T́nh Trạng Môi Trường
Việt
Năm 1975, từ khi nước
nhà hoàn toàn thống nhất, Việt
Năm 1986, đứng trước
hiễm họa diệt vong, chính sách phát triển của
Việt
Lợi tức đầu
người từ 180 Mỹ kim (1980) tăng dần từ
7 đến 9% mỗi năm tiếp theo. Nhưng cho đến
năm 1997, mức tăng trưởng khựng lại vào
khoảng 4- 5% cho
đến những năm sau 2000. Từ đó Việt
Bên cạnh việc phát
triển và tăng trưởng kinh tế kể trên,
Việt
Mục đích của bài viết
là tŕnh bày lần lượt 2 yếu tố nổi bật
ảnh hưởng đến môi trường qua 30 năm
phát triển của Việt
Ảnh hưởng
môi trường qua việc phá rừng
Trước chiến tranh
thứ hai, diện tích rừng nguyên sinh của Việt Nam
là 19 triệu mẫu chiếm 58% diện tích cả nước.
Cho đến năm 1943 rừng chỉ c̣n lại 14,1
triệu mẫu (43%); và đến năm 1990 t́nh trạng
càng tệ hại hơn nữa, diện tích rừng
chỉ c̣n 9,1 triệu mẫu (27,7%). Theo báo cáo năm 2002
của Ngân hàng Thế giới (WB), kễ từ năm 1999
trở đi, hàng năm mức độ đốn
rừng để xẻ gỗ được ước
tính là 2 triệu m3. Ngoài ra c̣n phải kể đến
việc cháy rừng vào mùa khô và việc chuyển đổi
rừng trong việc nuôi tôm như vùng rừng tràm, đước
ở Cà Mau.
Việt
Về ĐBSCL, trong
hiện tại chỉ c̣n 5% rừng che phủ và đă
mất đi khoảng 175.000 mẫu rừng ngập
mặn tính đến 2003. Rừng ngập mặn ở nơi nầy
thể hiện nhiều lợi điểm sau đây: 1-
chống lại sự xói ṃn của biển, 2- hạn
chế được sự nhiễm mặn vào sâu trong
vùng đất liền, 3- và nhất là bảo vệ được
đa dạng sinh học cho toàn vùng. Kỹ
nghệ nuôi tôm đă đánh mất đi các lợi điểm
nầy và hiện đang để lại một di
hại không nhỏ cho toàn vùng hiện tại.
Về đất, hậu
quả trước mắt ảnh hưởng từ
việc phá rừng là sự thoái hóa của đất. Đất mất đi độ
ph́ nhiêu và sự cân bằng dinh dưởng. Lớp đất
thịt trên mặt sẽ bị cuốn trôi sau những cơn
mưa lũ v́ không c̣n cây và rễ để
giữ đất lại. Điều nầy
được tỏ rơ trong năm 2001, lần đầu
tiên trong lịch sử nước sông Hương (Huế)
đă biến thành đục và độ pH trở thành
kiềm trong mùa khô.
Ngoài sự thoái hóa của đất
do nguyên nhân trên, sau gần 20 măm mở cửa và phát
triển ồ ạt trong nông nghiệp, Việt Nam mất đi
2 tỷ tấn đất/năm (nguyên nhân chính yếu là do
việc phá rừng) hay tính trung b́nh đất bị xói ṃn
tùy theo vùng và đă thất thoát từ 50 - 3200
tấn/mẫu/năm ảnh hưởng đến 23
triệu mẫu trên toàn quốc, chiếm 70% diện tích
quốc gia.
Về nước, theo báo
cáo của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Cung
cấp Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm
2003, nguồn nước ở Việt Nam ngày càng bị
khan hiếm và ô nhiễm. Sự thoái hóa nầy tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng
trưởng kinh tế, nhất là ở những năm
gần đây. Nhu cầu nước cho nông
nghiệp chiếm 88%, và cho kỹ nghệ chiếm 7%.
Các nguồn nước
thải từ khu gia cư, từ các trung tâm kỹ
nghệ, khu chế xuất, đất nông nghiệp v.v...đă xâm nhập vào nguồn nước
mặt, nước ngầm, thậm chí ảnh hưởng
đến phẩm chất nước ở vùng duyên
hải nữa. Nước sinh hoạt gia cư, nước
thải kỹ nghệ, và nước rỉ từ các băi
rác là nguyên nhân chính yếu cho việc ô nhiễm hữu cơ
trong nguồn nước mặt đặc biệt ở
các thành phố lớn như TpHCM, Hà Nội, Hải Pḥng, Đà
Nẳng, Cần Thơ v.v... căn
cứ theo báo cáo trên.
Về vùng duyên hải, trong
ṿng 3 thập niên trở lại đây, hơn 96% san hô
của Việt Nam đều bị ảnh hưởng do
tác động của con người như đánh bắt
cá bằng thuốc nổ, bằng hóa chất độc
hại như cyanur, hoặc bị nhiễm độc do
phế thải, đặc biệt ở vịnh Hạ
Long, Cát Bà (Hải Pḥng), Ninh Thuận, B́nh Thuận, và Khánh
Ḥa. Theo một nghiên cứu thăm ḍ từ năm 1994 đến
1997 tại 142 địa điểm san hô dọc theo
bờ biển Việt Nam, kết luận của bảng
thăm ḍ cho thấy chỉ c̣n độ 1% tổng lượng
san hô chưa bị ô nhiễm xâm nhập mà thôi. Riêng tại
khu vực duyên hải miền Bắc, theo ước
tính của Hải học
Viện Nha Trang th́ trong ṿng 20 năm trở lại đây,
công nghệ khai thác than Quảng Ninh và các vùng phụ cận
đă hủy diệt trên 50% lượng san hô ở vùng
biển nầy.
Ảnh hưởng
do sự gia tăng dân số
Với diện tích 325.000
Km2 trong đất liền và 336.000 Km2 nếu tính luôn các
hải đăo, Việt Nam phải đối mặt
với sự gia tăng dân số trầm trọng từ
44 triệu vào năm 1975 lên đến trên 82 triệu năm
2004. Mật độ trên 1 Km2 tăng từ
135 người đến 252 người. Toàn thể Việt
Thêm nữa, cũng v́
mức gia tăng dân số cho nên đất đă bị
xử dụng liên tục, không có thời gian nghĩ ngơi
để lấy lại sự cân bằng thiên nhiên. Cũng như v́ nhu cầu
tưới tiêu, cho nên nông dân không ngần ngại xử
dụng nguồn nước thiếu phẩm chất như
nước phèn, nước lợ....và hậu quả
tất nhiên của việc làm nầy là mức độ
nhiễm mặn, nhiễm phèn lấn sâu vào lục địa
và đất đang có nguy cơ trở thành sa mạc hóa
trong tương lai, và không thể phục hoạt được.
Việc di dân từ các vùng
cao miền Bắc vào cao nguyên Trung phần không có kế
hoạch rơ rết cũng như không có nguồn trợ
lực về tài chính và kỹ thuật cho di dân lúc ban đầu
càng làm cho nông dân gián tiếp tăng thêm mức độ
suy thoái của đất trong chăn nuôi và trồng
trọt cũng như mức độ ô nhiễm qua
việc xử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ
thực vật bừa băi làm cho tiến tŕnh hủy
hoại môi trường càng nhanh hơn.
Thay lời
kết
Báo cáo Hiện trạng
môi trường Việt Nam 2000 soạn thảo do Chương
tŕnh Môi trường LHQ và Trung tâm Tài nguyên Khu vực Á châu
Thái B́nh Dương (UNEP-RRCAP) có nêu lên ngay trong phần khai
mào, có nhận định như sau:Nói
chung, cho đến nay (2000) chưa nảy sinh các vấn đề
môi trường đối với các khu công nghiệp (KCN)
mới.
Hiện nay trên cả nước
có tất cả 66 KCN hoặc KCX (2005), có KCN nào có hệ
thống xử lư nước thải, xử lư phế
thải rắn, và xử lư nguồn phát thải vào không khí?
Hay là, các phế thải lỏng đi vào
cống rănh và chảy thẳng vào kinh rạch rồi đổ
ra sông. C̣n phế thải rắn sẽ đi
vào các băi rác lộ thiên mà không qua công đoạn xử lư.
Và tại những nơi có KCN đang hoạt động
không khí bị ô nhiễm hạt bụi và thậm chí có
những khí độc thoát ra như khí clor, khí sulfurơ
(SO2), và hơi ch́, thủy ngân v.v...Báo cáo trên
ghi nhận chưa nảy sinh ra vấn đề môi trường,
thử hỏi những vấn nạnmôi trường
vừa nêu trên chưa phải là vấn đề môi trường
hay sao?
Trong Chiến lược
Bảo vệ Môi trường Quốc gia 2001 - 2010 do
Bộ Khoa học, Công nghệ & Môi trường thực
hiện đă được nghiên cứu trong nhiều năm,
được sự tham gia đóng góp ư kiến của
nhiều nhà quản lư, nghiên cứu của hầu hết
Bộ/Ngành ở trung ương và nhiều Ban/Ngành ở
các địa phương. Nhiều nhà tài trợ và chuyên
gia nước ngoài cũng đă tham gia tư vấn và hoàn
thành chiến lược nầy... Và Chiến lược đă
rút ra 9 giải pháp để thực hiện việc
bảo vệ môi trường Việt
1- Tăng
cường giáo dục và nâng cao nhận thức về môi
trường;
2- Tăng
cường vai tṛ của cộng đồng, doanh
nghiệp, tư nhân trong bảo vệ môi trường;
3- Tăng
cường và đa dạng hóa đầu tư bảo
vệ môi trường;
4- Tăng
cường năng lực quản lư nhà nước về
môi trường;
5- Mở
rộng hợp tác quốc tế và thu
hút sự tài trợ của quốc tế;
6- Kết
hợp chiến lược bảo vệ môi trường
quốc gia với chiến lược phát triển kinh
tế xă hội;
7- Lựa
chọn hành động ưu tiên;
8- Giám
sát và đánh giá việc thực hiện chiến lược;
9- Trách nhiệm và
các cơ quan thực hiện;
Tính đến nay, kế
hoạch thực hiện chiến lược môi trường
đang đi vào giữa giai đoạn (2005), theo sự
quan sát của nhiều chuyên gia nội địa và hải
ngoại, 9 giải pháp đề ra vẫn chưa được
thực hiện đúng mức v́ chỉ là những
giải pháp tô vẽ trên giấy tờ và không được
khai triển ra từng kế hoạch chi tiết để
có thể phối hợp hành động. Ngay cả
phạm vi quản lư của nhà nước
là ưu tiên hàng đầu mà luật lệ và việc phân
công, phân nhiệm c̣n trồng tréo nhau, gây thêm khó khăn cho
các doanh nghiệp sản xuất.
Luật Môi trường đă
được cải sữa lần thứ 17 (2004) mà
vẫn c̣n quá nhiều kẽ hở tạo điều
kiện thuận lợi thêm cho những móc ngoặc và tham
nhũng, cũng như nhà nước phải chịu
nhiều thất thu qua các tệ
trạng kể trên. Một điều căn bản chính
yếu trong luật môi trường là quy định các nhà
sản xuất công, kỹ nghệ phái thiết lập báo
cáo tác động môi trường (EIA) trước
khi dự án được chấp
thuận và cấp giấy phép. Nhưng cho đến nay, có
gần 700.000 cơ sở công nghiệp lớn nhỏ trên
toàn quốc đang hoạt động, vẫn chưa có nơi
nào nộp bảng nghiên cứu tác động môi trường
theo đúng quy định của
luật.
Nh́n lại 30 năm
quản lư môi trường 1975 - 2005 của một quốc
gia Việt Nam thống nhất, đất nước đă
được gồm thu vào một mối, công cuộc điều
hành quốc gia được tóm gọn vào một
chiều hướng duy nhất: Phát triển quốc gia
theo định hướng xă hội chủ nghĩa. Dù
cố gắng tối đa để có một nhận xét
tích cực, nhưng quả thật, Đất Nước
Việt Nam đang đi dần đến bế tắc,
nhất là 20 năm sau khi có kế hoạch mở cửa
từ năm 1986.
Phát triển Việt
Việc xuất cảng
hàng năm 900 triệu Mỹ kim qua
việc xẻ gỗ đă để lại quá nhiều
vấn nạn môi trường cho sự thất thoát
rừng và những hệ lụy đă được phân
tích ở phần trên, và mức thu nhập nầy có
thể khỏa lấp được những mất mát
do vấn nạn trên hay không? Hay nguồn tài nguyên căn
bản của đất nước đang bị hao ṃn
dần?
Theo một báo cáo mới
nhất về Chỉ số Môi trường Bền
vững 2005 (2005 Environmental
Sustainability Index) do Diễn đàn kinh tế nhóm
họp tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 3, 2005, Việt
Tóm lại, mọi kế
hoạch, định hướng, chiến lược đă
được Việt Nam đề xướng từ 30
năm qua đă không được thi hành nghiêm chỉnh và đúng
đắn, cũng như việc phát triển quốc gia
hoàn toàn không đồng bộ với việc bảo
vệ môi trường. Do đo,ù hệ
quả đương nhiên là t́nh trạng môi trường
ngày càng xuống cấp tệ hại và cho đến nay,
mọi biện pháp cứu chữa hầu như không
thể thực hiện được.
Tuy nhiên, c̣n có một hy
vọng là vào tháng 10,2003, trong một
cuộc họp báo của Thủ tướng Việt
Tóm lại, phát triển
quốc gia không đi kèm với việc quản lư và
kiểm soát môi trường sẽ đưa đất nước
đến t́nh trạng kiệt quệ về tài nguyên và môi
trường bị thoái hóa. Phát triển quốc gia không đi
kèm với dân chủ hóa và nhân quyền hóa xă hội sẽ đưa
đất nước đến kề cận với
thảm họa diệt vong. V́, một khi cánh cửa
dân chủ chưa mở được th́ tất cả
tài nguyên, tài sản quốc gia sẽ tích lũy trong tay
của một nhóm thiểu số cầm quyền; do đó,
phúc lợi nầy sẽ không được chia xẻ đồng
đều và công bằng theo nhu cầu của xă hội. Và
đây, cũng là bế tắc chính yếu cần phải
tháo gở của Việt
Mai Thanh Truyết
VAST 30/4/2005