T̀NH TRẠNG Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở TRUNG HOA: VẤN ĐỀ
QUỐC GIA HAY THẢM HỌA THẾ GIỚI?
Nguyễn Minh
Quang
Tháng 10 năm 2007

Ô nhiễm không khí từ một
nhà máy ở Yutian, Hebei (AFP)
PHẦN
MỞ ĐẦU
Vấn
đề ô nhiễm môi trường ở Trung Hoa có lẽ
là “một phản ứng phụ” tai hại của
chương tŕnh đổi mới kinh tế do Chủ
tịch Deng Xiaoping khởi xướng khi ông nắm
quyền lực từ năm 1978.
Với chủ trương “Phát triển trên hết”
và “Làm giàu là vinh quang,” ông đă giúp Trung Hoa thoát ra khỏi
những giáo điều cứng nhắc để
đạt được một số thành quả “kỳ
diệu” chỉ sau một phần tư thế kỷ (1). Kinh tế Trung Hoa bắt
đầu tăng trưởng nhanh. Tổng sản lượng
quốc gia (GDP) tăng 9,6 % mỗi năm từ 1979
đến 2004 và đạt 11,1 % trong năm 2006, một
thành quả gây chú ư trên toàn thế gioi
Chủ
tịch Deng Xiao Ping
“Phát
triển trên hết” (1)
Cùng với
sự phát triển kinh tế, môi trường càng ngày càng ô
nhiễm nghiêm trọng khiến cả thế giới
phải quan tâm, nhất là sau vụ nổ một nhà máy hóa chất ở Jilin làm ô nhiễm
nguồn nước của sông Songhua vào năm 2005 (3).

Nhưng chủ
trương “Phát triển trên hết” đă được
“áp dụng sai;” cho nên, sự tăng trưởng kinh
tế luôn luôn được xem như là ưu tiên hàng
đầu của Trung Hoa và là thước đo hiệu
năng làm việc của viên chức chánh phủ (4). Chánh quyền địa
phương, với quyền hạn rộng răi lại được
khuyến khích theo đuổi việc phát triển kinh
tế, không màng đến hậu quả tai hại
đối với môi trường và chỉ chú trọng
đến các dự án năng lượng hoặc kỹ
nghệ nặng để thúc đẩy nền kinh tế
địa phương.
Để thu hút đầu tư, nhiều địa
phương đă áp dụng chánh sách “ô nhiễm
trước, tẩy xóa sau” (pollute now, clean up later) bằng
cách hạ thấp tiêu chuẩn môi trường hoặc bao
che cho các cơ sở gây ô nhiễm quan trọng. Chánh sách nầy đă giúp Trung Hoa
trở thành “một nền kinh
tế phát triển nhanh nhất thế giới,”
nhưng Trung Hoa “... cũng
đạt được một thành tích đáng sợ
khác: số chết non do ô nhiễm không khí cao nhất
thế giới” (5).
Trong Hội
nghị Chuyên đề về những Thách thức Y
tế Môi trường mà Trung Hoa đang Đối mặt (Symposium
on Environmental Health Challenges Facing China) do Hiệp hội cho
Tiến bộ Khoa học Hoa Kỳ (American Association for the
Advancement of Science) tổ chức vào ngày 19 tháng 2 năm 2000,
các nhà khoa học quốc tế, kể cả các nhà khoa
học Trung Hoa, đă cảnh báo về t́nh trạng ô
nhiễm không khí ở Trung Hoa (6); nhưng t́nh h́nh càng ngày
càng trở nên tồi tệ mặc dù Trung Hoa đă áp
dụng nhiều biện pháp và chánh sách để kiểm
soát ô nhiễm.
Bài viết
nầy nhằm mục đích t́m hiểu t́nh trạng ô
nhiễm môi trường ở Trung Hoa hiện nay, t́m
hiểu các biện pháp mà chánh quyền Trung Hoa đă, đang,
và sẽ áp dụng để bảo vệ và cải
thiện môi trường, và sau cùng t́m hiểu xem liệu
t́nh trạng ô nhiễm môi trường ở Trung Hoa có
thể gây thảm họa cho thế giới và các biện
pháp mà cộng đồng thế giới áp dụng
để đối phó.
HIỆN
TRẠNG Ô NHIỄM
MÔI
TRƯỜNG Ở TRUNG HOA
Ô
nhiễm không khí

Ở Shanxi, nhà cửa đóng
đầy bụi khói,
mặt người thợ mỏ
lấm đen,
và không khí khét lẹt mùi than cháy
(9).
Trung Hoa đă,
đang, và sẽ c̣n sử dụng than đá như là
nguồn năng lượng chính trong việc phát triển
kinh tế v́ nước nầy có trữ lượng than
đá lớn nhất thế giới. Trung Hoa là quốc gia sản
xuất và tiêu thụ than đá lớn nhất thế
giới, nhưng kỹ nghệ than đá ở Trung Hoa
vẫn tiếp tục tăng trưởng và
được xem như là “động lực của kinh
tế quốc gia” và “lương thực của kỹ
nghệ.” Sản lượng
than tăng từ 1,55 tỉ tấn năm 2003 lên 1,95 tỉ
tấn năm 2004 và 2,1
tỉ tấn năm 2005 (40%
sản lượng than trên thế giới) (7). Mức tiêu thụ than đá ở
Trung Hoa tăng nhanh trong những năm gần đây
để đáp ứng nhu cầu điện trong việc
phát triển kinh tế. Ba
phần tư số điện nầy được
sản xuất từ các nhà máy điện chạy bằng
than đá và cứ mỗi tuần th́ có một nhà máy
mới được xây cất (8).
Các nhà máy
điện chạy bằng than đá nầy liên tục
nhả ra bụi khói (soot), sulfur dioxide, carbon dioxide, và các
chất ô nhiễm độc hại khác vào không khí. Nhiều vùng rộng lớn ở
vùng trung bắc Trung Hoa bị ô nhiễm trầm trọng
với “... khói xám nhạt của
bụi sulfur và các chất ô nhiễm khác làm âm u bầu
trời và làm mờ những cánh đồng múa ḿ xanh
tươi và những vườn đào đang nở hoa
trắng ở xa xa... Đường sá bị bao phủ
bởi nhựa than, nhà cửa được tráng một
lớp bụi khói, các thợ mỏ mặt mủi lọ
lem kéo các xe đầy than đá, và không khí th́ khét lẹt mùi
than cháy” (5). Mức độ ô nhiễm càng
thêm trầm trọng trong mùa đông, nhiều lúc phải
mở đèn trong lúc lái xe dù là ban ngày. Theo một nghiên cứu của
Ngân hàng Thế giới th́ có đến 16 thành phố ở
Trung Hoa lọt vào danh sách 20 thành phố ô nhiễm nhất
thế giới, trong số đó có Beijing, thường
bị che phủ bởi bụi mù ô nhiễm (smog) nặc
mùi (9). “Hôm nay – cũng như hôm qua và hôm kia - bầu trời
của thành phố [Beijing] tối sầm v́ bụi mù sulfur
dày đặc, tưởng như nuốt chững các nhà
chọc trời... Bay ngang qua
cả nước, bạn sẽ thấy hết thành
phố nầy đến thành phố khác bị bao phủ
bởi một màn sương xám hầu như bất
tận” (10). Trong số
nầy, phải kể đến Shanghai, bởi v́ “Dường như ngày nào
cũng vậy, một màn sương vàng treo lơ lửng
trên những công trường xây cất náo nhiệt frenzy)
ở Shanghai” (11). Trong
năm 2005, có khoảng 50 % thành phố ở Trung Hoa không
đạt tiêu chuẩn không khí (12).
Sulfur dioxide phát
sinh từ việc đốt than đá là mối đe
dọa trực tiếp và tức thời đối
với sức khỏe của người dân Trung Hoa,
khiến khoảng 400.000 trẻ em bị chết non hàng
năm (9). Theo Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO), con số nầy lên đến
656.000 (5) và theo một nghiên cứu mới đây của
Ngân hàng Thế giới (WB), con số đó có thể lên
đến 750.000 (13). Mặc
dù có các kế hoạch để giảm 2 % chất ô
nhiễm trong năm qua, lượng sulfur dioxide phóng thích vào
khí quyển đă lên đến 25,9 triệu tấn trong
năm 2006, nhiều hơn năm 2005 khoảng 1,5 % (14).

Ô nhiễm không khí ở Beijing (Tracey Allen)
Sulfur dioxide kết
hợp với nước trong khí quyển thành acid sulfuric
và rơi xuống đất cùng với nước mưa
hoặc tuyết, gọi là mưa acid. Mưa acid có thể gây thiệt
hại cho hoa màu và cây cối, gây bệnh hoặc giết
chết cá trong sông hồ, và gây hư hại cho nhiều
công tŕnh kiến trúc. Theo đà
gia tăng lượng sulfur dioxide phóng thích vào khí quyển,
t́nh trạng mưa acid ở Trung Hoa càng ngày càng trở nên
nghiêm trọng và không c̣n kiểm soát nổi. Trong năm 2004, mưa acid
được ghi nhận ở 250 thành phố trong cả
nước (15). Đến năm
2005, mưa acid bao trùm một phần ba lănh thổ Trung Hoa
khiến phẩm chất đất và an toàn thực
phẩm bị đe dọa. Hơn
phân nửa con số 696 trạm khí tượng trên toàn
quốc ghi nhận mưa acid; trong số đó, có một
vài thành phố ghi nhận 100 % nước mưa acid (16).
Ô
nhiễm nguồn nước
T́nh trạng ô
nhiễm nguồn nước ở Trung Hoa đă lên
đến mức báo động và gây quan ngại cho
nhiều cơ quan và tổ chức quốc tế. Kết quả nghiên cứu do
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development (OECD)) ở Paris,
Pháp thực hiện cho thấy 1/3 chiều dài của các con
sông, 75% các hồ lớn, và 25% bờ biển ở Trung Hoa
bị ô nhiễm cao v́ nước thải gia dụng, nông
nghiệp, và kỹ nghệ được xả thẳng
vào nguồn nước.
Hầu hết nguồn nước chảy qua các vùng
đô thị ở Trung Hoa th́ không thích hợp để
uống hoặc nuôi cá và mỗi ngày gần 300 triệu
người đang uống nước ô nhiễm (17). Nhưng những con số nầy
chắc chắn không phản ánh chính xác mức độ ô
nhiễm nguồn nước ở xứ nầy v́ nó
được ước tính theo tiêu chuẩn nước
uống của Trung Hoa, một tiêu chuẩn rất thấp
so với tiêu chuẩn nước uống do Tổ chức
Y tế Thế giới ấn định.

Ô nhiễm sông Yellow ở Lanzhou,
Gansu (AP)
Phân nửa
chiều dài của 7 hệ thống sông chánh ở Trung Hoa,
kể cả trung và hạ lưu sông Yangtze và hạ lưu
sông Pearl, bị ô nhiễm trầm trọng. 86% các thủy lộ đô thị
không đạt tiêu chuẩn nguồn nước. Kết quả phân tích mẩu
nước thu thập trong một đoạn dài 2.000 km
của sông Huai cho thấy 78,7% không đạt tiêu chuẩn
nước uống, 79,7% không đủ tiêu chuẩn
để nuôi cá, và 32% không đủ tiêu chuẩn
để canh tác. Năm 2001,
vùng ven biển ở Trung Hoa có 77 đợt thủy
triều đỏ (red tide) với diện tích khoảng
15.000 cây số vuông so với 28 đợt với diện
tích khoảng 10.000 cây số vuông trong năm 2000. (2).
T́nh trạng ô
nhiễm dường như xảy ra ở khắp mọi
nơi trong cả nước.
Ở Xiditou, cách Beijing khoảng 60 dặm về phía
đông, “... Hàng chục nhà máy
hóa chất ở địa phương - những nhà
sản xuất hóa chất độc hại kể cả
acid sulfuric - xả nước thải trực tiếp vào
sông Feng Chan đen ng̣m như mực và đầy rác
rến. Các con kinh gần đó
cũng đổi màu như vậy, cho nên người dân
địa phương gọi chúng là ‘xiao hong he’ tức
‘sông đỏ nhỏ’... Ông Li
Baoqi, một người bán thuốc thú y 41 tuổi, nói:
‘Nước thật kinh khủng.
Uống nước nầy chẳng khác nào tự vận’” (18)
Nước
thải từ các nhà máy hóa chất
xả vào sông Feng Chan (18)
Trong năm 2006,
có 842 tai nạn môi trường quan trọng xảy ra
ở Trung Hoa, trong đó có khoảng 480 vụ liên quan
đến ô nhiễm nước.
Vào tháng 9, hai nhà máy hóa chất ở Hunan đă xả
bất hợp pháp một hợp chất arsenic rất
độc hại vào một nhánh của hồ Dongting,
hồ nước ngọt lớn thứ hai ở Trung Hoa,
làm gián đoạn việc cung cấp nước cho
gần 80.000 cư dân. Vào tháng
5/2007, rong xanh đă bùng phát ở hồ Taihu khiến cho
nước máy của thành phố Wuxi, Jiangsu phải ngừng
hoạt động trong một tuần lễ (14) và 5
triệu cư dân phải dùng nước chai để
ăn uống và tắm rửa (11).
Sau đó không lâu, là hồ Dianchi ở miền tây nam
Trung Hoa rồi đến hồ Xinlicheng, nguồn
nước chính của thành phố Changchun, Jilin với 3
triệu dân ở miền bắc.
Nguyên nhân bắt nguồn từ các nhà máy, phân bón,
hoặc nước thải chưa gạn lọc (11).

Rong xanh bùng phát
trong
hồ Dianchi
ở Haigeng, Yunnan (SEPA)
Rong xanh bùng phát
trong
hồ Taihu
ở Wuxi, Jiangsu (AP)
Trong khi các viên
chức nhà nước cho rằng mức độ ô
nhiễm trong sông Yangtze, một con sông nổi tiếng
của Trung Hoa, th́ không đáng kể, thông tấn xă nhà
nước Xinhua cho là “mầm bệnh ung thư” (cancerous). Các nhà khoa học Trung Hoa cho
rằng t́nh trạng ô nhiễm của sông Yangtze rất
nghiêm trọng và có nguy cơ biến thành một ḍng sông
chết. Theo các kết quả
khảo sát gần đây, sông Yangtze phải tiếp nhận
khoảng 25 tỉ tấn nước thải mỗi
năm, tức khoảng 40% tổng số nước
thải của cả nước.
Trên 80% số nước nầy không được
gạn lọc và được xả thẳng vào sông. Dọc theo sông có khoảng 500
trạm bơm để lấy nước uống. Một vài trạm đă
được dời ra giữa ḍng để tránh
nước ô nhiễm cao chảy gần bờ (19).


Nước thải kỹ
nghệ xả thẳng vào
sông Yangtze ở Yichang, Hubei (Xinhua)
Giá trị
kinh tế
của
ô nhiễm môi trường
Bây giờ th́
không c̣n một ai có thể phủ nhận cái giá trị kinh
tế của t́nh trạng ô nhiễm môi trường,
kể cả các viên chức chánh quyền trung ương
lẫn địa phương ở Trung Hoa. Nó ảnh hưởng đến
sức khỏe của người dân, giảm hoặc làm mất
sức lao động, gặm nhắm sự tăng
trưởng kinh tế quốc gia, và gây bất ổn xă
hội (20). Cái giá đó là bao
nhiêu th́ vẫn c̣n trong ṿng tranh căi.

Ô nhiễm không
khí ở Hohhot, Inner Mongolia
Giá trị kinh
tế đầu tiên được thế giới
biết đến có lẽ được tŕnh bày trong phúc
tŕnh Trung Hoa 2020 - Nước
Trong Trời Xanh (China 2020 – Clear Water Blue Skies) do Ngân hàng
Thế giới phổ biến vào năm 1997. Phúc tŕnh nầy nhấn mạnh
đến hậu quả kinh tế của t́nh trạng suy
thoái môi trường ở Trung Hoa và ước tính rằng
giá trị kinh tế của t́nh trạng ô nhiễm không khí
và nước ở Trung Hoa có thể thay đổi từ 3,5
đến 8 % GDP (21). Sau khi
phúc tŕnh nầy được công bố, chánh phủ Trung
Hoa yêu cầu Ngân hàng Thế giới hợp tác với các
viện nghiên cứu Trung Hoa và quốc tế để
thiết lập một mô h́nh giá trị kinh tế môi
trường (environmental cost model (ECM)) dựa theo những
phương thức phù hợp với t́nh trạng
đặc thù ở Trung Hoa.

Một thợ
mỏ dính đầy bụi than
ở Hanjing, Shanxi
(9)
Năm 2004, Ngân
hàng Thế giới kư hợp đồng với một toán
chuyên viên quốc tế, đặt dưới
hướng dẫn của ông Guo Xiaoming, cố vấn cao
cấp của Cơ quan Quản trị Môi trường Nhà
nước Trung Hoa (State Environmental Protection Administration
(SEPA)), để duyệt xét kết quả nghiên cứu ECM
trên thế giới và thiết lập và áp dụng những
phương thức mới trong việc ước tính giá
trị kinh tế hàng năm của t́nh trạng ô nhiễm
môi trường không khí và nước ở Trung Hoa từ
cấp trung ương đến địa
phương. Sau hơn 3 năm
nghiên cứu, một bản thảo phúc tŕnh với tựa
đề Giá trị Kinh tế
của Ô nhiễm ở Trung Hoa: Ước tính Kinh tế
của Thiệt hại Vật chất (Cost of Pollution in
China: Economic Estimates of Physical Damages) được phổ
biến để chuẩn bị cho hội nghị
quốc tế với chủ đề “Phát triển
Khả chấp” (Sustainable Development) được tổ
chức tại Beijing vào ngày 2 tháng 3 năm 2007. Theo phúc tŕnh nầy, tổng
số giá trị kinh tế của t́nh trạng ô nhiễm
không khí và nước ở Trung Hoa vào năm 2003 lên
đến 362 tỉ yuan hay 2,68 % GDP. Nhưng giá trị kinh tế có
thể lên đến 781 tỉ yuan hay 5,78 % GDP nếu
kết quả nghiên cứu ở Shanghai và Chongqing
được áp dụng (12).
Nhưng Trung Hoa
đă tạm ngưng vô thời hạn việc phổ
biến giá trị kinh tế của t́nh trạng ô nhiễm
môi trường ở Trung Hoa v́ giới chức ở các
cơ quan chuyên môn không đồng ư về phương pháp
tính toán, và quan trọng hơn, một số chánh quyền
địa phương đă chống đối việc
phổ biến những tin tức “nhạy cảm” về
ô nhiễm môi trường do chính họ gây ra (21). Quyết định nầy
được đưa ra có lẽ v́ giá trị kinh
tế được ước tính càng ngày càng tăng
một cách chóng mặt. Giá
trị kinh tế của t́nh trạng ô nhiễm môi
trường, được ước tính khoảng 100
tỉ yuan hay 12,8 tỉ US đô la mỗi năm (khoảng
1,4 % GDP) từ 1990 đến 1998 (2) đă lên đến 511,8
tỉ yuan hay 68 tỉ US đô la (khoảng 3 % GDP) trong
năm 2004 (20,22) và 1.505,8 tỉ yuan hay 200 tỉ US đô la
trong năm 2005 (khoảng 9 % GDP là 2.260 tỉ US đô la)
(23-25). Ô nhiễm môi
trường h́nh như đă xóa sạch mức tăng
trưởng kinh tế của Trung Hoa!

Chủ ao cá chết v́ ô nhiễm môi trường
ở Hangzhou, Zhejiang (23)
THẢM
HỌA THẾ GIỚI

Sông Sungari
(Songhua) ở Khabarovsk (Internet)
T́nh trạng ô
nhiễm ở Trung Hoa trở thành một mối đe
dọa trực tiếp cho cộng đồng quốc
tế sau vụ nổ ở nhà máy hóa dầu của Công ty
Dầu hỏa và Hóa chất Jilin vào tháng 11 năm 2005. Vụ nổ khiến sông Songhua,
nguồn nước duy nhất của 9 triệu cư dân Harbin,
bị ô nhiễm benzene, một tác nhân gây ung thư (26-27), buộc
nhà máy cung cấp nước cho thành phố Harbin ngừng
hoạt động. Sự
kiện nầy khiến các cơ quan môi trường và
cứu cấp ở Nga lo ngại nên họ bắt
đầu theo dơi phẩm chất nước trong sông Amur
ngay biên giới với Trung Hoa.
Sông Songhua, được gọi là sông Sungari ở
Nga, là một phụ lưu của sông Amur, nguồn cung
cấp nước uống chánh của thành phố Khabarovsk
với 600.000 dân ở ngay cạnh biên giới với Trung
Hoa (28).

Cư dân Harbin
xếp hàng lấy nước uống (Internet)
Nhưng hiểm
họa cho thế giới chính là việc phân tán không khí ô
nhiễm ở Trung Hoa trên phạm vi toàn cầu. Sulfur dioxide và thủy ngân phát
xuất từ việc đốt than đá đă tràn qua các
nước Đông Bắc Á (29). Không ảnh do vệ tinh SeaWiFS
của Cơ quan Quản trị Hàng không và Không gian Hoa
Kỳ (NASA) chụp vào năm 2004 cho thấy luồng không
khí ô nhiễm trên vùng trời phía đông Trung Hoa tràn ra
biển và bay về hướng đông bắc (30). Các quốc gia lân bang như
Nhật bản, Đài loan, Đại hàn, và cả Philippines đă
ghi nhận mưa acid do việc đốt than đá ở
Trung Hoa.
Hạt ô
nhiễm li ti (particulates), thủy ngân, và bụi phát xuất
từ Trung Hoa đang làm suy thoái phẩm chất không khí
ở bờ tây Hoa Kỳ. Các
nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ ước tính rằng có
đến 1/3 số hạt ô nhiễm li ti ở California
phát xuất từ Trung Hoa.
Trong năm 2006, các nhà nghiên cứu ở trường
Đại học California/Davis cho biết hầu hết
hạt ô nhiễm li ti ở hồ Tahoe bắt nguồn từ
Trung Hoa. Các nghiên cứu khác cho
biết có ít nhất 1/5 số thủy ngân trong sông Willamette
ở Oregon phát xuất từ nước ngoài, dường
như từ Trung Hoa. Số thủy
ngân nầy bắt đầu tích lũy đến mức
độc hại trong loài thú hoang ở địa
phương (29). Theo
ước tính của Cơ quan Bảo vệ Môi sinh Hoa
Kỳ (EPA), trong nhiều ngày, gần 25 % hạt ô nhiễm
li ti trên bầu trời Los Angeles phát xuất từ Trung
Hoa. Một số chuyên viên tiên
đoán rằng 1/3 mức ô nhiễm không khí của toàn
tiểu bang California phát xuất từ Trung Hoa (31).

Không ảnh SeaWiFS
năm 2004cho thấy
luồng bụi
ô nhiễm bay từ Trung Hoa ra biển (30)
Các nghiên cứu
khác cho biết bụi - từ sa mạc Gobi ở Mông
Cổ và sa mạc Taklamakan ở phía tây Trung Hoa - cuốn
theo gió về phía đông, trộn với chất ô nhiễm
từ các vùng kỹ nghệ nặng, đổi từ màu vàng
sang nâu, rồi bay ra Thái B́nh Dương và có khả năng bay
ṿng quanh trái đất trong 3 tuần lễ. Những ḍng không khí ô nhiễm
nầy, có thể rộng hơn sông Amazon và sâu hơn Grand
Canyon, có khả năng làm thay đổi khí hậu trên
thế giới. Ở đây,
những luồng bụi ô nhiễm nầy cấy mây
đại dương khiến cho những cơn mưa
giông trở nên dữ dội hơn. Ảnh hưởng của
những luồng bụi ô nhiễm nầy đối với
thời tiết rất phức tạp. Chúng có thể làm nguội khí
quyển v́ ngăn chận hơn 10 % ánh sáng mặt trời
ở Thái B́nh Dương và hạt sulfate lạnh trong
luồng bụi ô nhiễm có thể vô hiệu hóa ½ ảnh
hưởng của hiện tượng hâm nóng toàn cầu. Trái lại, các luồng bụi ô nhiễm
cũng có khả năng làm nóng bầu khí quyển v́
bụi khói (soot) hấp thụ năng lượng mặt
trời (32).
![[science journal]](onmtth_files/image033.jpg)
Không ảnh
SeaWiFS năm 2001 cho thấy
bụi từ Á
Châu bay đến California (32)
BIỆN
PHÁP ĐỐI PHÓ
B́nh
diện quốc gia
Nhà cầm
quyền Trung Hoa biết rất rơ ảnh hưởng kinh
tế và xă hội của t́nh trạng ô nhiễm môi
trường và đă đưa ra một số chánh sách
quan trọng liên quan đến môi trường kể
từ năm 1978. Bảo
vệ môi trường được xem như quốc
sách từ năm 1983. Năm
1994, một kế hoạch tổng thể đă
được soạn thảo để thực hiện
phát triển khả chấp trong Nghị tŕnh 21 của Trung
Hoa (China Agenda 21) do Liên Hiệp Quốc khởi xướng. Đến năm 1996, lần
đầu tiên một kế hoạch ngủ niên để
bảo vệ môi trường được công bố. Năm 1998, Cơ quan Quản
trị Môi trường Nhà nước SEPA được
nâng lên cấp bộ với nhiều quyền hạn
hơn với một ngân khoản chiếm gần 1 % GPD
với nhằm mục tiêu chấm dứt t́nh trạng suy
thoái môi trường vào năm 2010 (33).
Hiến pháp
của Trung Hoa được tu chính năm 1982 với
Điều 26 quy định rằng “nhà nước có nhiệm vụ
bảo vệ và cải thiện môi trường sống
của người dân và hệ sinh thái, ngăn ngừa và
kiểm soát ô nhiễm và các nguy hiểm công cộng, bảo
tồn tài nguyên thiên nhiên và động vật hoang dă.” Tính đến nay, Trung Hoa đă
ban hành 6 bộ luật về pḥng ngừa ô nhiễm, 9
bộ luật về bảo vệ tài nguyên, 29 bộ điều
lệ bảo vệ môi trường, hơn 70 quy chế,
và trên 900 bộ điều lệ của địa
phương.

Xe gắn máy lậu bị
tịch thu
ở Guangzhou, Guangdong (AP)
Nhưng
những lời tuyên bố và cam kết liên quan đến
môi trường Trung Hoa dường như chỉ ở
đầu môi. Mặc dù các
thành quả về luật lệ môi trường có vẽ
rất hấp dẫn, chúng không cho thấy một chút hiệu
năng nào trong việc bảo vệ môi trường. Cho đến nay, việc thi hành luật
lệ môi trường ở Trung Hoa cũng có những
yếu kém giống như các luật lệ khác: luật
lệ không rơ ràng, hệ thống tư pháp yếu kém và
không độc lập, luật pháp không được thi
hành hoặc thi hành lỏng lẻo.
Thêm vào đó, lợi ích của việc bảo vệ
môi trường thường không thể hiện ngay lập
tức; cho nên, không ai có quyết tâm chính trị để
đối phó với những vấn đề môi
trường ngay ngày hôm nay (33).
B́nh
diện quốc tế
Tiên đoán
được thảm họa toàn cầu mà t́nh trạng ô
nhiễm không khí trầm trọng ở Trung Hoa có thể gây
ra trong tương lai, cộng đồng thế giới -
qua nhiều chánh phủ, tổ chức đa phương,
và tổ chức phi chánh phủ (NGOs) – rất tích cực
trong việc đối phó với nhiều vấn
đề ô nhiễm không khí qua các dự án năng
lượng tái tạo (renewable energy), than sạch, hiệu
năng trong việc sử dụng năng lượng
(energy efficiency), và quản trị theo nhu cầu (demand-side
management) (34). Sau đây là
một số hoạt động tiêu biểu.
Nhật Bản
có lẽ là quốc gia tích cực nhất trong việc
hợp tác với Trung Hoa để giảm thiểu mưa
acid. Điều nầy cũng
dễ hiểu v́ hệ sinh thái ở Nhật Bản đă
chịu ảnh hưởng của mưa acid phát xuất
từ Trung Hoa. Nhật Bản
đề nghị rất nhiều dự án giảm mưa
acid bằng cách tài trợ cho các thành phố Trung Hoa với
lăi suất thấp trong 5 năm.
Chánh phủ Nhật đồng ư tài trợ 10 tỉ
US đô la, nhưng chánh phủ Trung Hoa cho biết các dự
án cần ít nhất 15 tỉ và Nhật Bản phải tài
trợ đầy đủ nếu thật sự quan tâm
đến mưa acid (35).
Hoa Kỳ, qua
Cơ quan Bảo vệ Môi sinh EPA, cũng đă hợp tác
với Trung Hoa, qua Cơ quan Quản trị Môi
trường Nhà nước SEPA, trong nhiều vấn
đề môi trường trong hơn 20 năm qua. Vào tháng 12 năm 2003, một biên
bản ghi nhớ (memorandum of understanding) đă
được EPA và SEPA kư kết để thiết
lập một Nhóm công tác về Không khí và Năng lượng
sạch nhằm mục đích giảm thiểu t́nh
trạng ô nhiễm không khí và khí thải gây hiệu ứng
nhà kiếng (greenhouses gases). Các
dự án hợp tác giữa EPA và SEPA chú trọng vào các lănh
vực quản trị phẩm chất không khí, giao thông,
điện, và xi măng (36). Gần đây, EPA tài trợ
cho Viện Tin tức Than đá Trung Hoa (China Coal Information
Institute) một ngân khoản 100.000 US đô la cho dự án
sản xuất điện bằng khí methane từ than
đá có phẩm chất thấp lấy từ một
mỏ than ở Anhui hoặc Henan (37). Từ năm 1996, Hội
đồng Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên (Natural Resources
Defense Council (NRDC)), một NGO có tiếng tăm ở Hoa
Kỳ, đă phát động một dự án có tên Năng
lượng Sạch cho Trung Hoa (China Clean Energy) để
hổ trợ cho việc phát triển một hệ
thống năng lượng khả chấp (sustainable
energy) qua việc cải thiện hiệu năng và sử
dụng năng lượng tái tạo (38).
Liên hiệp Âu
Châu, qua Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD,
đă phát động một chương tŕnh đối
thoại và hợp tác với Trung Hoa từ năm 1995
để trao đổi kinh nghiệm về chánh sách
trọng tâm cho việc tăng trưởng và phát triển
khả chấp. Trong năm
2005, chi phí cho chương tŕnh nầy lên đến 15 % ngân
khoản mà OECD dành cho các quốc gia không phải là thành
viên. Chương tŕnh bao
gồm 19 lănh vực đối thoại, trong đó có
vấn đề bảo vệ môi trường. Trong 10 năm qua, OECD đă hợp
tác với Trung Hoa trong việc củng cố thị
trường để đạt các chỉ tiêu môi
trường, cải thiện hệ thống tin tức môi
trường, và khuyến khích việc chấp nhận
dữ kiện về sản phẩm hóa học. Lần đầu tiên, phúc tŕnh
Duyệt xét Thành quả Môi trường Trung Hoa (Environmental
Performance Review of China) đă được công bố vào
năm 2007 (39).
Các cơ quan tài
chánh quốc tế cũng quan tâm đến hậu quả
của việc sử dụng than đá đối với
môi trường thế giới.
Ngân hàng Phát triển Á Châu đang tài trợ một
số chương tŕnh kiểm soát ô nhiễm ở Shanxi. Trong năm 2003, Ngân hàng Thế
giới cung cấp cho tổ chức Cơ sở Môi
trường Toàn cầu (Global Environmental Facility) một ngân
khoản 15 triệu US đô la để xây một nhà máy
phát điện hiện đại chuyển than đá sang
khí đốt trước khi sử dụng, nhưng chánh
phủ Trung Hoa tạm ngưng dự án v́ nhà thầu bỏ
giá cao hơn dự tính (10).
Đến năm 2006, Công ty Tài trợ Quốc tế
(International Finance Corporation (IFC)), một chi nhánh tư
của Ngân hàng Thế giới, cho biết một ngân khoản
lên đến 50 triệu US đô la sẽ được
đầu tư ở Inner Mongolia để chế tạo
dimethyl ether (DME), một nhiên liệu ít làm hại môi
trường hơn, để thay thế dầu cặn
(diesel) dùng trong ngành vận tải và sản xuất điện
(16).
Ngay các tổ
chức môi trường thân Trung Hoa, chẳng hạn như
Môi trường Thái B́nh Dương (Pacific Environment) có
trụ sở ở San Francisco, cũng đang gia tăng áp
lực yêu cầu Trung Hoa giới hạn lượng khí
thải gây hiệu ứng nhà kiếng theo tinh thần Nghị
định thư Kyoto 1997.
Mặc dù Trung Hoa không có trách nhiệm pháp lư trong
việc giới hạn hoặc giảm thiểu khí
thải gây hiệu ứng nhà kiếng được ghi
trong Hội nghị về Thay đổi Khí hậu của
Liên Hiệp Quốc 1992 và Nghị định thư Kyoto
1997 (v́ được xem như một quốc gia đang
phát triển), phần đóng góp của Trung Hoa vào hiện
tượng hâm nóng toàn cầu sẽ có ảnh hưởng
quan trọng đến môi trường của mọi
quốc gia trên trái đất.
Cung cách quản trị những vấn đề môi
trường ở Trung Hoa sẽ gây ảnh hưởng
nghiêm trọng trên toàn cầu (40).
KẾT
LUẬN
Dưới sự
lănh đạo của đảng Cộng Sản và chương
tŕnh đổi mới kinh tế từ năm 1978, Trung Hoa
đă áp dụng chủ trương “Phát triển trên
hết” và “Làm giàu là vinh quang” của Chủ tịch Deng
Xiaoping để đạt được một số
thành quả kinh tế “kỳ
diệu” chỉ sau một phần tư thế kỷ. Người Trung Hoa rất tự
hào về thành quả nầy: thành quả mà các nước
Tây phương phải mất hàng thế kỷ mới
thực hiện được (41). Từ 1979 đến 2004, kinh
tế Trung Hoa tăng trưởng ở mức 9,6 %
mỗi năm và đạt 11,1 % trong năm 2006, với GDP được
Ngân hàng Thế giới ước lượng khoảng
2.670 tỉ US đô la. Với
đà tăng trưởng đó, Trung Hoa có khả năng qua
mặt Đức để trở thành cường quốc
kinh tế thứ ba của thế giới vào năm 2007,
sau Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Nhưng sau ánh
hào quang sáng chói đó, t́nh trạng ô nhiễm môi
trường ở hầu hết mọi nơi ở Trung
Hoa đă đến mức nguy hiểm chết
người (deadly extremes), t́nh trạng mà vài quốc gia tiên
tiến trên thế giới xem là “thảm họa”: cư dân
trong các thành phố kỹ nghệ ít khi thấy ánh mặt
trời, trẻ con chết hoặc mắc bệnh v́ ch́
hoặc các h́nh thức ô nhiễm khác, nước sông
hồ bị ô nhiễm v́ nước thải gia dụng
hoặc kỹ nghệ, và thủy triều đỏ khiến
thủy sản bị tiêu diệt trong nhiều vùng biển
ven bờ rộng lớn. T́nh
trạng ô nhiễm môi trường ở Trung Hoa không
chỉ là một vấn đề quốc gia mà c̣n có
khả năng trở thành một thảm họa của
thế giới, nếu nó không được ngăn
chận một cách thích đáng.
Dữ kiện đo đạc và kết quả nghiên
cứu cho thấy, không khí ô nhiễm ở Trung Hoa đă di
chuyển toàn cầu và có thể có ảnh hưởng
nghiêm trọng đến khí hậu và hiện tượng
hâm nóng toàn cầu.
Giá trị kinh
tế của t́nh trạng ô nhiễm môi trường,
được ước tính khoảng 100 tỉ yuan hay
12,8 tỉ US đô la mỗi năm (khoảng 1,4 % GDP)
từ 1990 đến 1998 (2) đă lên đến 511,8 tỉ
yuan hay 68 tỉ US đô la (khoảng 3 % GDP) trong năm 2004 và
1.505,8 tỉ yuan hay 200 tỉ US trong năm 2005 (khoảng 9 %
GDP). Ô nhiễm môi
trường h́nh như đă xóa sạch mức tăng
trưởng kinh tế của Trung Hoa!
Mặc dù có
sự giúp đở tích cực và lâu dài của cộng
đồng thế giới, đảng Cộng Sản và
chánh quyền trung ương ở Beijing dường
như đă bất lực trong việc đối phó
với t́nh trạng ô nhiễm môi trường ở Trung
Hoa, bởi v́ chánh quyền ở địa phương
đă và đang “làm tốt nhiệm vụ trên giao”: trung
thành với đảng và đạt chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế cao.
Họ không chú trọng đến việc bảo
vệ môi trường (v́ ảnh hưởng đến
lợi nhuận), mà nhiều lúc c̣n hạ thấp tiêu
chuẩn hoặc bao che cho các cơ sở sản xuất
gây ô nhiễm để thu hút đầu tư cho
địa phương của ḿnh.
Đối với họ “ô nhiễm trước, tẩy
xóa sau!”
Để che
lấp phần nào cho sự thất bại, để xoa
dịu sự chống đối ngày càng gia tăng (50.000
vụ biểu t́nh trong năm 2005) ở trong nước, và
để giảm áp lực của cộng đồng
quốc tế; giới chức có thẩm quyền,
phương tiện truyền thông, và một số nhà
hoạt động môi trường ở Trung Hoa đang
phát động một chiến dịch “đổ
thừa” cho các quốc gia phát triển và các công ty đa
quốc đang hoạt động ở Trung Hoa (3). Ông Pan Yue, Phó giám đốc Cơ
quan Quản trị Môi trường Nhà nước SEPA,
khẳng định:
“Với
đà gia tăng của toàn cầu hóa, các quốc gia đă
phát triển đang chuyển kỹ nghệ của họ
sang các quốc gia đang phát triển dưới h́nh
thức đế quốc môi trường. Ở Trung Hoa, ô nhiễm di
chuyển từ đông sang tây và từ thành thị
đến nông thôn.
Người giàu tiêu thụ và người nghèo gánh
chịu ô nhiễm. Sự
bất b́nh đẳng giữa kinh tế và môi
trường do sự hiểu biết sai lạc của
một số viên chức về thành tích chánh trị và
tăng trưởng, đi ngược lại những
mục tiêu căn bản của chủ nghĩa xă hội
và từ bỏ những thành tựu của chủ nghĩa
xă hội ở Trung Hoa. Là
một nước xă hội chủ nghĩa, Trung Hoa
phải thống nhất với các quốc gia đang phát
triển khác để chống lại một trật
tự kinh tế quốc tế gây bất b́nh đẳng
môi trường. Ở trong
nước, chúng ta cần phải thiết lập các
hệ thống để tránh gây rủi ro cho môi
trường v́ phát triển thiếu cân bằng. Từ đó chúng ta có thể
thấy quyết tâm và tính đúng đắn của các quan
điểm chánh trị của Ban bí thư Trung ương đảng
Cộng Sản: cái nh́n khoa học trong sự phát triển
và việc xây dựng một xă hội hài ḥa, bảo
tồn tài nguyên, và ít gây thiệt hại môi trường và
sự cần thiết và cấp bách trong việc thúc
đẩy một h́nh thức kỹ nghệ hóa hoàn toàn
mới”
(41).
Cơ quan SEPA
của ông Pan Yue đă làm được bao nhiêu để
ngăn chận t́nh trạng suy thoái môi trường ở
Trung Hoa, theo các quan điểm chánh trị “đúng
đắn” của Ban bí thư, th́ chưa được
công bố; nhưng những con số thống kê mới
nhất làm cho cộng đồng thế giới giật
ḿnh và cần phải có những biện pháp tích cực
hơn. Mặc dù có nhiều
kế hoạch để cắt giảm 2 % chất ô
nhiễm trong năm 2006, số lượng sulfur dioxide
tăng đến 25,9 triệu tấn, 1,5 % nhiều hơn
năm 2005 (14) và Trung Hoa đă thay thế Hoa Kỳ
để trở thành quốc gia phóng thích nhiều khí carbon
dioxide nhất thế giới với 6,2 tỉ tấn so
với 5,8 tỉ tấn.
Biện pháp có
hiệu quả nhất để bắt buộc Trung Hoa
cải thiện t́nh trạng ô nhiễm môi trường mà
cộng đồng thế giới có thể áp dụng có lẽ
cũng không nằm ngoài cái luật cung cầu của
nền kinh tế thị trường tự do. T́nh trạng ô nhiễm môi
trường ở Trung Hoa, nhất là ô nhiễm không khí, bắt
nguồn từ các hoạt động sản xuất
để “cung” ứng nhu “cầu” của thị
trường thế giới và đang gia tăng theo nhu
cầu nầy. Nếu nhu
cầu giảm, ô nhiễm môi trường cũng sẽ
giảm theo!
Nói th́ rất
dễ và ai nói cũng được. C̣n làm được hay không là
chuyện khác!
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
(1)
Wikipedia. Accessed on September 26, 2007. “Deng
Xiaoping.” http://en.wikipedia.org/wiki/Deng_Xiaoping.
(2)
Gaoming
Jiang and Jixi Gao. January 12,
2007. “The terrible cost of China’s
growth.” http://www.chinadialogue.net/article/show/single/en.
(3)
Michael
Lelyveld. December 18, 2006. “China Shifts Pollution Blame.” Edited by Richard Finney. Radio
Free Asia. http://www.rfa.org.
(4)
Ma
Jun. January 31, 2007. “How
participation can help China’s ailing environment.” http://www.chinadialogue.net/article/show/single/en.
(5)
Kevin
Holden Platt. July 9, 2007. “Chinese Air Pollution Deadliest in World,
Report Says.” http://www.nationalgeographic.com/news.