Kỹ Nghệ
Giấy
Kỹ nghệ
làm bột giấy và giấy đang ngự trị trên
thế giới do một số quốc gia sau đây chiếm
hầu hết các doanh thu toàn cầu: 1- Bắc Mỹ có Hoa
Kỳ và Canada, 2- Bắc Âu có Finland (Phần Lan) và Sweden (Thuỵ
Điển), 3- Đông Á do Nhật Bản. Úc châu và các quốc
gia Châu Mỹ La tinh đang phát triển đáng kể, Cũng
như Trung Quốc và Russia (Nga) sẽ tăng trưởng
kỹ nghệ nầy trong vài năm tới.
Bột giấy
là sản phẩm cần thiết để làm ra giấy. Theo
lịch sử của kỹ nghệ nầy, vào năm 1850,
Friedrich Gottlob Keller, người Đức đă thành công
trong việc nghiền gỗ hành bột giấy bằng một
máy nghiền làm bằng đá. Sau đó,
C.B. Tilghman, Mỹ và C.F. Dahl, Thuỵ Điển dùng hoá chất
để biến những sợi giấy (fiber) thành bột
(pulp). Kể từ đó, với sự sáng chế ra
máy in bằng hơi nước , giấy
trở thành một công cụ quan trọng trong việc khai
trí và giải quyết nạn mù chữ trên thế giới.
Hoa Kỳ là quốc
gia xử dụng giấy và làm ra giấy nhiều nhất
trên thế giới. Mức tiêu thụ giấy của
Hoa Kỳ từ 84,9 triệu tấn năm 1990 lên đến
97,2 triệu tấn năm 2002. Trong khí đó nhu cầu của
Việt Nam là 1,8 triệu tấn cho năm 2006 và dự kiến
tăng lên 5,1 triệu tấn
năm 2015. Hiện tại Việt Nam có khả năng
sản xuất 1,1 triệu tấn giấy
do đa số bột giấy nhập cảng từ ngoại
quốc.
Yếu
tố môi trường trong công nghệ giấy
Kỹ nghệ
giấy là một công nghệ tạo ra nhiều ô nhiễm
bậc nhất so với nhiều công nghệ khác. Lượng
nguyên liệu sử dụng như nước, xút caustic,
chlor và một số hoá chất khác cùng những phế thải
rắn và lỏng vẫn c̣n là hai vấn nạn lớn
trong công nghệ nầy. Căn cứ vào mức sản
xuất của nhà máy giấy Băi Bằng, Vĩnh Phú, Bắc
Việt, hàng năm nhà máy thải hồi vào các phụ lưu
sông Hồng gần 13 triệu m3 nước thải
không qua xử lư. Một số hoá chất độc
hại h́nh thành trong hoá tŕnh biến chế hiện đang
là những đề tài nghiên cứu để xử lư cho
các nhà làm khoa học.
1-
Nạn
giảm thiểu rừng: Đây là một yếu tố
quan trọng ảnh hưởng lên môi trường lớn
nhất trong kỹ nghệ giấy. Số lượng cây
rừng cần thiết để sản xuất ra 1 tấn
giấy tuỳ thuộc vào phương pháp làm bột giấy
cũng như phẩm chất của từng loại cây.
Thông thường, theo phương pháp Kraft, một phương
pháp làm ra giấy có phẩm chất cao và trắng, cần
24 cây gỗ mềm hoặc cứng cao 12 mét và có đường
kính trung b́nh từ 15 đến 20 cm là có thể sản xuất
ra 1 tấn giấy. C̣n đối với phương pháp
“groundwood”, chỉ cần phân nửa lượng cây trồng
trên là có thể cho ra 1 tấn giấy, nhưng với phẩm
chất xấu hơn.
Dù xử
dụng phương pháp đi nữa, với nhu cầu
trên 200 triệu tấn giấy hàng năm cho toàn thế giới,
số lượng cây dùng đă là mối lo ngại cho những
nhà môi trường. Tuy đa số nhà
máy làm giấy đă trồng lại cây rừng sau khi chặt
đốn cây để làm nguyên liệu, số lượng
rừng thất thoát vẫn là một con số lớn đáng
kể, v́ cần phải có thời gian để thay thế
những cây đă đốn. Điều nầy là một
yếu tố không nhỏ trong việc làm giảm thiều
sự hâm nóng toàn cầu v́ 1triệu mẫu cây trồng có
thể hấp thụ hàng năm 70 triệu tấn CO2 . Do đó, việc dùng giấy tái
sinh (paper recycling) là một việc làm đúng đắn nhất
trong lúc nầy v́ một miếng giấy có thể được
“tái sinh” từ 5 đến 7 lần trước khi sợi
(fiber) giấy trở thành quá ngắn đê làm giấy trở
lại. Muốn giữ lại phẩm chất của
giấy gần giống như ban đầu, có thể trộn
giấy tái sinh và bột giấy nguyên thuỷ để tăng
thêm phẩm chất của giấy.
2-
Vấn
đề phế thải trong công nghệ giấy: Trong quá
tŕnh sản xuất giấy, việc xử dụng một
lượng lớn hoá chất và chất phế thải cũng
là một mối ưu tư lớn cho nhân loại. Như
chlor dùng để tẩy trắng bột giấy sẽ tạo
ra một số hoá chất độc hại như furans
và dioxins là hai hoá chất nằm trong danh sách 12 hoá chất “dơ
bẩn” đă bị cấm sản xuất và cấm dùng từ
năm 2002 do Liên Hiệp Quốc đề ra. Ngoài hai yếu
tố trên, phế thải lỏng c̣n chứa nhựa cây (lignins), một số hợp
chất hữu cơ, kim loại độc hại như
arsenic, mangan, selenium v.v…, và mức oxy hoà tan giảm (DO). T́nh
trạng nầy đă xảy ra tại bang British Columbia làm
cho ngành cá nơi đây phải chấm dứt vào năm
1992 do nguồn nước đă bị ô nhiễm.
3-
Một
chất phế thải khác cũng không kém phần quan trọng
là dung dịch đen (black
liquor). Đây là một
dung dịch h́nh thành trong quá tŕnh phá vỡ những măng cây mỏng
thành bột giấy. Dung dịch nầy được
xử lư bằng cách bốc hơi để có được
một hổn hợp màu trắng sau khi tác dụng với
vôi sống. Chất sau nầy sẽ được
tái dụng trong việc làm bột giấy.
4-
Phế
thải rắn trong công nghệ giấy: Trong tất cả
công nghệ hiện hành, công nghệ giấy phát thải một
lượng phế thải lớn nhất. Tại Hoa Kỳ,
lượng rác từ công nghệ nầy chiếm 31 đến
38% ở các băi rác khắp nơi. Do đó vấn đề
tái sinh giấy là một vấn đề cấp bách. Chỉ
riêng tại Mỹ, hàng năm Hoa Kỳ tái sinh trên 45 triệu
tấn giấy chiếm gần nửa nhu cầu giấy
cho toàn quốc. Tuy nhiên vấn đề tái sinh giấy cũng
tạo ra một nguồn phế thải mới. Tuy giấy
tái sinh cần ít nước, hoá chất, năng lượng,
và ít ô nhiễm hơn sản xuất giấy nguyên thuỷ từ
cây. Nhưng v́ phải xử dụng nhiều chất tẩy
(chlor) do đó các hoá chất độc hại, nguy cơ
tao ra ung thư sinh ra nhiều hơn. Hiện
tại các nhà nghiên cứu đang truy t́m hoá chất thay thế
chlor trong việc tẩy màu và làm trắng bột giấy.
Đối với
nhà máy giấy Băi Bằng tại Vĩnh Phú (Bắc Việt),
v́ đây là một đầu tư do Thuỵ Điển
(Sweden) giúp đở từ năm 1974, trong quá tŕnh hơn 30
năm vận hành, một số nghiên cứu đă được
các nhà khoa học Thuỵ Điển thực hiện ở
nhà máy nầy. B.E. Bengtsson, L. Reutergardh et al. đă phân tích phế
thải lỏng (effluent), và chất rắn lắng đọng
dưới đáy hồ chứa (sediment). Kết quả
cho thấy, những hợp chất hữu cơ chứa
chlor có hàm lượng là 4,7 Kg/tấn, và hợp chất hứu
cơ chứa chlor và phenol (dioxins và furans) 31g/tấn trong phế
thải lỏng. Về chất rắn lắn đọng
trong hồ chứa có hàm lượng hữu cơ có chlor là
70 – 100 ug/g, gấp 100 lần cao hơn mức độ mức
độ thông thường ở sông ng̣i…Do đó, t́nh trạng
tôm cá, cua, và các loài nhuyễn thể (ṣ, ốc) ở các vùng
chung quanh nhà máy đă bị nhiễm độc. Thậm chí
gạo sản xuất ở những nơi nầy cũng
có dấu vết của hợp chất hữu cơ chứa
chlor và kim loại độc hại. Nước
ở các phụ lưu chung quanh đă chảy vào sông Hồng
và có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ
con người một khi ăn
phải tôm cá đánh bắt được từ những
nơi đă bị ô nhiễm do 13 triệu m3 nước
thải hàng năm từ nhà máy Băi Bằng, theo kết luận
của các tác giả trên.
Ngoài nhà máy Băi Bằng
ra, Việt Nam hiện có các nhà máy sau đây đang hoạt động
và có công suất lần lượt như sau: - Nhà máy Việt
Tŕ, Bắc Việt với công suất 25.000 tấn giấy/năm,
- Nhà Máy Tân Mai, Biên Ḥa, 48.000tấn/năm 2000, - Nhà máy Đồng
Nai, Đồng Nai, 14.000 tấn/năm, Nhà máy Kontum, Trung Việt,
bắt đầu khởi công từ 2001, đang trong ṿng
xây dựng hạ tầng cơ sở và “trồng rừng”,
- Nhà máy Mang Yang, Gia Lai đang dự kiến trồng 20.000 mẫu
rừng từ 1993, - Nhà máy Mục Sơn, Thanh Hoá dự kiến
xây dựng nhà máy với công suất 50.000 tấn giấy/năm
từ 2001 nhưng đanhg bị hoăn lại v́ lư do tài chính,
- Nhà máy B́nh Dương (2001), Hải Pḥng (2000), Cầu Dương,
Hà Nội (2001), - Nhà máy Lê Hoà, Khu chế xuất Tân Tạo
thiết lập từ 1995, sản xuất một lượng
nhỏ giấy tập học tṛ, giấy copy v.v…, - Nhà máy
NDK, Sài G̣n sảm xuất 15.000 tấn giấy tái sinh hàng năm
(2001), - Nhà máy Saigon Paper (2001) 10.00 tấn/năm gồm giấy
carton và giấy áti sinh, - Nhà máy Nissho Iwai, Hà Tỉnh sản
xuất 130.000 tấn gỗ lát mỏng năm 2000. Và sau cùng
nhà máy Hậu Giang với công suất dự kiến là 570.000
tấn/năm mới vừa khởi công ngày 6/8/2007 vừa qua.
Tất cả những
nhà máy hiện có hay c̣n nằm trong trong dự án, hay các nhà
máy sản xuất một công đoạn trong công nghệ
giấy như là bột giấy, trồng rừng hay gỗ
cắt lát mỏng v.v… đều không có hay chưa có hệ
thống xử lư phế thải rắn, lỏng và khí hoàn
chỉnh. Điều nầy tạo ra những vấn nạn
ô nhiễm môi trường lên những vùng xây dựng nhà máy
cũng như chuyển các hệ luỵ trên đến những
vùng phụ cận cùng những phụ lưu của các sông
ng̣i qua ḍng chảy có chứa ô nhiễm v́ công nghệ giấy
tạo ra nhiều phế thải lỏng nhất so với
các công nghệ sản xuất khác.
Việt Nam cần
xem đây là một vấn đề phải giải quyết
để cân bằng mức phát triển xă hội và bảo
vệ mội trường ứng hợp với chiều
hướng toàn cầu hoá trên thế giới hơn là chấp
thuận đầu tư ngoại quốc thiếu điều
nghiên kỹ lưỡng khiến cho nhiều dự án đă
bị “treo” hay chấm dứt nửa chừng thiệt hại
hàng tỷ Mỹ kim trong quá khứ và hiện tại..
Mai Thanh Truyết
West Covina 10/2007