;
Nabi, con bướm của Nam Triều Tiên; Durian, trái
sầu riêng của Thái Lan; và Vicente, tên phái nam của Hoa
Kỳ.
Hỏi: Còn việc ấn định cấp bão thì sao,
thưa KS?
Đáp: Dạ thưa, Việt Nam dùng thước Beaufort
gồm có 12 cấp để ấn định cấp
bão. Từ
cấp 1 đến cấp 6, sức gió thấp hơn 50
km/h. Cấp 7 có sức
gió 51-62 km/h, cấp 8 có sức gió 63-75 km/h, cấp 9 có
sức gió 76-87 km/h, cấp 10 có sức gió 88-102 km/h, cấp
11 có sức gió 103-117 km/h, và cấp 12 có sức gió trên 117
km/h. Ngày nay, thước
Beaufort thỉnh thoảng được nới thêm 4
cấp để ấn định bão có sức gió trên 117
km/h dựa theo thước Saffir-Simpson
vẫn được dùng để ấn định
cấp bão ở Đại Tây Dương. Cấp 13 có sức gió 118-153 km/h (tương
đương với cấp 1 của thước
Saffir-Simpson), cấp 14 có sức gió 154-177 km/h (tương
đương với cấp 2 của thước
Saffir-Simpson), cấp 15 có sức gió 178-209 km/h (tương
đương với cấp 3 của thước
Saffir-Simpson), và cấp 16 có sức gió 210-249 km/h (tương
đương với cấp 4 của thước
Saffir-Simpson).
Hỏi: Dựa theo tin tức ở trong
nước, bão Số 7 đổ bộ vào Thanh Hóa vào
cuối tháng 9 vừa qua là một trong những trận bão
lớn nhất ở Việt Nam trong vòng 10 năm
qua. So sánh với
những trận bão lớn nầy, mức độ
của bão Số 7 như thế nào?
Đáp: Theo tin tức trong nước thì bão Số 7 là bão
cấp 10-11 trên thước Beaufort với sức gió
giật trên cấp 12, tức trên 117 km/h. Nhưng dựa theo dữ kiện
của Trung tâm Cảnh báo Bão Hỗn hợp (Joint Typhoon
Warning Center) của Hải quân Hoa Kỳ thì Damrey chỉ là
một giông nhiệt đới trên thước Saffir-Simpson
có sức gió dưới 90 km/h khi đổ bộ vào
Việt Nam. Cũng theo dữ
kiện của trung tâm nầy thì, trong vòng 10 năm qua, bão
Zack, là bão cấp 2 trên thước Saffir-Simpson với
sức gió 160 km/h đổ bộ vào miền Trung Việt
Nam ngày 1 tháng 11 năm 1995, là bão lớn nhất ở
Việt Nam. Bão Số 7 năm
nay cũng nhỏ hơn bão Krovanh, tức bão Số 5 ở
Việt Nam, là bão cấp 1 trên thước Saffir-Simpson,
đã đổ bộ vào Quảng Ninh ngày 25 tháng 8 năm
2003 với sức gió trên 144 km/h.
Hỏi: Còn tình hình giông bão ở Việt Nam ra sao, thưa KS?
Đáp: Dựa theo dữ kiện của Trung tâm Cảnh báo
Bão Hỗn hợp của Hải quân Hoa Kỳ, từ năm 1945 cho đến
2004, có tổng cộng 226 cơn giông bão đã đổ
bộ vào Việt Nam gồm có 75 áp thấp nhiệt
đới (có sức gió dưới 62 km/h), 124 giông
nhiệt đới (có sức gió 62-117 km/h), 22 bão cấp 1
(có sức gió 118-152 km/h), và 5 bão cấp 2 (có sức gió 153-176
km/h). Tính trung
bình, Việt Nam
có khoảng 4 trận bão mỗi năm. Trong số nầy, có 81 trận
ở miền Bắc, 140 trận ở miền Trung, và 5
trận ở miền Nam. Bão thường xảy ra vào tháng 8 (12 trận),
tháng 9 (11 trận), tháng 10 và 11 (9 trận mỗi tháng), và
tháng 7 (6 trận). Bão cũng xảy ra vào tháng 12 (4 trận), tháng 6 (3
trận), và tháng 5 (1 trận).
Trận bão lớn nhất Việt Nam là bão Lola,
một trận bão cấp 2 trên thước Saffir-Simpson
(cấp 14 trên thước Beaufort), đổ bộ vào
miền Trung vào ngày 8 tháng 12 năm 1993 với sức gió 168
km/h. Nhưng có
những năm Việt Nam
lại không có giông bão, thí dụ như 1949, 1950, 1958, 1976, và
2002.
Hỏi: Sau trận bão Katrina ở Hoa Kỳ, đã có những
lập luận cho rằng hiện tượng hâm nóng toàn
cầu (global warming) là một yếu tố làm cho bão
xảy ra thường xuyên hơn và có cường
độ càng ngày càng mạnh hơn. Lập luận
nầy có đúng với tình trạng giông bão ở vùng Tây
bắc Thái Bình Dương và biển Đông không?
Đáp: Theo một nghiên cứu dựa trên dữ kiện bão
từ năm 1961 đến 2004 của đài Khảo sát
Hồng Kông (Hong Kong Observatory), một cơ quan công
quyền của Hồng Kông, thì giông bão trong vùng Tây bắc
Thái Bình Dương và biển Đông có những thời
kỳ tỉnh và động tùy theo giao động ngắn
hạn (vài ba năm) và dài hạn (vài mươi năm)
của khí quyển trong vùng Thái Bình Dương. Những giao động ngắn
hạn thì có liên quan đến hiện tượng El Nino
và La Nina, với chu kỳ khoảng 3
năm. Những giao
động dài hạn, với chu kỳ
khoảng 18 năm, thì có liên quan đến giao động
thời tiết ở Thái Bình Dương. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, vùng Tây bắc Thái Bình Dương ở trong
thời kỳ động từ 1961 đến 1974 và
từ 1989 đến 1997, và ở trong thời kỳ tỉnh
từ 1975 đến 1988 và từ 1998 cho đến nay. Tương tự, vùng biển
Đông ở trong thời kỳ động từ 1961
đến 1974 và từ 1990 đến 1996, và ở trong
thời kỳ tỉnh từ 1975 đến 1989 và từ
1997 cho đến nay. Như vậy, lập luận cho rằng hiện
tượng hâm nóng toàn cầu là một yếu tố làm
cho bão xảy ra thường xuyên hơn và có cường
độ mạnh hơn đã không được kiểm
chứng, ít ra là ở trong vùng Tây bắc Thái Bình
Dương.
Hỏi: Còn giông bão ở Việt Nam có theo
một chu kỳ tỉnh động nào không, thưa KS?
Đáp: Dựa theo dữ kiện từ 1945 đến 2004
thì giông bão ở Việt Nam, nói chung, cũng theo một chu
kỳ tỉnh động, nhưng chu kỳ bão ở
Việt Nam thì khác với chu kỳ bão trong vùng Tây bắc
Thái Bình Dương và biển Đông. Từ 1945 đến 1961 là
thời kỳ tỉnh với số trận bão trung bình
hàng năm là 2,8.
Từ 1962 đến 1998 là thời kỳ động
với số trận bão trung bình hàng năm là 4,8. Tất cả 5
trận bão cấp 2 trên thước Saffir-Simpson đổ
bộ vào Việt Nam
(với sức gió 153-176 km/h) đều nằm trong
thời kỳ động nầy. Từ 1999 cho đến nay, bão
ở Việt Nam
trở lại thời kỳ tỉnh với số
trận bão trung bình hàng năm là 2,0.
Hỏi: Có thể nói bão là thiên tai gây
thiệt hại nhiều nhất cho con người từ
trước cho đến nay.
Với bản năng sinh tồn, con
người có tìm cách khống chế bão không, thưa KS?
Đáp: Từ nhiều thập niên qua, các nhà khoa học trên
thế giới đã tìm cách phá hủy các trận bão, hay ít
ra, làm suy yếu khi chúng mới hình thành hoặc đã
trở thành mối đe dọa cho con người. Nhiều phương pháp đã
được nêu ra hoặc thật sự thử
nghiệm như làm mát vùng tâm bão bằng mưa nhân tạo
với silver iodide, làm mát mặt biển bằng tảng
băng (icebergs) hoặc vật liệu hút nhiệt, làm
mất cân bằng phóng xạ của môi trường bão
bằng cách dùng than để hấp thu ánh sáng mặt
trời, phá vỡ bão bằng bom nguyên tử, và dùng quạt
khổng lồ để chận bão đi vào đất
liền. Các thử nghiệm,
thí dụ như dự án StormFury của Cơ quan Quản
trị Đại dương và Khí quyển Hoa Kỳ (National
Oceanic and Atmospheric Administration), đã thất bại vì không
thể lấn áp được nhiệt năng và
động năng vô cùng to lớn của các trận bão, ngay
cả lúc chúng vừa mới hình thành.
BAOVIETNAMVNI.DOC