Từ
Thuốc Bắc, Thuốc
Những danh từ dùng cho tựa
đề của bài viết nầy đều có cùng chung một định nghĩa và ứng dụng
tùy theo không gian và thời gian. Thuốc Bắc ở Việt
Nam dùng để chỉ các loại thuốc dùng cây, lá, rễ,
củ, hột, v.v… đă được biến chế do
một Đông y sĩ người Trung Quốc khám bịnh
và cho toa. C̣n thuốc
Người
được chẩn bịnh sau khi nhận thuốc xong,
mang về nấu trong một cái nồi đất với
(thông thường) ba chén nước và đun sôi. Khi nước
“xắc” lại c̣n tám phân, bịnh nhân “chắt” nước
ra, để nguội và uống. Một
thang thuốc có thể uống được nhiều lần,
thường là hai lần.
Thuốc dân tộc chỉ
được dân miền
C̣n câu chuyện dài dược
thảo ở
Hoa Kỳ thể hiện “tính khoa học” c̣n cao hơn nữa,
nhất là trong cộng đồng Việt
Trong phần
tŕnh bày sau đây, chúng tôi sẽ bàn về định
nghĩa, nguồn gốc, cách dùng và những vấn nạn
có thể xảy ra sau khi dùng thuốc dược thảo. Danh từ “thuốc” dùng ở
đây để chỉ tất cả các loại cây, cỏ,
rễ, thân, lá, củ, hột… chứ không nói đến những
hóa chất khác được gian thương cho thêm vào
để làm tăng một vài đặc tính trị liệu
mà không cần lưu tâm đến những di hại về
sau, như arsenic, đồng, ch́, thủy ngân, selenium, thậm
chí vàng (gold) nữa.
Nguồn gốc và
định nghĩa dược thảo
Theo quan điểm
của các nhà khoa học Hoa Kỳ, khoa dược thảo
chỉ có thể được xem như là một
phương cách trị liệu bổ túc (complementary
therapy), chuyên dùng các loại cây hay hóa chất ly trích từ
cây. Do đó,
đâylà một ngành y khoa riêng biệt đặt trọng
tâm chữa trị bằng cây cỏ có trong thiên nhiên. Và danh từ herbalism dùng để chỉ hệ
phái dùng cây cỏ để trị liệu hầu hết
các bịnh gần giống như tất cả những bịnh
liệt kê trong ngành y khoa hiện đại.
Nguồn gốc của
ngành y khoa dược thảo được xem như xuất
hiện từ khi có sự hiện diện của con
người trên quả địa cầu. Và
nếu đi xa hơn nữa, nguồn gốc nầy
đă có trước khi loài người xuất hiện
(qua sự tiến hóa từ khỉ). Giống khỉ
Chimpanzees đă biết ăn một loại
lá cây đặc biệt để diệt các ấu trùng
trong bao tử. Loài nai đă biết truy t́m các
lá dùng để kích thích tâm thần (psycho-active). Một
số thú vật khác cũng đă biết t́m đến nấm
như penicillin và các loại nấm chống nấm
(antifungals) để trị liệu hay tiêu diệt các loại
ḅ chét ngoài da. Sau đó, con người mới
biết áp dụng trong trị liệu như những liều
thuốc kháng sinh.
Ngành dược
thảo đúng nghĩa đă góp phần không nhỏ vào việc
trị liệu bổ túc và song hành với ngành y khoa hiện
đại.
Thuốc phiện (morphine) được trích ly từ cây
thuốc phiện (poppies), aspirin từ cây liễu, và digoxin
dùng để chữa trị nhịp tim
đập không đều đến từ cây đuôi chồn
(foxglove).
Ngành dược thảo
không ngừng ở mặt trị liệu từng bộ phận
hay từng bịnh mà c̣n có “tham vọng” chữa trị toàn
cơ thể con người, và “khuyến khích” cơ thể
tự “hoàn chỉnh” hay điều chỉnh qua thuốc cây
cỏ. Các nhà chuyên môn của ngành nầy nghĩ rằng, những
hóa chất trong một tập hợp cây cỏ sẽ làm
cân bằng cơ thể và tạo nên những phản ứng
hổ tương để chữa trị toàn thể con
người.
Có thể nói ngành y khoa cây cỏ ngày nay phát triển
rất nhanh trên toàn thế giới. Mức tiêu thụ
ước tính khoảng 23 tỷ Mỹ kim
trong năm 2004 căn cứ vào báo cáo của cuộc triển
lăm quốc tế lần thứ hai về dược thảo.
Hiện tại, có khoảng 34% người Hoa Kỳ lớn
tuổi đă hơn một lần viếng các Bác sĩ
Đông y dược vào năm 1990.
Vấn đề an toàn của dược thảo
Có một khái niệm hết
sức thông thường và tự nguyện của người
đời là, dược thảo nghĩa là cây cỏ
(herbal) là tự nhiên (natutal), và là an toàn (safe); v́ vậy,
dược thảo ao toàn hơn các loại thuốc bằng
háo chất hay tổng hợp hóa chất do ngành y dược
khoa hiện đại bào chế.
Do có suy nghĩ trên, cho nên một
số người Hoa kỳ và dĩ nhiện, một số
không nhỏ người Việt ở hải ngoại lẫn
thường dùng các loại thuốc cây cỏ trong công việc
pḥng bịnh và trị bịnh. Đối với dược
thảo, các nhà sản xuất không cần phải khai báo với
Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) về
cơ cấu của thuốc, cũng như tính hiệu
nghiệm, cùng phản ứng phụ, và mức an toàn của
thuốc đặc chế. FDA cũng không
đ̣i hỏi thông tin cần được liệt kê trên
nhản hiệu của các lọ thuốc. Do đó, kết
quả dù tích cực hay tiêu cực, hay ảnh hưởng
dài hạn lên cơ thể hoàn toàn không được biết
đến và cũng không có một cuộc nghiên cứu dài
hạn nào để thẩm định mức an toàn của thuốc.
Thí dụ
như nước trích từ cây nhàu (gingko biloba) đă
đưộc quảng cáo rầm rộ trong cộng đồng
Việt
Mặc dù Luật Dietary
Supplement Health & Education Act năm 1994 cho phép các loại thuốc
thực vật trên được ghi trong nhản hiệu
hướng dẫn cách dùng và tính hiệu nghiệm của
thuốc. Nhưng trên thực tế ngoài thị trường,
các nhản hiệu trên hoàn toàn không ghi rơ vế cách định
bịnh, chữa trị hay pḥng bịnh ǵ cả!
Thêm một
điều nữa là dược thảo không bị đ̣i
hỏi phải cung cấp tỷ lệ các thành phần hóa
học cấu tạo ra thuốc, cũng như tính tinh khiết
(purity) như các loại thuốc dành cho ngành y khoa hiện
đại.
Do đó hiệu quả của cùng một loại thuốc,
cùng một nhản hiệu có thể không giống nhau v́ do
những tạp chất có trong thuốc thay đổi trong
lúc sản xuất như phấn hoa, chất gây dị ứng
cho cơ thể, bào tử của hoa v.v..
Và tỷ lệ khác biệt nầy có thể
thay đổi tính hiệu nghiệm của thuốc,
đôi khi gây ra những phản ứng bất lợi cho bịnh
nhân.
Do đó, mặc dù một số
dược thảo có thể trợ giúp giải quyết một
số bịnh của con người, nhưng điều
đó không có nghĩa là dược thảo đạt
được mức an ṭan. Theo khuyến
cáo của ngành y dược khoa tân tiến, phụ nữ
đang mang thai không nên dùng dược thảo
v́ có thể có phản ứng bất ngờ và có thể bị
trụy thai.
Đối với các loại
thuốc trong ngành dược khoa, dựa vào hóa chất tổng
hợp hay một số trích ly từ cây cỏ, hay nấm
trong thiên nhiên, nhưng các thuốc nầy đă được
nghiên cứu kỹ lưỡng, với cân lượng
chính xác, và được thí nghiệm lên thú vật hay con
người trong một thời gian dài trước khi tung
ra thị trường. Và dĩ nhiên, những
thuốc trên cũng có thể có những phản ứng phụ
hay phản ứng khi dùng khi dùng nhiều loại thuốc
khác nhau trong cùng một thời điểm. Điều
nầy cũng đă được liệt kê trên nhản
thuốc hay được bác sĩ khám bịnh khuyến
cáo và lưu ư bịnh nhân khi kê toa.
Tuy nhiên, điều
trên đây không xảy ra đối với dược thảo
về các điều kiện bào chế thuốc. Hiện tại,
hầu hết các sản phẩm dược thảo đều
nằm ngoài tầm kiểm soát của những luật lệ
quy định cho ngành y khoa. Điều đó có
nghĩa là không có ǵ bảo đảm cho sự hiệu nghiệm
của thuốc, cũng như thành phần cùng cân lượng
của những chất hoá học cấu tạo ra thuốc.
Ngay cả nhà bào chế thuốc cũng không đạt
được tính chính thống của ngành, mỗi nhà bào
chế (sản xuất) theo từng
trường phái dược thảo khác nhau. Thí dụ thuốc
nhàu của nhà bào chế A sẽ khác thuốc của của
nhà bào chế B. Một thí dụ khác điển h́nh là nếu
bạn bị bịnh về tim, bịnh viêm yết hầu
(angina), cao áp huyết, hay chứng đau mắt (glaucoma), một
số dược thảo dùng để trị liệu các
chứng bịnh kể trên sẽ đưa đến những
phản ứng có thể làm chết người đối
với bịnh nhân bị tiểu đường loại
I hay bị chứng phong giựt (epilepsy). Thêm nữa, các
dược thảo quảng cáo cho những bà măn kinh nguyệt
và hay bị chứng nóng mặt (hot flashes) là các loại cỏ
và rể của cây Black Cohosh, Black Snake, Bugwort, Rattle weed. Thực
sự nếu dùng các loại dược thảo kể
trên, các bà có thể giảm chứng nóng mặt lúc ban đầu
nhưng hậu quả sẽ phải trả là một giá rất
đắt, đó là bịnh ung thư. Nên nhớ, nếu không dùng thuốc chi cả, chứng
nóng mặt sẽ biến mất sau một thời gian.
Từ những nhận
định trên, câu hỏi được đặt ra là,
chúng ta có nên dùng dược thảo không?
Hiệu năng của
dược thảo
Đối với ngành y
dược khoa, một thuốc mới sắp ra sẽ phải
được kiểm chứng qua nhiều giai đọan
như vừa kể trên, điều đó không những bảo
đảm được tính hiệu nghiệm và an ṭan của
thuốc, mà c̣n đi xa hơn nữa là liệu thuốc mới
vừa được tung ra thị trường có an ṭan
hơn (safer), và hiệu nghiệm hơn khi so sánh với các
loại thuốc đă sản xuất trước kia và có
cùng một mục đích trị liệu.
Nhưng đối
với dược thảo, ḥan ṭan không có một nghiên cứu
nào cả mà chỉ dựa vào căm tính (intuition) nhiều
hơn. Do
đó, nhiều khi bịnh nhân phải trả một chi phí
cao cho dược thảo mà không nhận được kết
quả trị liệu nào cả, không kể đến những
phản ứng phụ có thể xảy ra.
Để trả lời
câu hỏi trên, quan điểm của một số nhà y
dược học là:
-Một số dược
thảo được xem như là một loại thức
ăn bổ túc (food additive) như các loại sinh tố
thiên nhiên và vô hại cùng những loại muối khoáng,
cũng như không ảnh hưởng và phản ứng phụ
cho người tiêu dùng.ï
- Ủy ban An ṭan Y khoa
(Committee on Safety of Medicine) khuyến cáo bịnh nhân cần phải
tham khảo vơí bác sĩ về các loại dược thảo
đang dùng trước khi được giải phẩu,
v́ có rất nhiều loại dược thảo dị ứng
với hóa chất gây mê, chống đông máu, và những thuốc
xử dụng trong và sau khi giải phẩu.
- C̣n Viện Quốc gia Những
Nhà Sưu tầm Dược thảo (National Institute of
Medical Herbalists) khuyến cáo nhà dược thảo cần
phải theo dơi từ ba đến
năm năm ảnh hưởng lên con người của
dược thảo đă được bào chế trước
khi tung ra thị trường.
V́ những lư do trên cùng những
hạn chế thông tin về dược thảo, lời
khuyên hay nhất cho người xử dụng dược
thảo là cần phải tham khảo bác sĩ gia đ́nh và
những bác sĩ chuyên môn về dược thảo (herbal
practictioner) trước khi dùng.
Cũng cần nên tham vấn
nhà dược thảo trị liệu để họ có
thể hiểu rơ hơn điều kiện sức khoẻ
tổng quát của bịnh nhân, cùng các loại thuốc
đă hay đang xử dụng, cuộc sống thường
nhật của bịnh nhân và lịch sử về sức
khoẻ gia đ́nh. Và sau một thời gian trị
liệu bằng dược thảo, bịnh nhân cần phải
đến tham khảo thêm để có thể chận
đứng được những phản ứng phụ
kịp lúc nếu có.
Sau cùng, Viện Sức khoẻ
Quốc gia (National Institute of Health) có một mạng lưới
tập trung về những nghiên cứu liên quan đến
dược thảo cũng cần được tham khảo
thêm qua Trung tâm Quốc gia về Y khoa Bổ túc và
Tương ứng (National Center for Complementary & Alternative
Medicine).
Thay lời kết
Ngày hôm nay, ngoài những bữa
ăn chính, nhiều người cần phải có thức
ăn dinh dưỡng bổ túc (dietary supplements) tùy theo điều kiện sức khỏe của
cơ thể cả về vật chất lẫn tâm sinh lư.
Do đó, xử dụng dược thảo cũng phụ
giúp một phần nào trong việc trị liệu với
điều kiện là bịnh nhân cũng như người
chẩn đóan bịnh và cho thưốc cần hiểu rơ
căn bịnh và nhu cầu cần phải có dược thảo
bổ túc thêm cho việc trị liệu.
Nhưng trên thực tế,
nhất là trong cộng đồng người Việt,
đặc biệt tại Hoa Kỳ, dược thảo
đă trở thành một kỹ nghệ béo bở cho rất
nhiều người. Ngành dược thảo
ở đây hoàn ṭan độc lập, và ḥan ṭan tùy thuộc
vào người bào chế (?) và hầu như những nhà
bào chế Việt
Qua truyền thông như phát
thanh, báo chí, truyền h́nh.. .chúng
ta hàng ngày nghe ra ră những quảng cáo rất nhiều loại
thuốc dược thảo dùng để trị liệu
nhiều bịnh khác nhau, cũng như trị “bá bịnh”.
Nhiều khi cùng một nguồn gốc dược
thảo, những nhà bào chế đă tŕnh bày những phương
cách trị liệu và liều lượng khác nhau.
Chúng ta dễ dàng kiểm chứng điều nầy qua các
quảng cáo về thuốc nhàu Noni, thuốc cây lô hội
v.v.. .
Thậm chí, có những nhà
bào chế không biết lấy từ nguồn nguyên liệu
nào gọi là sữa ong chúa rồi chia ra thành lọ thuốc
mang những con số vô t́nh khác nhau như: 7, 9,14, 26 v.v.. .để trị bách bịnh hay
bá bịnh.
Giă sữ
như sũa ong chúa có tính chất trị bá bịnh đúng
như quảng cáo, mỗi người trong chúng ta thử
đặt một câu hỏi nhỏ cho nhà bào chế nầy
là, làm thế nào để có đủ lượng sữa
ong chúa để sản xuất hàng trăm ngàn chai lọ
thuốc như trên? Nên nhớ, mỗi tổ ong chỉ
có một con ong chúa và khả năng chứa sữa (?) của
một con ong chúa không đạt được 0.05 cc, tức
nhỏ hơn một giọt nước. Người
viết không rơ người bào chế định nghĩa
chữ “sữa” như thế nào, nhưng qua tài liệu
tham khảo đọc được, Honey Bee Venom, tức
là nọc của loài ong mật có thể trị được
chứng đau cơ sơ hóa tức là Fibromyalgia mà thôi!
Cộng đồng
người Việt chúng ta ở hải ngoại quá dễ
dăi để cho gian thương lợi dụng mà không có một
phản ứng nào cả. Cộng thêm một số đồng bào v́ dễ
tin và nhẹ dạ cho nên vô h́nh chung
đă tiếp tay cho việc làm bất chính trên. Thiết
nghĩ, ngày hôm nay, đă đến lúc chúng ta cần góp bàn tay để làm sạch cộng đồng,
ư thức bổn phận dân sự (civic duty) của chính
ḿnh để cho những cung cách làm ăn không đứng
đắn tồn tại trong cộng đồng nữa. Nên nhớ, ảnh hưởng và các phản ứng
phụ khi dùng hoá chất không đúng cách (có trong dược
thảo sẽ diễn ra sau vài thập niên xử dụng
chứ không phải là một ảnh hưởng tức khắc.
Khẩn mong Quư bà con lưu
ư đến những điều tŕnh bày trên đây.
Mai Thanh Truyết