DÂN CHỦ HÓA VIỆT
TRONG HÒA BÌNH
Kỷ sư Trần Văn Sơn.
Kính thưa Chủ tọa đoàn,
Kính thưa quí anh trong Ban
Điều Khiển chương trình.
Kính thưa tất cả quí vị tham
dự.
Trước hết tôi xin cám ơn anh
Mai Thanh Truyết chủ tịch Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam, anh
Nguyễn Minh Quang, trưởng ban Tổ chức và quí anh trong ban chấp hành
Hội đã có nhã ý mời tôi tham dự Đại Hội hôm nay và thuyết trình
một đề tài về chính trị.
Đề tài tôi sẽ trình bày
hôm nay là “Làm thế nào dể dân chủ hóa Việt
Sáng hôm nay chúng ta chờ
đợi để nghe một số chương trình
phát triển tại Việt
Trong 26 năm qua, nhiều chương
trình phát triển đã được mang ra thi hành, nhưng đất nước về mọi mặt
từ kinh tế đến nếp sống văn hóa và xã hội, giáo dục, y tế vẫn trì
trệ vì đất nước chưa có dân chủ. Đảng CSVN tước mọi quyền hành của
người dân, cai trị bằng vũ lực và
hiến định hóa sự độc quyền lãnh đạo của họ bằng Hiến Pháp. Điều 4
trong Bản Hiến Pháp hiện nay được tu chính lần cuối năm 1992 viết
rằng “đảng CSVN ... là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội
...” . Điều 4 này mặc nhiên đặt tất cả các đảng chính trị khác ra
ngoài vòng pháp luật.
Bản Hiến Pháp Việt Nam có 12 Chương, 147 Điều và
có đầy đủ các dự liệu cho sự sinh hoạt của một quốc gia như chế độ
chính trị, chế độ kinh tế, quan niệm về văn hóa giáo dục, quyền và
nghĩa vụ của người dân, tổ chức chính quyền như nhà nước, quốc hội,
và quyền giám sát qua viện Kiểm Soát Nhân Dân, hiệu lực của hiến
pháp và thể thức tu chính. Muốn tu chính HP cần 2/3 phiếu của tổng số
đại biểu Quốc hội. Bản hiến pháp này tuy không hoàn hảo trong quan
niệm chia xẽ quyền lực giữa Chính phủ, Quốc hội và Viện Kiểm Sát
nhưng vẫn có thể làm căn bản điều hành quốc gia nếu không có Điều 4 nói trên, nó vô hiệu hóa tất
cả các điều khoản khác. Nó cho phép đảng CSVN sai khiến Quốc hội,
sai khiến Chính phủ và Tòa án. Xin lưu ý một điểm: Điều 4 này được
cóp nhặt từ Điều 6 của bản HP Liên bang Xô viết và đưa vào Hiến
Pháp Việt
Vì
vậy, theo thiển ý, muốn đất nước vươn lên, muốn các chương trình phát
triển có hy vọng thành công, phải dân chủ hóa đất nước trước. Ít
nhất đảng CSVN phải từ bỏ sự độc quyền lãnh đạo quốc gia bắt đầu
bằng cách bỏ điều 4 HP.
Nhưng
chúng ta đều biết, người cộng sản không muốn bỏ quyền lãnh đạo. Họ
nói họ cần ổn định để phát triển đất nước. Đất nước cần dân chủ
tập trung (nghĩa là một thứ dân chủ tập trung trong tay đảng cộng
sản) chưa cần dân chủ kiểu tây phương có thể tạo ra hỗn loạn làm
chậm đà phát triển. Họ nói sự phồn thịnh của đất nước sẽ đến theo
thời gian. Theo những thông tin mới nhất, Hội nghị Trung ương đảng CS
vừa bế mạc ngày 13/11 (Hội nghị kỳ 4, Khóa 9) đã thông qua những gì
đảng cần chỉ thị cho Quốc hội về tu chính chúng ta thấy chỉ là những
tu chính bề ngoài để trang điểm cho bản văn. Điều 4 hoàn toàn không
được đá động đến.
Tuy nhiên nhiều cán bộ đảng
viên trung kiên với đảng, nhưng còn một tấm lòng với đất nước như
tướng Trần Độ, các Ông Hoàng Minh Chính ... và một số trí thức trong
chế độ như ông Hà Sĩ Phu, T/S Nguyễn Thanh Giang ... đã nhận thấy cái
làm cho đất nước trì trệ là Điều 4, và nhất loạt đòi hỏi đảng CSVN
hủy bỏ Điều 4. Tiếng nói quả quyết nhất là của tướng Trần Độ, một
đảng viên kỳ cựu nhiều uy tín.
Trong tài liệu : “Một Chiến
Lược Dân Chủ Hóa Để Chống Tham Nhũng” (tháng 4/2000 do Nối Kết phổ biến) ông Trần Độ viết: “Lập ra bộ máy nhà nước để quản lý xã hội thì bộ máy đó
phải có quyền lực. Nhưng mà dân làm chủ thì phải có cơ chế cho dân
giám sát và kiểm soát quyền lực đó ... Thế mà ngược lại Hiến pháp lại ghi ở Điều 4 : ‘Đảng
cộng sản Việt
Và ông kết luận: một khi
đã nắm hết quyền không ai kiểm soát mình thì sinh ra tham nhũng, cho
nên muốn chống tham nhũng thì phải hủy bỏ Điều 4 Hiến Pháp.
Do
áp lực của lý luận sắc bén từ nội bộ, nên trước đại hội 9 (triệu
tập tháng 4/2001), đảng cộng sản đã cho thành lập những buổi tọa
đàm tại Hà Nội nói là để “Chỉnh
đốn để tồn tại và phát triển” có sự tham gia của Ban Tư tưởng –
Văn hóa Trung ương và Hội đồng Lý luận Trung ương và một số nhà lý
luận cũng thuộc nội bộ đảng từ miền Nam ra như ông Trần Khuê và bà
Nguyễn Thị Thanh Xuân. Và một lần
nữa họ đã công khai nhìn nhận rằng muốn giải quyết bế tắc
của đất nước không có một con đường nào khác hơn là cất bỏ Điều 4
Hiến Pháp. Trong một thư gởi tân tổng bí thư Nông Đức Mạnh ông Trần
Khuê và bà Nguyễn Thị Thanh Xuân mạnh dạn đề nghị xóa bỏ Điều 4
Hiến Pháp. Ông Khuê và bà Thanh Xuân viết:
“Đây không phải là điều mới lạ, sáng tạo
gì của chúng ta. Chẳng qua là sao chép từ Điều 6 của Hiến pháp Liên
Xô từ năm 1980.... Điều 4 đã đặt đảng CSVN vào vị thế siêu quyền
lực, siêu pháp luật, không chịu bất cứ sự giám sát nào kể cả cơ
quan quyền lực cao nhất của đất nước là Quốc hội. Nói khác đi, Đảng
không chịu sự kiểm soát của Nhân Dân mà đang ngồi trên đầu trên cổ
Nhân Dân.... Điều 4 ở Hiến pháp Việt Nam đã tạo điều kiện pháp lý
cho những đảng viên tồi tệ có thể lộng hành, lộng quyền một cách
không giới hạn. Không thể chống được bọn cửa quyền, tham nhũng cũng
chính là do Điều 4 này.(Đối
Thoại 2001 Tập 1,2,3,4 và 5 của Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân)
Trong
những năm gần đây chúng ta cũng đã thấy hầu hết các nhà đấu tranh
cho dân chủ, nhân quyền và tự do tín ngưỡng như Hòa thượng Thích
Huyền Quang, Linh mục Nguyễn Văn Lý,
cụ Lê Quang Liêm, B/S Nguyễn Đan Quế và một số tổ chức chính
trị đều đi đến một nhận định chung là bế tắc đất nước phát sinh từ
cơ chế chính trị của chính quyền cộng sản nên đã đồng thanh lên tiếng
đòi hỏi thay đổi cơ chế này để khai thông bế tắc. Trên hết và
trước hết là Điều 4 của bản Hiến Pháp giao trọn quyền lãnh đạo
quốc gia cho đảng Cộng Sản Việt
Những điều vừa trình bày ở
trên cho thấy lúc này ít nhất người Việt ở hai bên chiến tuyến đã
có một đồng thuận là “hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp” là một lối thoát
chính trị cho đất nước.
Nhưng đồng thuận trong quan
niệm mà chưa có sức mạnh trong thực tế. Gần 3 thập niên, 2 triệu
người Việt sống ở hải ngoại với phương tiện và nhân lực dồi dào
kiên trì đấu tranh để tái lập chế độ dân chủ tại Việt Nam vẫn chưa
mang lại một kết quả nào khích lệ. Chúng ta không tạo nổi một áp
lực chính trị gì đáng kể lên đảng cộng sản Việt
Từ năm 1990 sau khi khối Liên
xô và Đông Âu sụp đổ thế cân bằng quyền lực giữa hai khối tự do
và cộng sản độc tài thay đổi một cách căn bản là thời điểm thuận
lợi nhất để cộng đồng người Việt hải ngoại phát huy sáng kiến đề
ra những sách lược đấu tranh có tính dài hạn, thì rất tiếc chúng ta
vẫn dồn mọi năng lực vào những cuộc đấu tranh ngắn hạn (như chống
gởi tiền về cho thân nhân ở Việt Nam, chống về thăm nhà, chống bỏ
cấm vận, chống Hoa kỳ thiết lập bang giao ... ) để rồi thất vọng hụt
hững khi các biến chuyển chung quanh cứ vượt qua chúng ta.
Đã đến lúc chúng ta cần có
một chương trình chính trị đường dài làm mũi nhọn xuyên phá thành trì
của độc tài. Chương trình mũi nhọn phải có ít nhất ba đặc tính căn
bản:
(1)
Không
lỗi thời bởi thời gian,
(2)
Có
tính hợp lý để có thể thuyết phục các quốc gia và các lực lượng dân chủ trên thế giới, và
(3)
Có
tính thuyết phục mọi thành phần dân tộc, không phân biệt chiến
tuyến.
Chương trình đó là: “Vận
động áp lực đảng CSVN hủy bỏ điều Hiến Pháp”
Một vấn đề có tính cách qui luật là ở
vào một thời điểm nào đó trong tương lai, điều 4 và sau đó bản Hiến
Pháp hiện nay cũng sẽ được hủy bỏ, như đã xẩy ra tại các nước Đông
Âu và Liên bang Xô viết. Nếu sự hủy bỏ được thực hiện bằng bạo
lực do sức mạnh của nhân dân thì
điều này không có lợi gì cho đảng cộng sản mà chỉ mang thêm tang tóc
và bất ổn cho xứ sở. Nếu họ tự ý cất bỏ điều 4 bằng cách tu chính
Hiến Pháp qua quốc hội do họ kiểm soát thì họ có mọi lợi thế trong
cuộc tranh chấp chính trị sau đó. Họ là một đảng chính trị lớn, có
nhiều khả năng tài chánh đã tích lủy từ lâu và đang nắm bộ máy
hành chánh trong tay.
Các lợi điểm trên cũng chính là điểm các
tổ chức chính trị hải ngoại lo
ngại. Lo ngại rằng đảng cộng sản sẽ tổ chức gian lận bầu cử để
hợp pháp hóa sự cầm quyền của họ trước cộng đồng quốc tế.
Mặc dù sự lo ngại trên có
căn bản chúng ta cũng có thể hình dung được một tiến tiến trình
chuyển hóa tâm lý thuận lợi trong quần chúng có thể dẫn đến
dân chủ trong hòa bình: Tâm lý đó là: Nếu Điều 4 được hủy bỏ đảng
CSVN mất căn bản pháp lý độc tôn lãnh đạo quốc gia. Nếu đảng cộng
sản chiếm đa số trong một cuộc bầu cử toàn quốc trong thời gian đầu
họ cũng phải chia quyền lãnh đạo quốc gia với các tổ chức chính trị
khác. Và qua thời gian các đảng phái chính trị có thêm kinh nghiệm, ý
thức dân chủ của quần chúng càng cao, qua ngôn luận tự do, qua tư
pháp độc lập (dù còn bị giới hạn) đảng cộng sản sẽ không thể gian
lận để mãi mãi để cầm quyền. Sự gian lận lộ liễu sẽ không tránh
được phản ứng của quần chúng và chế độ độc tài sẽ bị lật đổ như
chúng ta đã thấy trường hợp Marcos ở Phi Luật Tân năm 1986 và trường
hợp Milosevic ở
Nếu đảng cộng sản Việt
Thí dụ về cuộc đảo chánh
bất thành tháng 8 năm 1991 tại Liên bang Xô viết có thể là một câu
trả lời. Tại Liên bang Xô viết, cuối thập niên 1980, sau 5 năm áp
dụng chính sách glasnost và perestroika, Liên bang tiến dần
đến một xã hội cởi mở hơn dưới
sự cầm quyền của đảng cộng sản Xô viết. Mikhail Gorbachev làm chủ
tịch Liên bang. Boris Yeltsin, một phụ tá của Gorbachev đắc cử tổng
thống Nga qua một cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên trong lịch sử Nga.
Nước Nga là nước lớn nhất trong 15 nước họp thành Liên bang Xô viết.
Boris Yeltsin định dùng uy tín quần chúng áp lực Gorbachev thực hiện
nhanh chóng cuộc cải tổ kinh tế và chính trị cho cả Liên bang làm cho
các thành phần bảo thủ đang nắm các chức vụ then chốt trong chính
quyền Liên bang hoảng sợ, đưa đến cuộc cuộc đảo chánh tháng 8 năm
1991. Các tướng lãnh đảo chánh điều động hai đơn vị thiết giáp về
Mạc Tư Khoa uy hiếp tòa nhà quốc hội của nước Nga nơi Yeltsin làm
việc. Năm mươi nghìn (50.000) người dân Mạc Tư Khoa rầm rộ xuống đường
chận các đơn vị thiết giáp đang tiến vào thủ đô và mắng nhiếc các
sĩ quan và binh sĩ thiết giáp không chút sợ hãi. Trước không khí phấn
khởi của quần chúng Boris Yeltsin bạo dạn leo lên một chiếc xe thiết
giáp trước họng súng đọc một bản tuyên bố cuộc đảo chánh bất hợp
pháp và kết án những ai tham gia đảo chánh là phản loạn. Vị sĩ quan
thủ trưởng một trong hai đội thiết
giáp nhận định được lẽ phải đã bố trí thiết giáp theo đội hình bảo
vệ tòa nhà quốc hội của Yeltsin. Đội thiết giáp thứ hai chọn thái
độ trung lập bố trí ra xa tòa nhà quốc hội. Cuộc đảo chánh sụp đổ.
Sau đó Gorbachev ra lệnh giải tán đảng Cộng sản Liên bang. Chế độ
độc tài đảng trị tại Liên bang Xô viết chấm dứt sau 70 năm ngự trị.
Cuộc đảo chánh tái lập chế độ độc tài thất bại nhờ Điều 6 đã
được hủy bỏ và dân chúng đã bớt sợ hải. Tiên đoán hiện tượng này
nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã viết trong tập Hỏa Lò của ông mới
xuất bản: “khi nỗi sợ của dân giảm, bạo lực không còn hiệu quả” (Nguyễn Chí Thiện, tập truyện Hỏa Lò,
2001 trong chuyện ngắn viết về Phùng Cung)
Theo dõi quá trình dân chủ
hóa của khối Liên xô trong thời gian từ 1988 cho đến năm 1992 chúng
ta thấy tại quốc gia nào cũng có một phiên họp quốc hội hủy bỏ
điều khoản cho phép đảng cộng sản nắm toàn quyền (như điều 4 của bản Hiến Pháp Việt Nam) trước
khi bước qua ngưỡng cửa dân chủ. Kinh nghiệm của các quốc gia Đông
Âu và Liên xô cho thấy sau khi tu chính các đảng cộng sản liên hệ
vẫn còn cầm quyền (như một nhu cầu
liên tục hành chánh và ổn định) như đảng đa số nhưng các đảng
phái chính trị khác có căn bản luật pháp tham gia sinh hoạt chính trị
quốc gia, và sau cùng dân chủ đã đến một cách hòa bình. Quân đội
từng ở dưới quyền lãnh đạo của các đảng cộng sản đã không đứng
về phe với đảng, trái lại đã đứng về phía nhân dân. Tiến trình dân
chủ hóa nhanh hay chậm, êm thắm hay hỗn loạn tùy thuộc vào các yếu
tố khác như dân trí, khả năng của người lãnh đạo, ảnh hưởng của
các khối tôn giáo và dân tộc tính của từng quốc gia. Nhanh như Ba
Lan, Tiệp Khắc, vừa phải như Hung Gia Lợi và chậm như Bảo Gia Lợi,
Liên bang Nga, nhưng cuối cùng dân chủ đã đến.
Khả năng và biện pháp nào
để dân chủ hóa Việt
Nếu cộng đồng Việt
Cuộc vận động Bỏ điều 4 HP
trong và ngoài nước cần được tiến hành trong tinh thần nào? Cuộc
“Vận Động Bỏ 4” cần được đặt trên một căn bản chính trị công bình
trong tinh thần đấu tranh cho dân chủ bằng đối thoại vì quyền lợi lâu
dài của dân tộc chứ không phải là một cuộc đấu tranh để tiêu diệt
ai. Các đảng phái chính trị bất kể khuynh hướng nào đều có quyền tồn tại trên đất nước Việt
Và đó là một chương trình
chính trị để “Dân chủ hóa Việt
Cám ơn quí vị
Trần Văn Sơn
Hiến Pháp của nước Việt