
|
Đại Cương Về Xâm
Nhập Nước Mặn tại DBSCL. |
Quang M. Nguyen, P.E.
Mục Lục:
Tóm Lược Tiếng Anh:
Saltwater intrusion is one of the most important
factors affecting the development of the Mekong Delta. Recently, limited data
and information indicate that saltwater is intruding into the Mekong River at
an alarming rate. For example, the chloride concentration at My Tho, where
freshwater had been found all year round, was measured at 5.3 grams per liter
(g/l) or parts per thousand (ppt) at the beginning of April 1999 and the trend
is toward an increase by the end of the month. This concentration exceeds the
standard of 2.0 g/l for drinking water in developing countries, 0.14 g/l for
surface irrigation water, and 3.0 g/l for livestock consumption. Saline water,
which was reported to intrude 50 km inland in 1995, extended as far as 70 km in
1999, the worst in recorded history. Actual magnitude and extent of saltwater
intrusion in the Mekong River may be larger if appropriate data and information
can be obtained.
Saltwater intrusion in rivers is a natural
phenomenon as a result of the difference in density between freshwater and
saltwater. Human activities, however, may exaggerate saltwater intrusion and
cause potential adverse impacts. Saltwater moves upstream along the river
bottom in the form of a wedge with the leading edge or toe pointing inland.
Saltwater intrusion is affected by factors such as the river flow and duration,
elevation of thalweg, slope of river channel, tidal magnitude, wind velocity
and direction, and water temperature. The dominant factor is the river flow.
The most undesirable characteristic of saltwater intrusion is that it is easy
to intrude but difficult to retreat.
Topographic and climatic conditions of the Mekong
Delta are favorable for saltwater intrusion; therefore, saltwater can easily
intrude into the Mekong River when low flows occur for a long duration. Low
flows may be caused by prolonged droughts and/or water resources projects for
irrigation, water supply, and inter-basin diversion. Direct potential impacts
including loss of sole source of water for domestic use and irrigation,
destruction of crops and fruit trees, and reduction of fishery production may
be severe for areas along the river. More importantly, these potential impacts
may spread into larger areas in the Mekong Delta connected to affected reaches
by canals. In the long term, saltwater intrusion may destroy the Mekong Delta
ecosystem and become an obstacle for the development of the entire region. For
those reasons, potential impacts on saltwater intrusion of the water resource
projects in the Mekong River basin, including the projects located within the
Mekong Delta, should be evaluated and mitigated properly and adequately.
ĐẠI CƯƠNG VỀ SỰ XÂM
NHẬP CỦA NƯỚC MẶN TRONG SÔNG CỬU LONG
Nguyen Minh Quang
Tháng 6 năm 1999
hơn ở sát đáy sông.
Sự
xâm nhập của nước mặn trong sông ngòi là một hiện tượng tự nhiên
do sự khác biệt về tỉ trọng giưa nước ngọt và nước mặn. Hiện tượng
nầy chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lưu lượng và thời lượng Sự
xâm nhập của nước mặn là một trong nhưng yếu tố quan trọng có ảnh
hưởng đến việc khai thác và phát triển đồng bằng sông Cửu Long. Dư
kiện đo đạc gần đây, tuy không đầy đủ, đa cho thấy sự nghiêm trọng
của vấn đề. Thí dụ như tại My Tho, nơi mà trước đây có nước ngọt
quanh năm, độ mặn trong sông Tiền đa lên đến 5.3 gam trong một lít
(g/l) vào tháng 4 năm 1999. Độ mặn nầy vượt quá tiêu chuẩn 2.0 g/l
cho nước gia dụng ở các nước đang phát triển, 0.36 g/l cho nước trồng
trọt, và 3.0 g/l cho nước chăn nuôi. Nước mặn đa tiến sâu vào sông
Cửu Long đến 70 km, một hiện tượng chưa từng thấy trong lịch sử. Vấn
đề có thể nghiêm trọng hơn nếu dư kiện được đo đạc một cách đầy đủ
và đúng cách, bởi vì nước mặn tiến vào sâu của nước sông, cao độ
của đáy sông so với mặt nước biển, độ dốc của lòng sông, biên độ
thủy triều, vận tốc và chiều gió, và nhiệt độ của nước; trong đó,
lưu lượng và thời lượng của nước sông là yếu tố quyết định. Tuy
nhiên, hoạt động của con người có thể làm gia tăng sự xâm nhập của
nước mặn và gây nhiều ảnh hưởng tai hại. Sự xâm nhập của nước mặn
có một đặc tính hết sức bất lợi: tiến vào thì dể nhưng khó lui ra.
Các
yếu tố thiên nhiên về đa thế và khí hậu của vùng đồng bằng sông
Cửu Long đều thuận lợi cho sự xâm nhập của nước mặn; cho nên, nước
mặn se xâm nhập một cách de dàng nếu không có đủ lưu lượng và thời
lượng của nước sông. Lưu lượng thấp và kéo dài có thể do hạn hán,
nhưng cung có thể do các dự án thủy nông, cấp thủy, và rẻ nước ra
khỏi lưu vực ở thượng lưu. Hậu quả tai hại trực tiếp cho vùng ven
sông Cửu Long là mất đi nguồn nước gia dụng và trồng trọt duy nhất,
hoa màu và cây ăn trái bị hủy hoại; và trầm trọng hơn, các hậu quả
tai hại nầy có thể lan rộng đến các vùng rộng lớn khác trong đồng
bằng sông Cửu Long qua hệ thống kinh đào. Về lâu về dài, nó se là
một trở ngại lớn lao cho việc khai thác và phát triển toàn thể vùng
đồng bằng sông Cửu Long. Chính vì lý do đó, ảnh hưởng của các dự án
thủy lợi trong toàn lưu vực sông Cửu Long, kể cả các dự án nằm
trong vùng đồng bằng, lên sự xâm nhập của nước mặn cần phải được
lượng định và giảm thiểu một cách thich đáng và đầy đủ.
Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một vùng đồng bằng thấp và phăúng
được cấu tạo bằng phù sa của sông Cửu Long. Ngoại trừ đất giồng ven
bờ sông hoăëc đất gò tương đối cao ráo, phần lớn ĐBSCL là vùng đất
thấp với cao độ không quá 1 m ở ven biển. Vùng phía bắc ĐBSCL thể cao
hơn, nhưng cung không quá 2 m. Nhiều nơi trong vùng ĐBSCL như Đồng Tháp
Mười, mặt đất thấp hơn mặt nước biển trung bình. Độ dốc trung bình của
vùng ĐBSCL khoảng 1 phần trăm. Hệ thống kinh rạch chằng chịt ở ĐBSCL,
ngoài vai trò quan trọng cho việc giao thông vận tải, còn là nhưng
đường dan và thoát nước trong mùa khô lan mùa nước. Sông Cửu Long và
hệ thống kinh rạch nầy còn là nhưng lòng lạch mà nước mặn từ Biển
Đông và Vịnh Thái Lan có thể xâm nhập một cách de dàng vào ĐBSCL.
Sự xâm nhập của nước mặn, do đó, là một yếu tố rất quan trọng có
ảnh hưởng to lớn đến việc khai thác và phát triển ĐBSCL. Thế nào là
nước mặn và ảnh hưởng của nó ra sao? Tại sao nước mặn có thể xâm
nhập vào sông Cửu Long và hệ thống kinh rạch ở ĐBSCL? Hiện trạng
của sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long như thế nào? Và
tại sao sự xâm nhập của nước mặn lại là một yếu tố quan trọng có
ảnh hưởng to lớn đến việc khai thác và phát triển ĐBSCL? Bài viết
nầy nhằm mục đích trả lời một cách đại cương nhưng câu hỏi vừa nêu
và trình bày một số ý kiến về một giải pháp cho sự xâm nhập của
nước mặn trong sông Cửu Long.
ĐỘ MẶN CỦA NƯỚC VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN
Nước
có vị mặn là do sự hiện diện của muối (chloride) hòa tan trong nước.
Độ mặn của nước được định nghĩa là số lượng muối trong nước, có đơn
vị là gram trên lít (g/l) hay phần ngàn (ppt). Thông thường, nước biển
có độ mặn khoảng 19 g/l, chiếm khoảng 55 phần trăm tổng số khoáng
chất. Độ mặn trong nước sông có thể thay đổi từ vài milligram trên
lít (mg/l) trong các sông ở vùng ẩm ướt cho đến vài trăm mg/l trong
các sông ở vùng khô khan [1], cho nên được gọi là "nước
ngọt."
Muối
là một trong nhưng khoáng chất làm tăng thêm vị của nước; tuy nhiên,
độ mặn không được vượt quá tiêu chuẩn. Ở các quốc gia tân tiến,
tiêu chuẩn cho độ mặn trong nước gia dụng thường được ấn định là 0.25
g/l [2]. Ở nhiều nơi trên thế giới, tiêu chuẩn nầy có thể lên đến
2.0 g/l [3]. Uống nước có độ mặn cao thì không ngon miệng và khó chịu
nhưng không có hại cho sức khỏe. Xài nước có độ mặn cao thì tốn kém
hơn, mà thí dụ điển hình là... hao xà bông!!!
Muối
cung là một trong nhưng khoáng chất cần thiết cho sự phát triển của
cây cối. Một trong nhưng nguồn muối cho cây cối là độ mặn của nước
trồng trọt. Nhưng độ mặn trong nước quá cao có thể gây nguy hại cho
cây cối. Kết quả nghiên cứu từ trước đến nay cho thấy cây cối se
không bị ảnh hưởng nếu độ mặn trong nước trồng trọt ở dưới mức 0.14
g/l. Tùy theo mức chịu đựng của từng loại cây cối, ảnh hưởng trên
sự phát triển và năng suất của cây cối se tăng từ nhẹ đến trung bình
nếu độ mặn của nước trồng trọt trong khoảng từ 0.14 cho đến 0.36 g/l.
Cây cối se bị ảnh hưởng nặng nề và có thể bị chết nếu độ mặn của
nước trồng trọt vượt quá 0.36 g/l [4].
Nước
có độ mặn cao cung ảnh hưởng đến gia súc và cá nước ngọt. Gia súc
chỉ bị ảnh hưởng nhẹ nếu uống nước có độ mặn trên 1.5 g/l trong một
thời gian dài. Ảnh hưởng trên gia súc se rất trầm trọng nếu độ mặn
cao hơn 3.0 g/l [5]. Tất cả các loại cá nước ngọt có khả năng chịu
được một độ mặn khá cao, nhưng cung không quá 15.0 g/l [6,7].
SỰ XÂM NHẬP CỦA NƯỚC MẶN
TRONG SÔNG NGÒI
Sự
xâm nhập của nước mặn trong sông ngòi là một hiện tượng tự nhiên
trong các con sông mà cao độ của đáy sông thấp hơn mặt nước biển.
Hiện tượng nầy xay ra do sự khác biệt về tỉ trọng của nước mặn
(khoảng 1.03) và nước ngọt (khoảng 1.00). Ngoài ra, sự xâm nhập của
nước mặn trong sông ngòi còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác
như lưu lượng và thời lượng của sông, độ dốc của lòng sông, biên
độ thủy triều, vận tốc và chiều gió, và nhiệt độ của nước; trong
đó, lưu lượng và thời lượng của con sông là yếu tố quyết định [8,9].
Trong
các sông có lưu lượng cao và kéo dài trong một thời gian dài, nước
mặn ở ngoài biển bị khối lượng nước ngọt chảy từ trong sông ngăn
chận không cho xâm nhập vào lòng sông. Hơn thế nưa, nếu khối lượng
của nước sông đủ lớn, nước ngọt se đẩy nước mặn lùi ra khỏi cửa
sông. Ngược lại, nếu sông có lưu lượng thấp mà kéo dài trong một
thời gian dài, thì khối lượng nước ngọt trong sông không đủ sức để
ngăn chận sự xâm nhập của nước mặn từ biển. Vị nước sông
"ngọt" nên nhẹ hơn nước mặn và nổi bên trên nước mặn. Còn
nước mặn có tỉ trọng cao nên nặng hơn và tiến vào nội địa ở sát
đáy sông dưới lớp nước ngọt. Trên lý thuyết, sự xâm nhập của nước
mặn vào sông ngòi có hình chiếc nêm với mủi nêm ở sát đáy sông
và hướng vào đất liền với một vùng nước lợ phân cách giưa nước
ngọt và nước mặn (Hình 1). Tuy nhiên, hình dạng của chiếc nêm có thể
thay đổi do sự kết hợp của các yếu tố kể trên. Và nếu sông không
còn lưu lượng thì nước mặn se xâm nhập một cách tự do vào lòng sông
cho đến một điểm mà cao độ của đáy sông bằng với mặt nước biển.
Ngoài các đặc tính vừa nêu, sự xâm nhập của nước mặn trong sông
ngòi còn có một đặc tính hết sức bất lợi: tiến vào thì de nhưng khó
lui ra. Cho nên, ngăn chận sự xâm nhập của nước mặn có vẻ de hơn và
hợp lý hơn là "đẩy lui" sự nhiểm mặn.

Mặc
dù sự xâm nhập của nước mặn trong sông ngòi là một hiện tượng tự
nhiên và chịu ảnh hưởng của các yếu tố thiên nhiên về đa thế, khí
hậu, và thủy học, nhưng hoạt động của con người có thể làm thay đổi
các yếu tố đó, chẳng hạn như yếu tố địa thế và thủy học. Con người
có thể nới rộng bề ngang và đào sâu lòng lạch của sông cho việc
giao thông vận tải. Các dự án thủy lợi trong lưu vực của sông (thủy
điện, thủy nông, dự án rẻ nước, v.v.) có thể làm thay đổi cơ chế
thủy học, kể cả lưu lượng và thời lượng của sông. Tất cả nhưng
hoạt động nầy đều có khuynh hướng thúc đẩy sự xâm nhập của nước
mặn và có thể gây nhiều ảnh hưởng tai hại.

SỰ XÂM NHẬP CỦA NƯỚC MẶN
TRONG SÔNG CỬU LONG
Sông
Cửu Long và các sông khác trong vùng ĐBSCL có tất cả các yếu tố
thuận lợi cho sự xâm nhập của nước mặn: đáy sông thấp hơn mặt nước
biển, độ dốc lòng sông rất bằng phẳng, biên độ thủy triều cao
(khoảng 3 m ở Biển Đông), và gió chướng thổi từ biển vào đất liền
trong mùa khô. Vì sông Cửu Long có một lưu lượng tự nhiên cao trong
một thời gian dài, nhất là trong mùa nước nổi; cho nên, sự xâm nhập
của nước mặn trong sông Cửu Long ngày trước chỉ giới hạn ở vùng cửa
sông và không tạo nên một vấn đề nghiêm trọng cho vùng ĐBSCL vào
thời điểm đó.
Ngày
nay, sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long là một trong nhưng
yếu tố tối quan trọng có ảnh hưởng đến việc khai thác và phát
triển ĐBSCL. Dư kiện đo đạc gần đây, tuy không đầy đủ, đa cho thấy sự
nghiêm trọng của vấn đề. Thí dụ như tại My Tho, nơi mà trước đây có
nước ngọt quanh năm, độ mặn trong sông Tiền đa lên đến 5.3 g/l vào
đầu tháng 4 năm 1999 và còn có thể lên cao hơn [10]. Độ mặn nầy
vượt quá tiêu chuẩn 2.0 g/l cho nước gia dụng ở các nước đang phát
triển, 0.36 g/l cho nước trồng trọt, và 3.0 g/l cho nước chăn nuôi.
Nước mặn đang xâm nhập sâu vào sông Cửu Long, nhất là trong mấy năm
vừa qua. Thật vậy, trong năm 1995, nước mặn được báo cáo đa tiến sâu
vào sông Cửu Long 50 km [11]; nhưng đến năm 1999, nước mặn đa tiến sâu
đến 70 km, một hiện tượng chưa từng thấy trong lịch sử. Vấn đề có
thể nghiêm trọng hơn nếu dư kiện được đo đạc một cách đầy đủ và
đúng cách, bởi vì nước mặn tiến vào sâu hơn ở sát đáy sông. Việc một
ngư dân ở Sa Đéc câu được một con cá đuối, một loài cá nước mặn
sống rất sâu dưới mặt biển, có thể nói lên tầm mức nghiêm trọng
đó vì Sa Đéc ở cách biển khoảng 120 km.
Lý do
chính của sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long hiện nay là
vì sông không còn đủ lưu lượng và thời lượng như trước đây, nhất là
trong mùa khô. Lưu lượng thấp kéo dài trong một thời gian có thể do
hạn hán; nhưng cung có thể do các dự án thủy điện, thủy nông, cấp
thủy, và re nước ra khỏi lưu vực ở thượng lưu và cung có thể do các
dự án thủy lợi nằm ngay trong vùng ĐBSCL. Nguyên nhân gây nên sự
sụt giảm lưu lượng của sông Cửu Long chỉ có thể được nhận diện qua
một cuộc nghiên cứu toàn diện với đầy đủ dư kiện về khí tượng,
thủy học, và sự xây cất cung như điều hành tất cả dự án thủy lợi
trong toàn lưu vực sông Cửu Long, từ thượng nguồn cho đến cửa sông
bao gồm tất cả các phụ lưu.
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ XÂM NHẬP
CỦA NƯỚC MẶN LÊN VÙNG ĐBSCL
Theo
kinh nghiệm của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, ĐBSCL là một cuộc đất
lý tưởng để định cư. Lý tưởng là vì ĐBSCL là đất phù sa (không có
sỏi đá) và bằng phẳng với sông Cửu Long có nước chảy quanh năm để
giao thông được thuận lợi và tránh bệnh sốt rét, có nước để uống,
và quan trọng hơn hết là có nước để canh tác. Cho nên, nếu sông Cửu
Long bị nước mặn xâm nhập thì hậu quả tai hại trực tiếp là vùng ven
sông Cửu Long se mất đi nguồn nước gia dụng và trồng trọt duy nhất.
Một vùng đất rộng lớn se không có nước để trồng trọt trong mùa
khô, hoặc nếu có trồng trọt được thì năng suất cung bị giảm đi. Ở
vùng cửa sông, nơi mà độ mặn có thể lên rất cao, hoa màu và cây
ăn trái có thể bị hủy hoại và ngành ngư nghiệp có thể bị ảnh hưởng
trầm trọng.
Tai
hại hơn, các hậu quả kể trên có thể lan rộng đến các vùng ở xa
sông Cửu Long qua hệ thống kinh đào chằng chịt trong vùng ĐBSCL. Và
một khi nước mặn đa xâm nhập vào hệ thống kinh rạch nầy, thì ảnh
hưởng tai hại của nó se kéo dài cho đến khi tất cả nước mặn nầy
được "rửa sạch." Về lâu về dài, nó se là một trở ngại
lớn lao cho việc khai thác và phát triển toàn thể vùng ĐBSCL.
Ngoài
các ảnh hưởng trực tiếp có thể thấy được như vừa kể, sự xâm nhập
của nước mặn trong sông Cửu Long có thể có nhưng ảnh hưởng gián
tiếp, đặc biệt là trên phương diện môi sinh. Hệ thống sinh thái của
sông Cửu Long và vùng ĐBSCL ở nhưng nơi bị nước mặn xâm nhập có thể
bị xáo trộn và mất cân bằng mà các ảnh hưởng của nó chỉ có thể
nhận thấy được sau khi nó đa tác động và thay đổi hệ thống sinh
thái.
GIẢI PHÁP CHO SỰ XÂM NHẬP
CỦA NƯỚC MẶN TRONG SÔNG CỬU LONG
Nguyên
nhân của sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long hiện nay rất
đơn giản và de hiểu: sông không còn đủ nước như trước để đẩy lùi
nước mặn ra biển trong mùa nước và ngăn chận nước mặn tiến vào
trong mùa khô. Sự sụt giảm lưu lượng nầy có thể do hạn hán, nhưng
cung có thể do các dự án thủy lợi ở thượng lưu và ở ngay trong vùng
ĐBSCL; nói cách khác, sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long
là một vấn đề của toàn lưu vực. Do đó, muốn có một giải pháp thỏa
đáng và lâu dài cho vấn đề thì không đơn giản và de dàng chút nào,
vì giải pháp nầy cung phải có tính cách toàn lưu vực. Giải pháp lại
càng phức tạp và khó khăn hơn không nhưng do yếu tố thiên nhiên đặc
thù của sông Cửu Long và vùng ĐBSCL mà còn do tính cách quốc tế với
sự liên hệ của nhiều quốc gia với nhưng quyền lợi đôi khi xung khắc
lan nhau.
Chính
vì lý do đó, một sự hợp tác quốc tế trong tinh thần tự do, bình
đẳng, cởi mở, và tôn trọng quyền lợi của nhau là một điều kiện
cần thiết để có một giải pháp thỏa đáng và lâu dài cho sự xâm
nhập của nước mặn trong sông Cửu Long. Tất cả các dự án thủy lợi
trong toàn lưu vực sông Cửu Long cần phải được soạn thảo bởi các
quốc gia duyên hà và đệ trình lên một cơ quan hợp tác quốc tế, thí
dụ như Ủy Ban Quốc Tế Mekong, để cơ quan nầy đúc kết thành một kế
hoạch tổng thể cho việc khai thác và phát triển toàn lưu vực sông
Mekong. Kế hoạch nầy cần phải được lượng định đúng theo mẩu mực quốc
tế hiện hành, dựa trên nhưng tiêu chuẩn được thỏa thuận trước giưa
các quốc gia thành viên, và không phân biệt ranh giới quốc gia. Một
trong nhưng vấn đề quan trọng cần lượng định là ảnh hưởng của kế
hoạch tổng thể lên sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long và
vùng ĐBSCL. Nếu các dự án thủy lợi của kế hoạch tổng thể có ảnh
hưởng tai hại lên sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long và
vùng ĐBSCL, các ảnh hưởng nầy cần phải được lượng giá một cách
thích đáng và đầy đủ, và kế hoạch tổng thể phải có nhưng giải pháp
thỏa đáng để giảm thiểu hoặc đền bù nhưng ảnh hưởng tai hại nầy.
Sau cùng, mọi dự án trong kế hoạch tổng thể, dù lớn hay nhỏ, chỉ có
thể được khởi công sau khi kế hoạch tổng thể được tất cả các quốc
gia liên hệ phê chuẩn.
Trong
phạm vi quốc gia, một kế hoạch khai thác và phát triển lưu vực sông
Cửu Long ở Cao Nguyên và vùng ĐBSCL cần được soạn thảo để đệ trình
lên cơ quan hợp tác quốc tế và làm nền tảng trong việc thương thảo
với các quốc gia thành viên của tổ chức quốc tế nầy. Kế hoạch
phải toàn diện, thực tế, linh động, và uyển chuyển để có thể đối
phó với mọi tình huống của kế hoạch tổng thể toàn lưu vực sông
Mekong. Để yểm trợ cho việc soạn thảo kế hoạch và cung cấp dư kiện
cần thiết cho công tác nghiên cứu và lượng định về sau, một chương
trình đo đạc và thu thập dư kiện về khí tượng, thủy học, và chất
lượng nước cho toàn vùng ĐBSCL phải được thực hiện càng sớm càng
tốt. Kế hoạch khai thác và phát triển vùng ĐBSCL phải được nghiên
cứu và lượng định một cách thích đáng và đầy đủ nhằm tận dụng
nguồn tài nguyên có giới hạn (lượng nước có thể sử dụng được của
sông Cửu Long và điều kiện thiên nhiên của vùng ĐBSCL) để có thể
đạt được một sản lượng tối đa. Kế hoạch khai thác và phát triển
nầy phải được ưu tiên hóa và thực hiện từng giai đoạn với nhưng
chương trình theo dỏi thích hợp để thu thập dư kiện cần thiết cho việc
lượng định vào cuối giai đoạn. Kết quả của sự lượng định se được
dùng để điều chỉnh kịp thời các sai sót cung như rút kinh nghiệm cho
các giai đoạn kế tiếp. Kế hoạch khai thác và phát triển vùng ĐBSCL
nầy se là nền tảng để chọn lựa các phương pháp ky thuật để đối phó
với sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long.
Có
nhiều phương pháp có thể dùng để đối phó với sự xâm nhập của nước
mặn trong sông Cửu Long. Phương pháp trước tiên có thể nghĩ đến là
gia tăng lưu lượng của sông Cửu Long trong lanh thổ Việt Nam, nhất là
trong mùa khô. Việc gia tăng lưu lượng của sông Cửu Long có thể thực
hiện bằng cách giảm bớt số lượng nước dẩn vào kinh dùng cho việc
canh tác, nhất là nhưng vùng có năng suất thấp. Lưu lượng của sông
Cửu Long cung có thể được gia tăng bằng các hồ chứa nước nhân tạo
ở trong vùng ĐBSCL. Các hồ chứa nước có thể được xây cất để lợi
dụng địa thế và điều kiện thiên nhiên của vùng trung Đồng Tháp Mười
và có thể được điều hành tương tự như thủy chế của Biển Hồ ở Cao
Miên. Nếu có thể thực hiện được, các hồ chứa nầy chẳng nhưng là
một giải pháp cho sự xâm nhập của nước mặn mà còn giúp duy trì và
tăng cường hệ thống sinh thái của vùng Đồng Tháp Mười. Một phương
pháp rất thông dụng và đa được thực hiện trong vùng ĐBSCL là cống
ngăn mặn; tuy nhiên, dựa theo kinh nghiệm ở Đông Úc Châu, một nơi có
các điều kiện tương tự như ĐBSCL, cống ngăn mặn có thể có nhưng ảnh
hưởng còn tai hại hơn là sự xâm nhập của nước mặn. Một phương pháp
khác là xây các đập đá hàn (đập thấp hơn mặt nước) ở cửa sông,
thí dụ như ở cửa sông Mississippi, Hoa Kỳ (Hình 2). Phương pháp nầy
chứng tỏ có hiệu quả trong sự ngăn chận sự xâm nhập của nước mặn
vào sông Mississippi [9]. Sau cùng, chấp nhận tình trạng tự nhiên và
không làm gì cung là một phương pháp có thể áp dụng được.
Phương
pháp nầy tuy tiêu cực nhưng nhiều lúc có thể là một phương pháp
thích hợp nhất.
Một
giải pháp thỏa đáng cho sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu
Long chỉ có thể được tìm thấy qua một cuộc nghiên cứu qui mô và thận
trọng, dựa vào kinh nghiệm của các kế hoạch tương tự đa được thực
hiện ở các quốc gia khác, và tận dụng ky thuật tân tiến chẳng hạn
như mô hình toán. Giải pháp thỏa đáng nầy, có thể là một sự kết
hợp của tất cả các phương pháp nêu trên, tựu trung cung nhắm một
mục đích là làm sao cho việc khai thác và phát triển mang lại nhiều
lợi nhất trong khi giảm thiểu các ảnh hưởng tai hại của các dự án
thủy lợi trong toàn lưu vực sông Mekong lên cư dân và hệ thống sinh
thái của sông Cửu Long và vùng ĐBSCL.
ĐBSCL
là một vùng đồng bằng thấp và phăúng, nhiều nơi mặt đất thấp hơn
mặt nước biển trung bình. Hệ thống kinh rạch chằng chịt ở vùng ĐBSCL,
ngoài vai trò quan trọng cho việc giao thông vận tải, còn là nhưng
đường dan và thoát nước trong mùa khô lan mùa nước. Sông Cửu Long và
hệ thống kinh rạch nầy còn là nhưng lòng lạch mà nước mặn từ Biển
Đông và Vịnh Thái Lan có thể xâm nhập một cách de dàng.
Sự
xâm nhập của nước mặn trong sông ngòi là một hiện tượng tự nhiên
trong các con sông mà cao độ của đáy sông thấp hơn mặt nước biển.
Hiện tượng nầy xay ra do sự khác biệt về tỉ trọng của nước mặn và
nước ngọt. Sự xâm nhập của nước mặn trong sông ngòi còn chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố khác như lưu lượng và thời lượng của sông,
độ dốc của lòng sông, biên độ thủy triều, vận tốc và chiều gió,
và nhiệt độ của nước; trong đó, lưu lượng và thời lượng của con
sông là yếu tố quyết định. Tuy nhiên, hoạt động của con người có
thể làm thay đổi các yếu tố đó, thúc đẩy sự xâm nhập của nước
mặn, và hậu quả là có thể gây nhiều ảnh hưởng tai hại.
Sông Cửu
Long và các sông khác trong vùng ĐBSCL có tất cả các yếu tố thuận
lợi cho sự xâm nhập của nước mặn. Trong quá khứ, sông Cửu Long có
một lưu lượng tự nhiên cao trong một thời gian dài, cho nên, sự xâm
nhập của nước mặn trong sông Cửu Long chỉ giới hạn ở vùng cửa sông
và không là một vấn đề nghiêm trọng vào thời điểm đó. Ngày nay,
sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long là một trong nhưng yếu
tố tối quan trọng có ảnh hưởng đến việc khai thác và phát triển
ĐBSCL. Dư kiện đo đạc gần đây, tuy không đầy đủ, đa cho thấy sự
nghiêm trọng của vấn đề. Độ mặn trong sông Tiền tại My Tho, một nơi
trước đây có nước ngọt quanh năm, đa lên đến 5.3 g/l trong tháng 4
năm 1999 và còn có thể lên cao hơn. Độ mặn nầy vượt quá tiêu chuẩn
2.0 g/l cho nước gia dụng ở các nước đang phát triển, 0.36 g/l cho nước
trồng trọt, và 3.0 g/l cho nước chăn nuôi. Nước mặn đang xâm nhập
sâu vào sông Cửu Long đến 70 km, một hiện tượng chưa từng thấy trong
lïich sử. Vấn đề có thể nghiêm trọng hơn nếu dư kiện được đo đạc
một cách đầy đủ và đúng cách. Lý do của sự xâm nhập của nước mặn
trong sông Cửu Long hiện nay có thể do hạn hán; nhưng cung có thể do
các dự án thủy điện, thủy nông, cấp thủy, và rẻ nước ra khỏi lưu
vực ở thượng lưu và cung có thể do các dự án thủy lợi nằm ngay
trong vùng ĐBSCL.
Ảnh
hưởng trực tiếp của sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long
là vùng ven sông se mất đi nguồn nước gia dụng và trồng trọt duy
nhất. Một vùng đất rộng lớn se không có nước để trồng trọt, hoặc
nếu có trồng trọt được thì năng suất cung bị giảm đi. Ở vùng cửa
sông, nơi mà độ mặn có thể lên rất cao, hoa màu và cây ăn trái có
thể bị hủy hoại và ngành ngư nghiệp có thể bị ảnh hưởng trầm trọng.
Tai hại hơn, các hậu quả kể trên có thể lan rộng đến các vùng ở xa
sông Cửu Long qua hệ thống kinh đào chằng chịt trong vùng ĐBSCL. Về
lâu về dài, nó se là một trở ngại lớn lao cho việc khai thác và
phát triển toàn thể vùng ĐBSCL.
Sự
xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long là một vấn đề của toàn
lưu vực; do đó, giải pháp thỏa đáng và lâu dài cho vấn đề cung phải
có tính cách toàn lưu vực. Giải pháp nầy rất phức tạp và khó khăn
không nhưng do yếu tố thiên nhiên đặc thù của sông Cửu Long và vùng
ĐBSCL mà còn do tính cách quốc tế với quyền lợi quốc gia đôi khi xung
khắc lan nhau. Vì vậy, một sự hợp tác quốc tế trong tinh thần tự do,
bình đẳng, cởi mở, và tôn trọng quyền lợi của nhau là một điều
kiện cần thiết. Tất cả các dự án thủy lợi trong toàn lưu vực sông
Cửu Long cần phải được soạn thảo bởi các quốc gia duyên hà và đệ
trình lên một cơ quan hợp tác quốc tế để cơ quan nầy đúc kết thành
một kế hoạch tổng thể cho toàn lưu vực sông Mekong. Kế hoạch nầy
cần phải được lượng định đúng theo mẩu mực quốc tế hiện hành, dựa
trên nhưng tiêu chuẩn được thỏa thuận trước giưa các quốc gia thành
viên, không phân biệt ranh giới quốc gia, và phải cứu xét và giảm
thiểu ảnh hưởng của các dự án lên sự xâm nhập của nước mặn trong
sông Cửu Long và vùng ĐBSCL.
Trong
phạm vi quốc gia, một kế hoạch khai thác và phát triển lưu vực sông
Cửu Long ở Cao Nguyên và vùng ĐBSCL cần được soạn thảo để đệ trình
lên cơ quan hợp tác quốc tế và làm nền tảng trong việc thương thảo
với các quốc gia thành viên của tổ chức quốc tế nầy. Kế hoạch
phải toàn diện, thực tế, linh động, và uyển chuyển để có thể đối
phó với mọi tình huống của kế hoạch tổng thể cho toàn lưu vực sông
Mekong. Để yểm trợ cho việc soạn thảo kế hoạch và cung cấp dư kiện
cần thiết cho công tác nghiên cứu và lượng định về sau, một chương
trình đo đạc và thu thập dư kiện về khí tượng, thủy học, và chất
lượng nước cho lưu vực sông Cửu Long ở Cao Nguyên và vùng ĐBSCL phải
được thực hiện càng sớm càng tốt. Kế hoạch khai thác và phát triển
vùng ĐBSCL nầy se là nền tảng để chọn lựa các phương pháp ky thuật
để đối phó với sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu Long.
Một
giải pháp thỏa đáng cho sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu
Long có thể là một sự kết hợp của tất cả các phương pháp bao gồm
sự gia tăng lưu lượng của sông Cửu Long trong lanh thổ Việt Nam (giảm
sử dụng nước sông Cửu Long hoặc xây hồ chứa nước ở Đồng Tháp
Mười), cống ngăn mặn, đập đá hàn, và điều kiện tự nhiên (không
làm gì cả). Tất cả phải nhằm một mục đích là làm sao cho việc khai
thác và phát triển mang lại nhiều lợi nhất trong khi giảm thiểu các
ảnh hưởng tai hại của các dự án thủy lợi trong toàn lưu vực sông
Mekong lên cư dân và hệ thống sinh thái của sông Cửu Long và vùng
ĐBSCL.
[1] Chow, V.T.
1964. Handbook of Applied Hydrology. McGraw-Hill Book Company, New York, New
York.
[2] The United States Environmental Protection Agency. July 1976. Quality
Criteria for Water. U.S. Government Printing Office, Washington, D.C.
[3] Sawyer, Clair N. and P.L. McCarty. 1978. Chemistry for Environmental
Engineering. McGraw-Hill Book Company, New York, New York.
[4] The California Regional Water Quality Control Board, Central Coast Region.
September 8, 1994. Water Quality Control Plan. San Luis Obispo, California.
[5] McKee, J.E. and H.W. Wolf. 1963. "Water Quality Criteria,"
unpublished report to Paul R. Bonderson, California State Water Quality Control
Board.
[6] Rawson, D.S. and J.E. Moore. 1944. "The Saline Lakes of
Saskatchewan." Canada Journal of Resources. 22:141.
[7] National Technical Advisory Committee to the Secretary of the Interior.
1968. Water Quality Criteria. U.S. Government Printing Office, Washington, D.C.
[8] American Association for the Advancement of Science. 1967. Estuaries.
Publication No. 83. Washington, D.C.
[9] The U.S. Army Corps of Engineers, New Orleans District. September 1997.
"An overview of the Mississippi River's Saltwater Wedge." New Orleans,
Louisiana.
[10] Mai, Truyet T. April 1, 1999. Personal Communication. West Covina,
California.
[11] Vo, Minh Q. December 1995. "Use of Soil and Agrohydrological
Characteristics in Developing Technology Extrapolation Methodology: A Case
Study of the Mekong Delta, Vietnam." M. Sc. thesis, Graduate School,
University of the Phillipines. Los BaOos, Phillipines.
[12] White, Ian, M. Melville, and J. Sammut. December 6-7, 1996. "Possible
Impacts of Salinewater Intrusion Floodgates in Vietnam's Lower Mekong Delta."
Seminar on Environmental and Development in Vietnam. Canberra, Australia.
Hình 1
Hình dạng tổng quát của sự xâm nhập của nước mặn trong sông ngòi
(Trích từ "An overview of the Mississippi River's Saltwater Wedge." The
U.S. Army Corps of Engineers, New Orleans District. September 1997)
Hình 2
Đập đá hàn ở cửa sông để ngăn chận sự xâm nhập của nước mặn.
(Trích từ "An overview of the Mississippi River's Saltwater Wedge."
The U.S. Army Corps of Engineers, New Orleans District. September 1997)
June
99
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|