Ảnh Hưởng
Lên Sức Khoẻ Của Hoá Chất Bảo Vệ Thực
Vật I
Health Effects On Vegetable
Protective Chemicals I
Trong kỹ nghệ thực
phẩm ngày nay trên thế giới, hóa chất không chỉ được
xử dụng trong công nghiệp mà c̣n được đưa
vào nguồn thức ăn thức
uống nữa. Hoá chất đang góp một phần không
nhỏ vào thực phẩm tiêu dùng của con người.
Do đó, con người đă gián tiếp hấp thụ
hóa chất qua thực phẩm, và t́nh trạng sức
khỏe có thể bị ảnh hưởng qua việc
tiếp nhiễm nầy. Tc KH&MT lần nầy trao đổi
với TS MTT về một số vấn đề liên quan đến
việc xử dụng hoá chất bảo vệ thực
vật (BVTV), cũng như ảnh hưởng về lâu
về dài lên sức khỏe con người qua thực
phẩm đă được trồng trọt bằng hoá
chất hay được chế biến có trộn
lẫn hóa chất. Phần tiếp theo
sẽ là một số đề nghị trong việc
giảm thiểu nguy cơ bị tiếp nhiễm qua đường
thực phẩm.
Hỏi 1: Trước hết, xin Ts
MTT cho thính giả của Đài ACTD biết khái lược
về các loại hóa chất BVTV.
Đáp 1: Kính chào Quư thính giả
của Đài ACTD, Thưa Anh. Theo định
nghĩa thuốc BVTV là những hoá chất dùng để
bảo vệ mùa màng, hoa màu. Chúng có thể được
dùng như một yếu tố kích thích tăng trưởng
để cải thiện phẩm chất và tăng
trọng lượng của hoa màu như làm cho thân, lá phát
triển nhanh và to hơn, các hoa quả và rễ cũ
lớn hơn để từ đó năng suất thu hoạch cùng lợi nhuận tăng
nhiều hơn. Và sau hết hoá chất BVTV c̣n được
dùng như một loại thuốc dùng để bảo
quản những loại nông sản và hoa màu để tránh
bị sâu mọt hay hư thúi hoặc giữ cho độ
tươi của rau quả lâu hơn.
Do đó, hóa chất BVTV là
tên gọi chung của tất cả hoá chất dùng trong
việc tẩy trừ côn trùng, sâu bọ, diệt nấm
móc, diệt chuộc, diệt ốc, ngăn chặn vi
khuẩn xâm nhập vào thực phẩm và làm tăng trưởng cân lượng và phẩm chất
của cây trồng.
Hỏi 2: Việt
Đáp 2: Đa số những hóa
chất trên đều bị cấm xử dụng
nhất là trong thực phẩm căn cứ vào công ước
Việt Nam đang xử
dụng hầu hết các hóa chất có những thương
hiệu vừa kể trên, đặc biệt là thuốc
diệt muỗi DDT, hoá chất sau nầy được
Việt Nam dùng như là một chất đệm trong
việc pha chế những loại hoá chất BVTV có đặc
tính khác nhau. Do đó, hàng năm Việt
Hỏi 3: Trong nông phẩn và hoa màu,
ngoài những ảnh hưởng độc hại của
các hoá chất trên, c̣n có nguy cơ hóa chất nào khác xâm
nhập vào thức ăn của con người
hay không, thưa ông?
Đáp 3: Dạ có thưa Anh. Nguyên
nhân ảnh hưởng lên sức khỏe con người
gồm nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nguyên nhân chủ quan
là do con người mang hoá chất vào nguồn thực
phẩm để đạt được một số
mục tiêu như chúng tôi vừa đan cử ở
phần trên. C̣n nguyên nhân khách quan cũng đă
góp phần ảnh hưởng không nhỏ vào việc tác động
lên sức khỏe của con người. Đó là
những tia phóng xạ radon hay uranium trong
thiên nhiên. Trong nguồn nước dùng để tưới
tiêu c̣n có vô số vi khuẩn và siêu vi
khuẩn. Ngoài ra, trong ḷng đất, qua sự hấp
thụ của rễ cây, các kim loại độc hại
như arsenic, thủy ngân, ch́ v.v. .. cũng là một vấn nạn không nhỏ
trong việc nhiễm độc gián tiếp của
thực phẩm.
Nói tóm lại, con người
tiếp xúc với nhiều hoá chất độc hại
tiềm ẩn trong chuổi dây chuyền thực phẩm
qua nguồn nước, không khí, và đất đai.
Hỏi 4: Trong những lần trao đổi
với TS trong thời gian qua, chúng tôi có nghe ông nhắc đến
hóa chát PCBs, đó là một hoá chất độc hại
trong kỹ nghệ, xin ông cho biết nguồn gốc và
ảnh hưởng của chúng lên sức khoẻ như
thế nào?
Đáp 4: Nhu chúng tôi đă phát
biểu nhiều lần là PCBs (số nhiều) có tên là
polychlorinated biphenyls. Đây là một chuỗi
hóa chất được xem như là dioxin-tương đương,
có nhiều nguyên tử chlor ở nhiều vị trí khác
nhau. PCBs trong kỹ nghệ được
dùng như một chất bán dẫn, làm vật cách điện,
chúng ta có thể thấy trên các cột điện ngoài đường
phố. PCBs cũng c̣n được
xử dụng như là một loại dầu làm trơn
trong mộ số máy móc kỹ nghệ. Ở
nhiệt độ cao, PCBs bị phân giải và biến
thành dioxin. Ở Việt
Hỏi 5: Bây giờ, xin đi
thẳng vào vấn đề ảnh hưởng lên
sức khoẻ, xin Ts lần lượct tŕnh bày mức tác
động của hóa chất BVTV như thế nào?
Đáp 5: V́ đây là những
hợp chất hữu cơ có một hay nhiều nhân
benzene chứa chlor hoặc phosphor qua những thương
hiệu khác nhau đă kể trên. Qua hàng trăm công tŕnh
nghiên cứu, kết luận của các nhà khoa học là
những hoá chất trên đă làm thay đổi hệ
thống miễn nhiễm của động vật được
mang ra làm thí nghiệm như chuột, bọ, thỏ
.. . Do đó chúng có nguy cơ bị nhiễm bịnh
nhiều hơn v́ sức đề kháng với vi khuẩn
giảm đi. Các hoá chất trên c̣n làm giảm số lượng
tế bào bạch huyết trong máu, làm cho hệ thống
miễn nhiễm không c̣n khả năng phản ứng và
tiêu diệt vi khuẩn hay siêu vi
khuẩn. Chúng có thể làm thay đổi
sự phát triển của lá lách, cơ quan tạo nguồn
miễn nhiễm chính của cơ thể.
Hiện tại, nghiên
cứu ảnh hưởng của những hoá chất trên
lên con người vẫn c̣n trong ṿng hạn chế. Do đó, nguy cơ tiếp
nhiễm và ảnh hưởng chưa được
thẩm định đúng đắn và có tính thuyết
phục. Các định mức an toàn lên
con người chỉ là những ước tính rủi ro
suy từ kết quả qua việc thử nghiệm lên động
vật. Tuy nhiên, có một kết luận không
thể chối cải là nguy cơ ảnh hưởng lên
hệ thống miễn nhiễm càng tăng cao khi người
bị tiếp nhiễm là trẻ em, trẻ sơ sinh, người
lớn tuổi, và những người bị suy dinh dưởng.
Hỏi 6: C̣n nguy cơ gây ra ung thư của các loại hoá chất BVTV th́
sao, thưa ông?
Đáp 6: Thưa Anh. Dù muốn dù
không, trước tiến tŕnh ṭan cầu hóa và sự phát
triển của công nghệ hoá chất trên ṭan thế
giới, mỗi ngày, con người đang bị tiếp
nhiễm thường trực với nhiều loại hoá
chất BVTV khác nhau qua không khí thở, qua các dư lượng
hoá chất trong nguồn nước, và nhất là qua
nguồn thực phẩm trong sinh hoạt hàng ngày. Do đó,
con người không thể tránh khỏi việc tiếp
nhiễm trên ít hay nhiều tùy theo cách
sống, và vùng sinh sống. Có một điều chắc
chắn là từ khi có cuộc cách mạng công nghiệp hóa
chất cách đây khoảng một thế kỷ, tỷ
lệ người bị bịnh ung thư
tăng dần đến mức độ báo động
ngày hôm nay. Theo ước tính của những nhà dịch
tể học Hoa Kỳ, hiện nay có khoảng một trong
hai người đàn ông, và một trong ba phụ nữ Hoa
Kỳ đang và sẽ mắc bịnh ung thư của
một bộ phận nào đó trong cơ thể của
họ.
Đa số thuốc BVTV đều
có chứa nguyên tố chlor hay được chlor hoá. V́ vậy lượng chlor trong hoá chất sẽ
dễ dàng tạo ra những hợp chất hữu cơ
có chlor trong cơ thể như ở các tế bào mỡ và
sữa mẹ. Chính v́ vậy mà nguy cơ ảnh hưởng
lên sức khoẻ của thai nhi và
trẻ sơ sinh rất cao so với người lớn.
Tiếp theo đó, hóa chất đi vào
gan và thận. Đối với trẻ em, so với tỷ
lệ trọng lượng cơ thể, trẻ em uống
nhiều nước, ăn nhiều
thực phẩm, và thở nhiều hơn người đă
trưởng thành. V́ vậy, nhiều bộ
phận của trẻ em bị ảnh hưởng
trực tiếp và nặng nề nhất là ở hệ
thần kinh, cơ quan sinh sản, và hệ thống
miễn nhiễm. Ba bộ phận
nầy phát triển rất nhanh ở những năm đầu
đời. Do đó, nếu bị tiếp nhiễm
các hoá chất độc hại trong giai đoạn
nầy th́ hậu quả có thể bị mất đi tính
thông minh, tính miễn nhiễm bị giảm thiểu, cùng
nguy cơ ung thư càng có tỷ lệ
cao hơn so với người đă trưởng thành. Và
tỷ lệ tử vong ở những lứa tuổi
nhỏ nầy tăng lên nhiều ở các quốc gia đang
phát triển là điều không thể tránh khỏi, v́ t́nh
trạng dinh dưỡng c̣n thấp kém và môi trường
sống c̣n quá nhiều bất ổn.
Trong kỳ hội luận
tới, chúng tôi sẽ tiếp tục về vấn đề
nầy và nêu lên một số gợi ư trong việc giải
quyết vấn nạn trên.