Tháng 11 năm 2000
Lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
dường như năm nào cũng xảy ra, không lớn thì nhỏ và kéo dài nhiều
tháng. Trong lãnh thổ Việt Nam, lũ
lụt ở ĐBSCL được lượng định bằng mực nước của sông Tiền tại Tân
Châu và sông Hậu tại Châu Đốc. Sông Tiền và sông Hậu là hai nhánh
chính của sông Cửu Long khi chảy vào Việt Nam. Hàng năm, do ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Tây Nam,
mực nước sông Cửu Long ở hai trạm Tân Châu và Châu Đốc bắt đầu
dâng lên vào khoảng cuối tháng 6 hoặc đầu tháng 7, đạt đến mức cao
nhất vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10, rồi hạ xuống mức bình
thường vào cuối tháng 12 hoặc đầu tháng 1. Có lẽ vì lũ lụt xảy ra thường xuyên, người dân ĐBSCL
gọi khoảng thời gian nước sông Cửu Long dâng cao là “mùa nước nổi.” Theo tiêu chuẩn của Ủy ban Quốc tế
Mekong, “mùa nước nổi” là mùa nước mà mực nước cao nhất tại Châu
Đốc nằm trong khoảng từ 3.80 m cho đến 4.20 m. Nếu mực nước cao nhất tại Châu Đốc cao hơn 4.20 m, ĐBSCL
bị lụt. Nếu mực nước cao nhất tại
Châu Đốc thấp hơn 3.80 m, năm đó bị hạn hán. Dựa theo tài liệu đo đạc từ năm 1941 cho đến nay, trận
lũ lụt năm 1961 được xem là trận lụt lớn nhất với mực nước của
sông Hậu tại Châu Đốc là 4.94 m và sông Tiền tại Tân Châu là 5.28
m (1).
Ngày trước, ngoại trừ những trận lũ lụt
lớn như trận lũ lụt năm 1961 và 1966 mà thiệt hại được ước tính lên
đến 20,1 triệu Mỹ Kim trong năm 1966, các mùa nước nổi và các trận
lụt nhỏ hoặc trung bình ở ĐBSCL không đáng quan tâm và cũng không
gây nhiều thiệt hại đáng kể.
Ngược lại, nước lụt mang lại cho vùng ĐBSCL nhiều lợi ích như
rửa đất phèn, trải lên vùng ngập lụt một lớp phù sa mầu mỡ, tăng
năng suất của lúa sạ, và mang đến cho người dân ĐBSCL một số lượng
cá quan trọng.
Trong khoảng hai thập niên gần đây, nhất
là trong thập niên 1990, các mùa nước ở ĐBSCL đã thay đổi đặc tính
và trở thành một mối quan tâm thường xuyên của người dân vùng ĐBSCL,
những người có trách nhiệm trong việc phát triển ĐBSCL, và những
người dân Việt có quan tâm ở trong nước. Các mùa nước 1978, 1984, 1991, 1994, 1995, và 1996 đã gây
thiệt hại nặng nề cho vùng ĐBSCL.
Thật vậy “Một câu hỏi thường xuyên đặt ra đã làm đau đầu
nhức óc các nhà lãnh đạo cao cấp, các nhà khoa học và nhân dân
ĐBSCL sau những năm lũ lụt liên tiếp 1994-1995-1996: Vì sao có tình hình
đột biến bất ngờ như vậy đối với ĐBSCL trong cuối thế kỷ
nầy?... Nhân dân ĐBSCL đã suy tư
trăn trở nhức nhối rất nhiều về những vấn đề này, nhất là lũ lụt
ngày càng liên tiếp diễn ra và gây tác hại ngày càng quá lớn”
(2).
“Một yêu cầu mới được đặt ra là phải
tìm hiểu rõ nguyên nhân vì sao có tình trạng như vậy để ‘chữa bệnh
đúng thuốc’ chứ không thể nằm yên chờ ‘đến hẹn lại lên’ của lũ
lụt như trước đây để ‘chung sống với lũ’ và chỉ ‘khắc phục hậu quả’
sau khi lụt rút đi” (2). Tìm
hiểu đặc tính của lũ lụt ở ĐBSCL ngày xưa và ngày nay chính là tìm
hiểu nguyên nhân vì sao lũ lụt ngày càng liên tiếp diễn xảy ra và gây
tác hại ngày càng lớn trong khoảng hai thập niên vừa qua và có thể
trong tương lai.
Trước khi ĐBSCL được khai khẩn, nước sông
Cửu Long theo các sông chính, các sông nhánh song song với sông chính,
và các mương rạch thiên nhiên chảy ra biển Đông. Mực nước trong sông Cửu Long bắt đầu
dâng ngay sau các cơn mưa đầu mùa trong tháng 5 hoặc tháng 6 do gió
mùa Tây Nam mang đến. Sông Cửu
Long bắt đầu tràn bờ và làm ngập một vùng rộng lớn ở phía dưới
Kratie,ù Kampuchea (Hình 1 và 2).
Diện tích bị ngập có thể lên đến 55.000 km2 trong
những trận lụt lớn (5). Khi lưu
lượng nước lũ trong sông Cửu Long tăng cao, nước lũ không những chảy
ngược vào Biển Hồ qua sông Tonle Sap mà còn tràn bờ và chảy vào
các vùng trũng dọc theo sông. Vào
cuối mùa lũ, khi lưu lượng lũ trong sông chính giảm xuống, nước từ
Biển Hồ và các vùng trũng lại chảy trở ra sông Cửu Long. Có thể nói, đây là một đặc tính thủy
học có một không hai (unique) của sông Cửu Long. Nhờ vậy, lưu lượng lũ chảy vào lãnh
thổ Việt Nam được “điều hòa” một cách tự nhiên và mực nước lụt ở
ĐBSCL trong lãnh thổ Việt nam dâng chậm hơn và thấp hơn nhưng thời gian
lũ lụt lại kéo dài hơn so với lũ lụt ở vùng thượng lưu.
Từ Kampuchea, phần lớn nước lũ theo sông
Tiền và sông Hậu đổ vào Việt nam rồi thoát ra biển Đông theo hướng của
hai sông nầy (hướng Tây Bắc – Đông Nam).
Trong những năm lũ lớn hoặc trung bình, nước lũ trong sông Tiền
(thượng lưu Cao Lãnh) và sông Hậu (thượng lưu Long Xuyên) có thể tràn
bờ hoặc theo các mương rạch thiên nhiên để chảy vào vùng Đồng Tháp
Mười (ĐTM) và trũng Rạch Giá hay Tứ Giác Long Xuyên (TGLX). Nước lũ còn theo các sông Sở Thượng
và rạch Cái Cái chảy vào ĐTM và theo sông Châu Đốc chảy vào TGLX
rồi làm ngập hai vùng trũng nầy.
ĐTM và TGLX cũng nhận nước lũ chảy tràn qua biên giới Việt
Miên. Từ ĐTM, một phần nước lũ
chảy tràn hoặc theo các mương rạch trở lại sông Tiền ở hạ lưu, một
phần theo hướng Tây-Đông chảy tràn hoặc theo các mương rạch thiên
nhiên thoát ra sông Vàm Cỏ Tây rồi chảy ra biển Đông. Từ TGLX, một phần nước lũ chảy tràn
hoặc theo các mương rạch thiên nhiên trở lại sông Hậu ở hạ lưu, một
phần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam thoát ra vịnh Thái Lan, và một
phần tràn vào sông Cái Lớn và Cái Bé rồi chảy ra vịnh Thái Lan (1).