Thải
Từ Sinh Hoạt.
I.
Xử Lư Nước Thải
Sinh Hoạt
Nước
thải sinh hoạt gia cư là một vấn đề
quan trọng cho những thành phố lớn và đông dân
cư, nhất là đối với các quốc gia đă phát
triển.
Riêng đối với các quốc gia c̣n trong t́nh trạng
đang phát triển, v́ hệ thống cống rănh thoát
nước c̣n trong t́nh trạng thô sơ, không hợp lư
cũng như không theo kịp đà phát triển dân số
nhanh như trường hợp ở các thành phố ở
Việt Nam như Hà Nội, Sài G̣n, Hải Pḥng, Nha Trang,
Đà Nẳng, Cần Thơ v.v…, việc giải quyết
và xử lư nước thải nầy hầu như không
thể thực hiện được. Nước
thải sau khi qua mạng lưới cống rănh
được chảy thẳng vào sông rạch và sau cùng
đổ ra biển cả mà không qua giai đoạn xử
lư. Thêm nữa, hầu hết các cơ sở sản
xuất công kỹ nghệ cũng không có hệ thống
xử lư nước thải, do đó t́nh trạng ô
nhiễm nguồn nước ngày càng trầm trọng
hơn nữa. Nếu t́nh trạng trên không chấm dứt,
nguồn nước mặt và dọc theo
bờ biển Việt
Hiện nay
tại nhiều nơi, ở những vùng phát triển công
nghệ tập trung cao như Hà Nội, Sài G̣n, Vũng Tàu, có
nhiều chỉ dấu đă cho thấy các vùng nước
nơi đây đă hoàn toàn bị nhiễm độc.
Nếu chỉ
tính riêng cho nước thải gia cư ở Việt Nam,
nếu tính trung b́nh mỗi đầu người tiêu dùng
100 lít nước cho sinh hoạt hàng ngày, và với dân
số 9 triệu nhân khẩu, Tp Sài G̣n thải vào sông
rạch một lượng nước thải là 900.000 m3/ngày,
một số lượng không nhỏ đổ vào khúc sông
Sài G̣n. Cũng cần nên biết thêm là chu kỳ thuỷ
triều nơi đây xảy ra theo cung cách bán nhật
triều, nghĩa là trong ṿng 24 giờ có hai chu kỳ
nước ṛng và nước rong (lớn); do đó,
nước thải không đủ thời gian để
chảy ra biển và chỉ “ngưng đọng” trong
một phạm vi trong ḷng sông mà thôi. Theo thời gian,
nước sông nguyên thuỷ không đủ khả năng
“làm loăng” nước thải nữa v́ mức độ ô
nhiễm tăng quá khả năng điều tiết
tự nhiêh của sông
(khả năng tới hạn – threshold limit). T́nh trạng nhiễm độc nguồn
nước sẽ xảy ra từ đây. Và
điều nầy đang xảy ra cho sông Sài G̣n và các
phụ lưu
chung quanh Hà Nội và một số thành phố
lớn khác ở Việt
Bài viết
nầy có mục đích mang lại một số thông tin
về phương hướng giải quyết và xử lư nước
thải gia cư.
Xử
lư nước thải sinh hoạt gia cư
Hàng ngày, thành
phố San Diego và vùng phụ cận thải hồi 230
triệu gallon nước sinh hoạt cho mọi nhu cầu
trong gia đ́nh và nước thải đă qua xử lư
của các cơ sở sản xuất kỹ nghệ. Thành phố có bổn phận phải xử lư
tất cả nguồn nước thải nầy. Do
đó, hệ thống xử lư phải là một hệ
thống có quy mô lớn và nằm trong một chính sách
thường trực và ưu tiên của thành phố.
Qua cống rănh,
nước thải được chuyển vào nhiều
nhà máy (Point Loma Plant,
Một số
lượng nước đă đă qua giai đoạn
xử lư bậc hai, sẽ được xử lư hoá
học tiếp. Lượng nước nầy có tên là
nước “tái dụng” (reclaimed water) sẽ là nguồn
nước tưới tiêu cho các công viên và cây xanh dọc theo xa lộ. Một
lượng nước đă được xử lư sau
cùng được chuyển vào các hồ chứa, từ
đó qua phương pháp thẩm thấu tự nhiên
(percolation) nước sẽ thấm vào mạch
nước ngầm dưới ḷng đất sâu, góp
phần vào việc cung cấp nước sinh hoạt
trở lại cho thành phố.
Theo
dơi phẩm chất nước đại dương
V́ nguồn
nước thải dù đă qua xử lư nhưng cũng
cần theo dơi sự biến đổi phẩm chất
của nguồn nước đại dương, nơi
tiếp nhận nước thải để ngơ hầu
bảo đảm môi trường nước nơi
đây, bảo đảm hệ sinh thái của thuỷ
động vật và thực vật sống dưới nước,
cũng như người dân sống gần bờ hay các
băi tắm chung quanh. Hàng ngàn mẫu nước đă
được lấy từ những điểm khác nhau
và phân tích theo định kỳ rơ ràng
để có thể khám phá kịp lúc khi nào sự ô
nhiễm bắt đầu manh nha. Đồng thời các
mẫu đất tích tụ (sediment) dưới đáy
biển, động vật và thực vật trong môi
trường cũng đă được theo
dơi cùng một lúc với mẫu nước biển. Các mẫu cũng được lấy tận
ngoài khơi, xa hơn 17 Km và sâu trên 600 bô.
Khi đă khám phá
ra một vùng biển nào bị thay đổi về
phẩm chất dù nhỏ đến đâu đi nữa,
vùng biển đó bị khoanh vùng ngay tức khắc và dân
chúng không được lai vảng cho đến khi
phẩm chất nước trở lại b́nh
thường.
Xử
lư bùn trong nước thải sinh hoạt
Trong công
đoạn xử lư nước thải sinh hoạt,
lượng bùn (sludge) lắng đọng chứa hợp chất
hữu cơ sẽ được chuyển đổi
thành khí sinh học (bio gas) (xem bài viết Khí sinh học
của cùng tác giả) dựa theo
phương pháp nén yếm khí. Đây là
một phó phẩm quan trọng để chuyển
đổi thành điện năng. Lượng
năng lượng nầy được dùng để
làm nóng hệ thống nén kỵ khí và sưới ấm nhà
máy, cùng cung cấp điện năng (điện năng
sinh ra trong trường hợp của nhà máy xử lư ở
Sau hết, bùn
sau khi được hoàn tất giai đoạn tách sinh khí,
c̣n được sử dụng như là một loại
phân bón hữu cơ rất tốt cho cây trồng trong các công
viên và dọc theo xa lộ.
Kết
luận
Qua quá tŕnh
xử lư nước thải sinh hoạt thành phố như
thành phố
Trước
vấn nạn khan hiếm nước sạch trên thế
giới trong một tương lai không xa, trước
vấn nạn ô nhiễm nguồn nước do phát
triển không có kế hoạch bảo vệ môi
trường như ở Việt Nam và Trung Quốc,
nguồn nước tái chế là một giải pháp
tối ưu cho các quốc gia đang phát triển. Thiết nghĩ, Việt
II.
Rác:
Sinh Hoạt TP Sài G̣n
Hiện tại, Việt
Như mọi người đếu
biết, t́nh trạng rác gia cư và nước rỉ
từ rác là một trong nhiều vấn đề cấp
bách cần phải giải quyết ở Việt Nam, đặc
biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp
Sài G̣n, v.v... Cho đến nay, mặc dù có những cố
gắng về phía chính quyền để giảm bớt
áp lực của vấn đề như: việc thiết
lập các băi rác mới, và dự án
mới nhất là dự án khu liên hợp xử lư chất thải
Đa Phước, B́nh Chánh. Tuy nhiên, rác
vẫn là một vấn nạn lớn của Tp HCM, và tổng
lượng rác thải hàng ngày ở nơi nầy vào
khoảng 6.000 m3/ ngày.
Thành phố luôn luôn bị động, v́ các
băi rác mới vừa khánh thành th́ lại phải chuẩn
bị băi rác mới khác và t́nh trạng của các nhà máy
xử lư nước rỉ càng tệ hại hơn nữa
v́ khả năng không đủ đáp ứng khối lượng
khổng lồ nước rỉ phát thải từ các băi
rác. Do đó, mặc nhiên, nước
rỉ sẽ mau chóng thấm vào trong đất và vào
mạch nước ngầm. So với vũ lượng
ở Việt Nam từ 1.800 đến 2.000 mm/năm, lượng
nước rỉ phát thải sẽ gấp nhiều
lần hơn so với nước rỉ ở các quốc
gia khô hạn như California và nhất là do khí hậu
ẩm thấp, quá tŕnh phân hủy của rác xảy ra nhanh
hơn và phóng thích nước rỉ nhiều hơn. V́ vậy, vấn nạn
trên trở nên ngày càng cấp bách nhất là trong mùa mưa.
Đứng về phương diện thu nhận rác từ người dân, thùng
chứa rác sinh hoạt ở Tp được các công ty rác
lấp đặt ở nhiều nơi, đặc
biệt ở các giao lộ. Thùng chứa có dung tích
khoảng 2 m3. Ở các chợ th́ có thùng lớn
hơn, từ 10 đến 20 m3. Tuy nhiên,
v́ mật độ dân chúng quá lớn, số lượng
rác rơi răi khắp các mặt đường chung quanh các
thùng rác vào mỗi khi chiều xuống. Phu
bốc rác phải làm việt cật lực suốt đêm
để giải tỏa số lượng rác nầy.
Điều nầy là một trong những
sự việc vừa làm mất vệ sinh và vừa làm giảm
đi cảnh quan của thành phố đối với
những khách du lịch, nhất là người ngoại quốc
đến Việt
Sau đó, rác được các xe
tải rác có máy ép rác di chuyển đến các băi rác nằm
ở ngoại thành như Củ Chi, B́nh Chánh, Nhà Bè, Thủ Đức
v.v.... Nên nhớ ngoài rác sinh hoạt gia cư,
các băi rác trên c̣n phải chứa thêm chất thải y
tế và chất thải công nghiệp nữa.
Theo những thông tin trên báo chí, có nhiều băi
rác được thiết kế và lấp đặt nhà
máy xử lư nước rỉ, tiêu tốn hàng chục
triệu Mỹ kim, nhưng v́ việc thiết kế vướng
phạm nhiều lỗi lầm kỹ thuật, cho nên nhiều
nhà máy phải bị đóng cửa chỉ sau một
thời gian ngắn sau khi khánh thành. Điển h́nh như
nhà máy xử lư nước rỉ Đông Thạnh, Hốc
Môn, tiêu tốn 32 triệu Mỹ kim, được khánh
thành ngày 7/6/2002 và vận hành chưa đến một tháng th́
phải đóng cửa vĩnh viển. Nước rỉ
tại băi rác nầy, tuy đă đóng cửa không thu
nhận rác nữa, từ đó đến nay vẫn là nước
rỉ không được xử lư chứa nhiều
hợp chất hữu cơ và kim loại độc
hại, cùng các hoá chất bảo vệ thực vật đă
ngấm sâu vào ḷng đất hoặc chảy thẳng vào
sông Rạch Tra v́ đă tràn bờ ở hai hồ chứa hiện
tại. Nước rỉ từ sông Rạch
Tra chảy thẳng vào sông Sài G̣n và sông nầy đă
biến thành ḍng sông đen nhất là vào mùa khô. Qua phân
tích, một số rau đậu trồng chung quanh vùng
Hốc Môn đă có chỉ dấu nhiễm hoá chất độc
hại như arsenic , mangan, và một
số hợp chất hữu cơ chứa chlor khác.
Băi rác G̣ Cát. Sau 4
năm xây dựng, trạm phát điện công nghệ xử
lư rác G̣ Cát đă chính thức khai trương ngày 2/8/2005
với số vốn đầu tư tương đương
17 triệu Mỹ kim. Khí methane thải
hồi từ sự phân hủy của rác được thu hồi và biến thành điện. Ngày 20/7 vừa qua, trạm đă chuyển 125.000 KW
điện vào lưới điện quốc gia với
giá bán là 634 Đồng/KWgiờ. C̣n công ty
xử lư rác G̣ Cát chỉ bảo đảm nước
rỉ rác được gạn lọc sơ bộ, và
tẩy mùi trước khi trả về tự nhiên
(nghĩa là đi vào sông rạch). Như vậy
tại nơi nầy nước rỉ chỉ được
gạn lọc và khử mùi chứ không tẩy rửa được
hữu cơ và kim loại độc
hại.
Tại băi rác Phước Hiệp cũng có
dự kiến thiết lập nhà máy thu
hồi khí methane và gạn lọc nước rỉ trong
khoảng thời gian sắp tới. Cũng như ngày 11/9
vừa qua, Phó CT UBND Tp HCM (Sài G̣n) Nguyễn Văn Đua đă
khai mạc lễ khởi công xây dựng Nhà máy xử lư
chất thải rắn do Cty Viet Srar thuộc tổ hợp
Lemna, Hoa Kỳ đầu tư. Đây là một nhà máy
xử lư lớn với diện tích 70 mẫu tây, có khả
năng xử lư 1.200 tấn rác/ngày, với số vốn đầu
tư 36 triệu Mỹ kim. Hệ thống xử lư nầy
tương tự như ở G̣ Cát nhưng không có nhà máy thu hồi khí methane để biến thành điện
năng.
Và gần đây nhất, Cty Liên hợp Đa
Phước sẽ khánh thành vào ngày 1/11/2007 trong đó hệ
thống xử lư nước rỉ, hệ thống thu hồi khí methane và hoán chuyển thành điện
năng, cùng nhà máy biến phân compost cũng đă được
ghi trong dự án.
Nh́n chung, t́nh trạng cùng cung cách quản lư và
xử lư nước rỉ ở các băi rác ở thành
phố Sài G̣n cũng như ở các thành phố lớn khác
vẫn chưa được lưu tâm đúng mức, v́
với cung cách xử lư như trên, các hoá chất độc
hại vẫn c̣n tồn đọng trong nước
rỉ và xâm nhập vào nguồn nước tạo nên ô
nhiễm môi trường nước chung quanh.
Để có một khái niệm về vấn đề
xử lư nguồn nước rỉ từ rác, một phương
pháp xử lư nước rỉ đă được
hầu hết các quốc gia Tây phương áp dụng hiện
tại. Đó là phương pháp vi sinh
biomass (xin xem bài Nhà máy xử lư phế thải của cùng
tác giả). Phương pháp nầy dựa theo
nguyên tắc dùnh vi sinh vật hiện có trong nước
rỉ, kết hợp với than họat tính, và bồn
xử lư phaỉ được bơm không khí liên tục để
kích thích tăng trưởng các vi sinh vật trên. Với phương
pháp nầy, vi sinh vật và than hoạt
tính sẽ phân hủy các hợp chất hữu cơ nhẹ
và hấp thu kim loại độc hại có trong nước
rỉ. Và sau khi đă được xử lư, nước
rỉ có thể được phát thải vào tự nhiên
và không ảnh hưởng đến mội trường chung quanh.
Lư do tại sao t́nh trạng các nhà máy xử lư
của Việt
Như chúng tôi đă cảnh báo nhiều
lần trên nhiều bài viết khác nhau, vấn đề
phát triển kinh tế quốc gia cần phải được
cân bằng trong với việc bảo vệ môi trường.
Hiện nay, thành thực mà nói, dường như lănh đạo
Việt Nam vẫn chưa lưu tâm đến vấn
nạn ô nhiễm môi trường đúng mức, và chính v́
thế mà việc bảo vệ môi trường không
nằm trong các ưu tiên hàng đầu trong việc
thiết lập chính sách quốc gia.
Từ đó, đưa đến những
hệ lụy khác là: 1- Ngân sách cần chi tiêu cho các băi rác
cũng như nhà máy xử lư c̣n hạn chế, 2- Nhân
sự chuyên môn và quản lư không đáp ứng kịp
thời với nhu cầu gia tăng của rác sinh hoạt
gia cư do sự gia tăng dân số tạo ra.
Thêm nữa, tầng lớp nhân sự chuyên
môn và cán bộ quản lư cũng không được đào
tạo chuyên sâu cả về phẩm cũng như về lượng
so với tỷ lệ dân số tăng trưởng theo thời gian ngơ hầu giải tỏa
những tồn đọng ở nhiều năm trước
của vấn nạn nầy. T́nh trạng trên vẫn không
thay đổi, mặc dù trong những năm gần đây,
Tp Sài G̣n đă nhận được rất nhiều
trợ giúp kỹ thuật và tài chánh từ phiá chính phủ
Hoà Lan và Đan Mạch trong công nghệ xử lư rác.
Một điểm cần lưu ư nữa là,
công tác giáo dục và hướng dẫn quần chúng cũng
c̣n lơ là trong việc hạn chế lượng rác
thải cũng như phân loại và thu hồi
các loại rác có thể tái xử đụng được
như thu gom bao b́ plastic, giấy, chai lọ... Công tác sau nầy sẽ làm cho công nghệ xử lư
nước rỉ dễ dàng và mau chóng hơn.
Cũng cần nến biết thêm là tại
thành phố Sài G̣n, ngoài vấn đề rác gia cư, và nước
thải sinh hoạt, hệ thống sông ng̣i, kinh rạch
ở nơi nầy đă bị ô nhiễm trầm trọng
và mức độ ô nhiễm ngày càng tăng thêm. Cộng thêm mức độ ô nhiễm không khí,
tiếng động càng làm cho môi trường thành phố
trở nên tệ hại hơn, đe doạ trầm
trọng đến sức khoẻ người dân sống
tại nơi đây. Nếu chính quyền không có
biện pháp giải quyết thích đáng vấn đề
rác th́ trong tương lai, chi phí y tế cho việc chửa
trị sẽ cao gấp nhiều lần hơn chi phí cho
việc “ngừa bịnh” môi trường nầy.
III.
Bài
Học California
Trong một bài viết trước, chúng tôi
có nêu lên t́nh trạng
hiện tại của rác sinh hoạt gia cư ở Việt Nam. T́nh
trạng nầy nói lên tính cách cấp bách trong việc
giải quyết vấn nạn trên. Việt Nam, qua các
nguồn vốn đầu tư ODA, các nguồn viện
trợ ngoại quốc cùng sự đóng góp của dân
chúng và chính quyền hiện tại, việc xây dựng
những băi rác cùng hệ thống xử lư nước
rỉ vẫn là một đề tài nổi cộm từ
lâu. Qua một số vấn nạn về quản lư và tích
chuyên biệt của từng dự án, việc xây dựng đă
gặp nhiều trở ngại và đa phần các dự án trở thành những dự án nửa vời,
hay dự án treo, hay kết quả không được như
ư.
Bài viết nầy nêu lên một thí dụ điển
h́nh về một dự án đầu tư từ một
người Mỹ gốc Việt được xem như
là một giải pháp tối ưu
trong điều kiện Việt Nam để giảm
thiểu nguồn rác phát thải và hạn chế xây
dựng thêm các băi rác mới trong phát triển và đô
thị hóa.
Dự án của công ty liên hợp Đa Phước
do Công ty Viêt Nam Waste Solutions do David Dương, một doanh nhân
trong địa hạt phế thải gia cư ở San
Jose, CA. Vào tháng 6 năm 2005, công ty này đă kư kết với
Tp Sài G̣n và đă đặt viên đá đầu tiên trên
dự án có tổng diện tích là 640 hecta, và kinh phí đầu
tư là 400 triệu Mỹ kim. Dự án
hiện c̣n đang tiếp tục thiết lập dự án
giải tỏa và xây dựng hạ tầng cơ sở. Vào
tháng 8/2006, công ty c̣n đang tiến hành dọn và sang lấp
mặt bằng, thi công mặt bằng nhà máy, xây dựng
cầu dẫn vào khu đất của dự án. Dự
kiến sẽ tiếp nhận 2500 đến 3000 tấn rác
mỗi ngày cho việc phân loại rác tái sinh, và biến
chế thành phân compost vào đầu tháng 3/2007.
Từ khi đặt viên đá đầu tiên
đến nay là 14 tháng, dự án mới vừa thu hồi được
110 hecta, phần 530 hecta c̣n lại đang được
hiệu chỉnh quy hoạch và tiếp tục giải
tỏa. (Xin xem tiếp bài viết “Tính khả
thi của khu Liên hợp Đa Phước của cùng
một tác giả).
Ngoài công ty Đa Phước ra, c̣n có công ty Vietstar có
trụ sở tại Hoa kỳ đă có giấy phép xin gia
hạn đầu tư ở sở TN&MT Thành phố
HCM. Công ty có công suất 1,200 tấn mỗi ngày, với
tổng số vốn đầu tư 36 triệu Mỹ kim. Một dự án khác là
dự án nhà máy sản xuất phân compost do công ty liên doanh
Saigon- Earthcare (Hoa kỳ) làm chủ đầu tư, có công
xuất 1,000 tấn một ngày. Công ty đang
xin giấy phép xây dựng và làm đường dẫn vào
khu dự án. Và sau cùng, dự án xây dựng nhà máy
sản xuất phân compost do Công ty Môi trường Đô
thị làm chủ đầu tư,
có công xuất 500 tấn /ngày và 300 tấn phân hầm
cầu/ngày. Công ty do nguồn vốn ODA từ chính phủ
Ḥa Lan.
Đại để, dù có nhiều dự án đầu
tư trong công cuộc xử lư phế thải và xử lư nước
rỉ, nhưng tiến độ thi hành dự án hiện
nay rất chậm, kể cả những dự án đă thất
bại trước đó như dự án Đông Thạnh
ngày xưa và băi rác G̣ Cát trong hiện tại.
Băi rác G̣ Cát được bắt đầu
đi vào hoạt động từ năm 1995. Theo thiết kế được duyệt,
khả năng tiếp nhận của băi rác là 3,65 triệu tấn và sẽ đóng cửa vào
cuối năm 2005. Băi nầy gồm 4 băi chứa rác khác
nhau và một nhà máy xử lư 400 mét khối nước
rỉ/ngày, và chỉ có khả năng thu nhận 2000 tấn
rác/ngày mà thôi.
Nhưng trên thực tế, cho đến ngày
hôm nay, hàng ngày băi rác tiếp nhận từ 4,000 đến
4,500 tấn rác và đă vượt mức cho phép là 4,2
triệu tấn. Thêm nữa, nhà máy xử lư nước
rỉ hiện tại chỉ có khả năng xử lư 100
mét khối/ngày, trong lúc lượng nước rỉ phát
sinh hàng ngày là 1,000 mét khối. Do đó, CT Môi trường Đô
thị có nhiệm vụ quản lư băi rác phải dùng xe bồn vận
chuyển trên 800 mét khối nước rỉ hàng ngày
từ G̣ Cát lên hồ chứa nước của băi rác Đông
Thạnh. Dĩ nhiên, chuyện tràn bờ và chuyện nước
rỉ cũng giống như
“những chuyện thường ngày ở huyện” sẽ đi
vào môi trường ở G̣ Cát và Đông Thạnh và cũng sẽ
là kết quả đương nhiên cho những ngày
sắp tới mà thôi.
Tiến độ thi công một băi rác có
nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài
rất chậm dù đó là một doanh nhân ngoại quốc hay
nguồn vốn ODA đầu tư vào kỹ nghệ
xử lư rác. Thủ tục về giấy phép trong xây
dựng phải mất quá nhiều thời gian làm chậm
trể hầu hết các dự án đă được
duyệt xét chấp thuận. Sở dĩ có t́nh trạng
trên xảy ra là v́ theo ông Nguyễn văn Chiến, phó GĐ
sở TN&MT Thành phố HCM cho biết trong 30 năm qua,
các dự án cho băi rác thải do ngân sách thành phố, hoặc
được viện trợ từ các tổ chức, chính
phủ nước ngoài như băi rác G̣ Cát. Do đó, Sở
TN&MT bị động v́ thiếu kinh nghiệm trong việc
tiếp cận với các dự án
lớn và mới, nhất là việc giải quyết các
hợp đồng kư kết với doanh nghiệp ngoại
quốc.
Hiện nay, đối với tiến độ
thực hiện các dự án xử lư, Sở đă rút kinh
nghiệm căn cứ vào báo cáo mới nhất của thành
phố, và đang phối hợp với các sở ban ngành
khác đễ đẩy nhanh tiến độ thực
hiện quy hoạch, đền bù thu hồi đất và
hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho các khu liên
hợp xử lư chất thải rắn. Sở cũng tăng
cường việc giải quyết các vấn đề một
cách căn cơ từ gốc như quy hoạch tổng
thể chất thải rắn cho đến năm 2020 so với
mức độ gia tăng của đô thị hóa và phát
triển thành phố.
So với các quốc gia tiến bộ trên
thế giới, rác gia cư ở các quốc gia trên cũng
là một vấn nạn không nhỏ. Tuy nhiên, họ có phương cách
giải quyết vấn đề đễ không gây ô
nhiễm môi trường không khí, môi trường nước
mặt và nước ngầm qua những quy định
của luật môi trường sở tại.
Nếu lấy California làm thí dụ, rác sinh
hoạt gia cư cũng là một vấn nạn rất
lớn dù luật lệ môi trường đă được
áp dụng một cách khắc khe để bảo vệ sức
khỏe của người dân.
California, với dân số 36 triệu người
và hàng năm thải hồi khoảng 165 triệu tấn rác.
Vấn đề xây dựng băi rác và nhà máy xử lư nước
rỉ cùng việc thu hồi khí thải
từ băi rác để biến thành điện năng đ̣i
hỏi Cali phải có một hệ thống quản lư và
kiểm soát thật hoàn chỉnh.
Trước vấn nạn trên, từ năm
1987 chính quyền của Cali đă lấy quyết định
là quy định việc quản lư chất phế thải
cho từng địa phương và chỉ tiêu cho đến
năm 2000 là phải giảm thiểu 50% lượng rác gia
cư, khai triển bằng cách thu hồi 50% rác để
tái sinh, tái xử dụng hay biến chế thành phân hữu
cơ .v.v... Tuy nhiên chỉ tiêu trên vẫn chưa
đạt được vào năm 2000.
Cho măi đến năm 2004, kỹ nghệ
rác ở Cali đă giải quyết được 76
triệu tấn tức 48% qua tái sinh hoặc tái xử
dụng. Qua năm 2005,
88 triệu tấn được tái xử dụng tức
52%. Và John Myers, Phát ngôn viên của Hội đồng
Quản lư Rác Cali công bố : “Chỉ tiêu
giải quyết 50% lượng rác phế thải của
cư dân Cali đă thành công sau 18 năm ban hành
Và trong ṿng 10 năm trở lại đây,
không có băi rác cùng hệ thống xử lư rác mới được
thành lập. Thiết
nghĩ, đây là một bài học lớn cho VN trong vấn
đề quản lư phế thải.
Thành quả
trên đây của California là kết quả của một
sự phối hợp giữa chính quyền và người
dân.
Cũng cần nên nói thêm là người dân đă ư thức được
tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường
bằng cách thi hành quyết định của từng địa
phương như là phân loại rác và phế thải vào
những thùng rác riêng rẽ: như thùng đựng phế thải
thực phẩm (rác hữu cơ ), thùng đựng
rác do cây kiểng và sân cỏ , thùng đựng những
phế thải có thể tái sinh như chai lọ, thủy
tinh, plastic, giấy báo, lon, hộp..v.v... Ngoài việc
giảm thiểu phân nửa thể tích của băi rác, các
phế thải tái sinh đă góp một phần không nhỏ
trong kỹ nghệ sản xuất nguyên vật liệu như
giấy, plastic, thủy tinh,
vừa giải quyết được một
phần t́nh trạng ô nhiễm môi trường và tiết
giảm được mức xử dụng tài nguyên thiên
nhiên. Chính người dân và các Công ty công
nghệ nhận thức được tầm quan
trọng của mức tiết giảm trên. Do đó,
chính họ đă biến các cơ sở thành những nơi
sản xuất công nghệ sạch và xanh.
Từ bài học của tiểu bang California
Hoa kỳ, Việt Nam, đứng trước những
thách thức do phát triển, gây ra t́nh trạng ô nhiễm môi
trường đang có chiều hướng ngày càng lan
rộng, công nghệ xây dựng băi rác cùng việc thiết
kế nhà máy xử lư của VN đang c̣n ở trong t́nh trạng
sơ khai. Do đó, VN cần phải chuẩn bị
một đội ngũ nhân sự chuyên
môn trong công nghệ này đồng thời với việc
huấn luyện cán bộ quản lư môi trường.
Thêm nữa, sự
thành công của Cali trong vấn đề giải quyết
phế thải, phần lớn là do ư thức bảo
vệ môi trường của người dân cao qua quá tŕnh
giáo dục và được hướng dẩn qua
truyền thông, truyền h́nh, học tập và báo chí. Đây mới chính là điễm rốt ráo trong phương
cách giải quyết vấn đề.
Và muốn được như thế, chương
tŕnh công dân giáo dục nơi học đường
cần phải có trong chương tŕnh học như
những điều luật căn bản cần thiết
cho một xă hội dân sinh văn minh như :
Luật đi đường , luật xả rác công công,
thái độ chấp hành luật lệ chung, và nhất là luật phải được
áp dụng cho tất cả mọi người dân và không có
ngoại lệ nào cho bất cứ ai cả!
Một môi trường
sạch chỉ có trong một xă hội sạch mà thôi.
Và muốn có một xă hội “sạch”,
những người quản lư Đất và Nước
cần phải có một chân Tâm và một tấm ḷng
thiết tha với tổ quốc hơn là cố bám
giữ quyền lực để phục vụ cho một
thiểu số đi ngược lại quyền lợi
và phúc lợi của tuyệt đại bộ phận dân
tộc Việt Nam.
Mai Thanh Truyết
West Covina 11/2007