CÓ BAO NHIÊU DIOXIN TRONG THUỐC KHAI QUANG
ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT
Nguyễn Minh Quang
Tháng 4 năm 2003
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tức 28 năm
về trước, tiếng súng của chiến tranh Việt Nam đã chánh thức chấm dứt. Nhưng có một phần của cuộc
chiến Việt
Ngay trong năm 1970, Bộ Quốc phòng
Hoa Kỳ đã ủy nhiệm cho Hàn lâm viện Khoa học Quốc gia (National Academy of
Sciences (NAS)) thực hiện một cuộc nghiên cứu toàn diện về ảnh hưởng của việc
sử dụng thuốc khai quang ở Việt Nam. Kết quả việc nghiên cứu của NAS được phổ biến năm 1974 (NAS-1974)
cho biết có khoảng 19.395.369 gallons (73.411.472 lít) thuốc khai quang được
xịt xuống một diện tích khoảng 9.000 mi2 (23.310 km2) (1). Số lượng thuốc khai quang
nầy chứa khoảng 106 kg đến 163 kg chất dioxin (2). Trong một vài nghiên cứu khác, số lượng
dioxin được ước tính từ 368 lbs hay 167 kg (3) đến 170 kg (4). Các con số ước lượng nầy được hầu hết khoa
học gia trên thế giới chấp nhận và sử dụng cho đến ngày 17 tháng 4 năm 2003,
khi kết quả nghiên cứu của trường Đại học Columbia ở New York được phổ biến
trong một bài viết của Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman và các đồng nghiệp trên
Tạp chí Nature số 422 (5). Bài viết của Tiến
sĩ Stellman không cho biết số lượng chung, nhưng chỉ cho biết số lượng thuốc
khai quang được dùng trong cuộc chiến Việt Nam thì nhiều hơn con số “nguyên
thủy” của NAS-1974 là 7.131.907 lít (1.886.748 gallons) và nhiều hơn con số
“điều chỉnh” của NAS-1974 (mà Tiến sĩ Stellman đã điều chỉnh) là 9.440.028 lít
(2.497.362 gallons). Như vậy, nếu dùng
số lượng 73.4 triệu lít của NAS-1974, thì số lượng thuốc khai quang phun xuống
Việt Nam trong suốt cuộc chiến được Tiến sĩ Stellman ước tính phải là 80,5
triệu lít (73.4 + 7.1). Số lượng dioxin
được Tiến sĩ Stellman ước tính là 366 kg, tức trên hai lần con số ước tính từ
trước của NAS (5).
Tương tự như các cuộc nghiên cứu về
dioxin trước đây của Bác sĩ Arnold Schecter trong năm 1999 hoặc của Hatfield
Consultants Ltd. trong năm 1998 và 2000, kết quả nghiên cứu của Tiến sĩ
Stellman đã được giới truyền thông Việt Nam ở trong nước và quốc tế khai thác
một cách “nhiệt tình.” Một ngày trước khi kết quả được công bố chánh thức, tin tức về cuộc
nghiên cứu đã được loan báo trên các hệ thống truyền thanh và truyền hình quốc
tế. Hầu hết các hãng thông tấn
quốc tế như AFP, BBC, Reuters, v.v. đều đánh tin về kết quả nghiên cứu cùng với
tin tức liên quan đến phản ứng của chánh phủ Việt Nam hiện nay (6,7,8). Bản tin của BBC cho biết, theo
các chuyên viên nghiên cứu của trường Đại học
Các con số được nêu lên trong câu
chuyện của Declan Butler và trong các bản tin của các hãng thông tấn quốc tế đã
tạo nhiều nghi vấn về số lượng thuốc khai quang và chất dioxin được sử dụng ở
Việt
Nghi vấn thứ nhất
là số lượng thuốc khai quang được phun xuống miền nam Việt
Như mọi người đều biết, máy bay được
dùng để phun thuốc khai quang là loại máy bay vận tải C-123 được cải tiến, có
trang bị một bình chứa thuốc với dung tích 1.000 gallons (3.780 lít) (14). Như vậy, số lượng thuốc khai quang tối đa có
thể phun bởi chiến dịch Ranch Hand là 19.905.000 gallons (75.240.900 lít). Nếu cộng với số lượng thuốc khai quang được
phun bằng các phương tiện khác mà Tiến sĩ Stellman ước tính là 534.000 gallons
(15), tổng số thuốc khai quang phun xuống miền nam Việt Nam không thể vượt quá
20.439.000 gallons hay 77.259.420 lít.
Con số nầy phù hợp với con số mà BBC đã loan tin, nhưng nó chỉ cao hơn
con số được ước tính từ trước là 3.847.948 lít chứ không phải 7.131.907 lít như
Tiến sĩ Stellman đã công bố trong bài viết trên Tạp chí Nature.
Trên thực tế, vẫn theo
dữ kiện của Tiến sĩ Stellman, số lượng thuốc khai quang được phun trong mỗi phi
vụ có thể thay đổi từ 900 cho đến 1.000 gallons (15). Nếu dùng con số trung bình là 950 gallons cho
mỗi phi vụ, số lượng thuốc khai quang được phun bởi chiến dịch Ranch Hand là
18.909.750 gallons hay 71.478.855 lít.
Cộng với 534.000 gallons được phun bằng các phương tiện khác, tổng số
thuốc khai quang được phun xuống miền nam Việt
Nghi vấn thứ hai
là số lượng dioxin chứa trong thuốc khai quang được sử dụng ở Việt
Một lần nữa, kết quả nghiên cứu hồ
sơ phi hành của các máy bay dùng để phun thuốc khai quang bị bỏ quên từ lâu của
Tiến sĩ Stellman đã làm cho các con số 221 kg hoặc 366 kg trở thành hoài
nghi. Thật vậy, nếu tổng số 19.905 phi
vụ mà Tiến sĩ Stellman ước tính là chính xác, thì số lượng thuốc khai quang
được phun xuống Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh không nguyên chất; bởi vì
các máy bay nầy chỉ phun một dung dịch được pha với nước, dầu cặn, hoặc dầu máy
bay phản lực theo tỉ lệ 1:20 cho chất Màu xanh, 1:50 cho chất Màu trắng, và từ
1:10 cho đến 1:20 cho chất Da cam (16).
Do đó, các con số ước tính của Tiến sĩ Stellman cần phải được “điều chỉnh”
theo các tỉ lệ nêu trên. Nếu các tỉ lệ 1:10 và 1:20 được áp dụng cho
con số 336 kg, số lượng dioxin trong thuốc khai quang được phun xuống Việt Nam
trong thời kỳ chiến tranh chỉ từ 18,3 kg cho đến 36,6 kg mà thôi!
Nếu dùng số lượng và nồng độ dioxin
trung bình (trị số cao nhất) trong các thuốc khai quang khác nhau do Tiến sĩ
Stellman ước tính trong Bảng 2 (15) và giả sử nồng độ dioxin trung bình của các
chất không biết (unspecified) trong Bảng 2 là 13 ppm (tương tự như chất Da
cam), số lượng dioxin trong thuốc khai quang phun xuống Việt Nam trong thời kỳ
chiến tranh có thể thay đổi từ 33,5 kg
(nếu dùng tỉ lệ 1:20) đến 66,9 kg (nếu dùng tỉ lệ 1:10). Như vậy, con số 163 kg do NAS-1974 ước tính
có thể được xem là rất dè dặt (very conservative), nếu không muốn nói là bội
tính (overestimated).
Dường như các con số ước tính của
Tiến sĩ Stellman là kết quả của một mô hình toán tinh vi,
phức tạp, và “có một không hai” như Declan Butler đã mô tả trong câu chuyện
trên Tạp chí Nature. Nếu đúng như vậy,
thì cái câu “garbage in, garbage out” thông dụng trong cộng đồng khoa học điện
toán có lẻ là lời giải thích thích hợp nhất cho các nghi vấn về số lượng thuốc
khai quang và dioxin phun xuống Việt Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh từ năm
1961 cho đến 1971 vừa được trường Đại học Columbia công bố. Và nếu các con số nầy hoài nghi, thì các kết
quả khác, thí dụ như số người bị ảnh hưởng trực tiếp (được ước tính từ 2,1 triệu đến 4,8 triệu) hoặc chỉ số cơ hội tiếp xúc
(exposure opportunity index) cũng cần được kiểm chứng. Cũng cần nhắc lại ở đây, vào cuối thập niên
1980, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (Centers for Disease Control (CDC))
đã thực hiện một cuộc nghiên cứu sâu rộng (extensive study) trong nhiều năm để
lượng định mức độ tiếp xúc với thuốc khai quang của lực lượng bộ binh Hoa Kỳ
tham chiến ở Việt Nam. Sau khi chi tiêu
khoảng 43 triệu Mỹ kim, CDC quyết định ngừng công tác nghiên cứu vì không có
một đơn vị bộ binh nào hội đủ tiêu chuẩn về mức độ tiếp xúc với chất Da cam như
đã ấn định trước. Phương pháp nghiên cứu
của CDC đã bị chỉ trích là “sai” vì “nó loại trừ những người có cơ
hội được tiếp xúc đầy đủ” với chất Da cam (17). Một trong những người chỉ trích mạnh miệng
nhất chính là Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1)
Arison,
H. Linsley III.
(2)
National
Research Council Committee on the Effects of Herbicides in
(3)
(4)
Tenenbaum,
David. “The Value of
(5)
Stellman,
Jeanne M., Steve D. Stellman, Richard Christian, Tracy Weber, and Carrie
Tommasalo. “The extent and patterns of usage of Agent Orange and other
herbicides in
(6)
Richard
Black. BBC Science Correspondent.
(7)
Reuters.
(8)
Tim
Radford. Science Editor.
(9)
Declan
(10)Nhân Dân. 17
tháng 4 năm 2003. “Quân đội Mỹ đã sử
dụng 100 triệu lít chất độc da cam trong chiến tranh Việt
(11)
(12)Lao Động. 17 tháng 4 năm 2003. “Hoa Kỳ phải có trách
nhiệm giải quyết hậu quả chiến tranh ở Việt
(13)
(14)
(15)Steve D. Stellman, Jeanne M. Stellman, Tracy Weber,
Carrie Tomasallo, Andrew B. Stellman, and Richard Christian, Jr.
(16)Moore, Gary D.
(17)Multinational Monitor. “Agent Orang and the CDC.” Multinational
Monitor. Vol 10, No. 9. September 1989. www.multinationalmonitor.org
BaonhieuDioxinF.doc