Năng
Lượng Biogas- Khí Sinh Học

T́nh trạng năng
lượng ngày càng khan hiếm trên thế giới, đặc
biệt là các loại năng lượng hoá thạch (fossil
fuels) như dầu khí và than đá. Hiện nay, giá
dầu thô đă bước qua ngưỡng cửa 90 Mỹ
kim và có nhiều chỉ dấu sẽ tăng lên 100 Mỹ
kim trong một tương lai không xa cũng như trữ lượng
dầu ước ước tính sẽ cạn kiệt vào
năm 2050. Tương tự, các mơ than cũng đang được
khai thác tối đa tăng theo nhu cầu năng lượng
của các nước trên thế giới đặc biệt
là Trung Quốc và Ấn Độ. Trung Quốc hiện tại
là một nước tiêu thụ dầu hoả đứng
thứ hai trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ với mức
tiêu thụ trên 16 triệu thùng dầu một ngày.
Trước t́nh
trạng trên, từ hơn 20 năm qua, nhiều nhà khoa học
trên thế giới đă bắt đầu truy t́m loại
năng lượng khác nhất là các loại năng lượng
tái lập (renewables). Bài viết nầy tập trung vào
một loại năng lượng gần gũi
với chúng ta nhất, đó là năng lượng có được
từ rác hữu cơ từ gia đ́nh và phân chuồng của
gia súc như trâu, ḅ ngựa vân vân…
Theo định
nghĩa biogas hay khí sinh học là hỗn hợp khí methane và
một số khí khác phát sinh từ sự phân huỷ các vật
chất hữu cơ. Methane cũng là một
khí tạo ra ảnh hưởng nhà kính gấp 21 lần hơn
khí carbonic. Theo ước tính của Bộ Năng lượng
Hoa Kỳ, nếu sử dụng tất cả nguồn
nguyên liệu có thể tạo ra khí sinh học để
dùng trong vận chuyển th́ lượng năng lượng
nầy có thể làm giảm 500 triệu tấn khí carbonic
hàng năm, tương đương với với số
lượng 90 triệu xe dùng trong một năm.
Năng
lượng Biogas
Biogas được
xem như là một loại năng lượng sinh học
có được từ sự nén hoặc khữ (digestion)
hay lên men (fermentation) trong điều kiện yếm khí
(anaerobic) của những vật chất có nguồn gốc
hữu cơ như phân chuồng, bùn (sludge) trong hệ thống
cống rănh), rác phế thải gia cư, hoặc các loại
rác hữu cơ có thể bị sinh phân huỷ (biodegradable
waste). Các biogas chính yếu trong những điều
kiện kể trên gồm khí methane và khí carbonic (CO2)
và một số khí thải khác như nitrogen (N2),
Hydrogen (H2), hydrogen sulphide (H2S) và oxygen (O2).
Tuỳ theo nguồn gốc phát sinh ra khí ,
những loại năng lượng sinh học có nhiếu
tên khác nhau như: khí ẩm ướt (swamp gas), khí ẩm từ
cây cỏ (marsh gas), khí băi rác (landfill gas), và khí nén (digester
gas).
Trong tất cả
khí phát thải qua phương pháp nén yếm khí (anaerobic
digestion), methane là khí hữu dụng nhất ,
là một loại năng lượng tái tạo cho việc
chạy xe, hay chạy máy phát điện. Methane c̣n dùng trong
việc nấu ăn, đốt ḷ sưởi, làm đèn , hay tạo ra sức nóng v.v…
Sau đây là vài
số liệu về mức sản xuất khí biogas. 22 quốc gia
trong Liên Hiệp Âu Châu (EU) năm 2006 đă sản xuất
62.000 GWh, trong đó 32.000 GWh đến từ khí băi rác và
11.000 đến từ khí ẩm ướt từ bùn trong hệ
thống cống rănh. Có 17.000 GWh đă được
hoán chuyển thành điện năng. Đức
là quốc gia sản xuất biogas nhiều nhất với
22.000 GWh.
Tại Hoa Kỳ,
lượng biogas sản xuất
chiếm 6% khí đốt thiên nhiên sử dụng cho
toàn quốc vào năm 2006, tương đương 10 tỷ Gallons xăng. Ngày 4/8/2007 vừa
qua quốc hội Hoa Kỳ mới vừa mang dự luật
Khuyến khích sản xuất khí sinh học 2007 (Biogas
Production Incentive Act 2007) nhằm mục đích: 1- dùng quỷ
dự trử nông nghiệp để
trả cho nhà sản xuất khí sinh học trước năm
2013; 2- tạo điều kiện thuận lợi cho việc
vay nơ đầu tư, trợ cấp cho những nhà sàn
xuất mới…Từ đây, dự luật một khi thành
luật sẽ khuyến khích nông dân đẩy mạnh các dự
án biến phế thải thành khí sinh học, giảm thiểm
một số lượng không nhỏ trong việc sử
dụng năng lượng và hạn chế sự hâm nóng
toàn cầu qua việc giảm thiểm khí carbonic thải hồi
vào không khí.
Phương
pháp nén kỵ khí
Như đă nói
trên, đây là một phương pháp dựa theo
nguyên tắc phân huỷ sinh học của những vật
chất hữu cơ trong điều kiện không có không
khí. Do đó hệ thống nén yếm khí được chế
tạo để khử tất cả phế thải hữu
cơ, bùn hữu cơ, cùng phân chuồng để cho ra khí
methane và một số khí khác. Tuỳ theo nguyên liệu sử
dụng (phế thải) khí methane thu hoạch được
chiếm khoảng từ 50 đến 75% tổng lượng
khí h́nh thành, khí carbonic chiếm 25-50%, Nitrogen
0-10%, Hydrogen 0-1%, Hydrogen sulphide 0-3%, và Oxygen 0-2%. Khí sinh học
từ phân chuồng cho 65% khí methane, lá cây khô cho 58%, và lá cây tươi
được 70% methane.
Lượng khí
sinh học sản xuất tuỳ theo
nguyên uỷ của phế thải và phương pháp lên
men, điều kiện nhiệt độ, các chủng loại
ḷ khữ yếm khí, và thời gian phản ứng (retention
time). Điều kiện tối ưu cho mức
sản xuất khí là ở nhiệt độ 33oC
và thời gian phản ứng là 100 ngày. Thí dụ: 1 Kg
phân chuồng (ḅ, ngựa, trâu) cho được 15 lít khí
sinh học trong thời gian phản ứng 30 ngày dưới
nhiệt độ 20oC. Nếu thời gian phản
ứng kéo dài lên 100 ngày dưới nhiệt độ 33oC,
lượng phân nầy sẽ cho 54 lít khí sinh học.
Lợi
điểm trong việc sản xuất khí sinh học
Việc sản
xuất khí sinh học tạo ra rất nhiều thuận lợi
cho người dân nhất là nông dân, giải quyết được
một số vần để năng lượng cho địa
phương và ngay cả trên b́nh diện quốc gia, chính
quyền trung ương có thể quân b́nh được
cán cân phân phối và quân b́nh năng lượng và giảm thiểu
được ngoại tệ do nhập cảng xăng dầu.
Do đó, hai lănh vực môi trường và kinh tế gặt
hái được nhiều phúc lợi nhất.
Tại Hoa kỳ
tính đến năm 2006 đă có 380 băi rác lớn có hệ
thống thu hồi khí methane và chuyển tải thành điện
năng. Trong vài năm tới ước tính
có đến 700 băi rác sẽ lấp đặt hệ thống
nầy. Một thí dụ điển h́nh
tại Irvine, CA khí methane từ băi rác Bowerman sẽ được
dùng làm nguyên liệu cho hệ thống chuyên chở công cộng
cho thành phố.
Về lợi
ích môi trường, khí methane sinh hoc (biomethane) là một loại
năng lượng sạch nhất tính đến ngày hôm
nay.
Nếu methane không được thu hồi
từ các băi rác, các đầm (lagoons) phế thải v.v… sẽ
là một nguồn ô nhiễm ảnh hưởng đến
hiệu ứng nhà kính nhiếu nhất. Nếu
dùng methane thay thế các loại năng lượng hoá thạch
có được nhiều lợi điểm v́ phóng thích
các loại khí thải ít hơn khi sử dụng. Và một
lợi ích không nhỏ cho môi trường nữa là, hệ
thống sinh khí sẽ giải toả được diện
tích phế thải và tạo thêm nguồn thu
nhập mới cho nông dân.
Đứng về
phương diện kinh tế, khí sinh học ngày càng tăng
trưởng sẽ giúp cho nhu cầu sử dụng năng
lượng trong nước ổn định hơn và lần
lần thay thế một số lượng không nhỏ
các loại năng lượng hoá thạch đang dùng. Kỹ thuật
sản xuất không phức tạp do đó có thể trăi rộng
khắp nông thôn. Đặc biệt nông dân có thể dùng nguồn
khí sinh học trong phạm vi gia đ́nh để
có được độc lập về khí đốt và
phó phẩm của việc chuyển đổi phân chuồng
thành khí sẽ là một nguồn phân bón hữu cơ rất
thích hợp trong việc trồng tĩa.
Kết
luận
Ngày nay, đối
với các quốc gia đang phát triền trong đó có Việt
Nam, khí đốt hiện vẫn đang là một khó khăn
cho chính quyền trong việc phân phối đến những
vùng sâu và xa.
V́ vậy phát triển kỹ thuật tạo
ra khí sinh học từ phân chuồng qua hệ thống nén yếm
khí sẽ giúp cho nông dân tự túc được nhu cầu
năng lượng nầy. Vấn đề được
đặt ra là chính quyền cần hướng dẫn kỹ
thuật là làm thế nào để che kính hầm phân hay các
hồ phân (lagoon) đối với phân lơng v́ đây là một
phàn ứng sinh phân huỷ trong điều kiện không có
không khí.
Tiến thêm lên một
bước nữa, đối với những vùng có chăn
nuôi kỹ nghệ, địa phương hay trung ương
cần giúp tài chính ban đầu để thiết lập
hệ thống nén kỵ khí có quy mô như một nhà máy. Từ
đó sinh khí methane sẽ được phân phối đến
tận nhà như ở thành phố.
Riêng tại Việt
Nam, kỹ nghệ ủ phân chuồng hay lấp đặt
hệ thống thu hồi khí hầu như c̣n trong t́nh trạng
phôi thai và chưa được phổ biến, do đó, đây
là một thất thoát lớn đối với nguồn năng
lượng nầy. Thêm nữa, trong kỹ nghệ sản
xuất rượu cồn (alcohol) qua quy tŕnh lên men yếm
khí cho ra một số lượng lớn khí methane nhưng
cũng không được thu hồi. Ở
một nhà máy sản xuất cồn tại Sài G̣n với
công suất 20.000 lít/ngày, lượng sinh khí phát thải được
ước tính khoảng 10.600 m3 phóng thích vào không
khí, làm ô nhiễm môi trường và phí phạm một nguồn
năng lượng không nhỏ. Mỗi mét khối sinh khí
sinh ra 5.300 Kcal, hay nhà máy có khả năng sản xuất 56
triệu Kcal/ngày, tương đương với việc
sử dụng 7,4 tấn dầu FO dùng để đốt
ḷ hơi.
Nếu Việt
Nam biết tận dụng và khai triển nguồn năng lượng
sinh khí biogas, Việt Nam sẽ không c̣n lệ thuộc nhiều
vào nguồn năng lượng hóa thạch như dầu
hoả và than đá như hiện nay trong khi nhu cầu ngày
càng tăng theo đà phát triển quốc
gia.
Mai Thanh Truyết
West Covina, 11/2007