Kỹ
Nghệ Giấy: Nhà Máy Hậu Giang
Ngày 6 tháng 8 năm
2007, thêm một nhà máy giấy ở Việt Nam xuất hiện. Dự án nhà máy
với tổng mức đầu tư lên đến 1,2 tỷ Mỹ kim. Địa điểm xây
dựng tại khu công nghiệp Phú Hữu A, huyện Châu thành, Hậu Giang với
diện tích 200 mẫu. Dự án nhà máy đă
được chấp thuận nhưng không qua thủ tục
cần thiết ghi trong luật môi trường Việt
Nam, nhất là việc nghiên cứu tác động môi trường
trước khi dự án được duyệt xét.
Đây là một
dự án làm bột giấy và sản xuất giấy lớn
nhất Việt Nam hiện tại phỏng theo
mô h́nh của tập đoàn Lee & Man Paper, Hong Kong, Trung Quốc.
V́ tầm quan trọng của dự án đang vừa bắt
đầu thi công, nhiều nguồn dư luận bất đồng
về dự án trong dân chúng và một số nhà làm khoa học,
cho nên tỉnh đă có một buổi họp ngày 19/9 vừa
qua.
Trước khi đi
vào chi tiết về tính khả thi cũng như dư luận
trong ngoài, thiết nghĩ cũng cần nên biết về
Cty Lee & Man Paper, nguồn cung cấp vốn đầu tư
và tài trợ kỹ thuật
cho dự án.
Tập
đoàn Lee & Man Paper
Tập đoàn
Lee&Man Paper được thành lập từ 1994 có trụ
sở tại Quảng Đông và di dời về Hong Kong năm
1995. Đây là một đại công ty giấy
lớn nhất Á Châu và có tầm vóc quốc tế, với
cơ sở và thiết bị tối tân.
Nhà máy giấy đầu
tiên bắt đầu được xây cất từ năm
1996 và đi vào hoạt động từ giữa năm
2005 trên một diện tích 80 mẫu tại Hongmei thuộc
tỉnh Quảng Đông (Dongguan). Chi phí cho nhà máy là 461 triệu
Mỹ kim với mức sản xuất
2 triệu tấn giấy/năm. (Nhà máy nầy
chỉ chiếm 1/3 vốn đầu tư và sản xuất
gần gấp 4 lần so với nhà máy Hậu Giang!).
Nhà máy c̣n có hệ thống xử lư và một nhà máy phát điện
với công suất 0,2 MW. Tập
đoàn đă thành lập Cty Viet Nam Lee&Man Paper Manufacturing
và đầu tư vào nhà máy Giấy Hậu Giang. Tính đến
nay, Tập Đoàn Lee & Man Paper đă có 8 nhà máy đang hoạt
động trong vùng Đông Nam
Á và sản xuất 2,08 triệu tấn giấy/năm. Cty dự trù trong năm 2008, mức sản xuất
hàng năm sẽ lên đến 4 triệu tấn.
Tập đoàn được
chấp thuận tiêu chuẩn quốc tế ISO14001 và ISO9001
vào năm 2004.
Đây là một công ty duy nhất đạt được
tiêu chuẩn nầy ở Trung Quốc.
Công ty
giấy Hậu Giang
Trước một
dự án lớn với vốn đầu tư hàng tỷ
Mỹ kim, nhưng đa số người dân cũng như
các cấp lănh đạo tỉnh Hậu Giang hầu như
hoàn toàn không có thông tin hay dữ kiện nào về chi tiết
cũng như quy hoạch dự án như thế nào. Do đó,
dư luận tại địa phương cũng như
một số ban ngành trung ương phản ảnh theo nhiều góc độ khác nhau tuỳ theo
vị trí của đương sự đối với dự
án.
Ngày 19/9, Lănh đạo
tỉnhHậu Giang triệu tập một buổi họp
gồm đủ thành phần để tham khảo ư kiến
về vấn đề nầy.
Trước hết,
TS Triệu Văn Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học,
Công nghệ nêu lên:” Đến
hôm nay chúng tôi mới biết Hậu Giang có hai nhà máy:
giấy và bột giấy. Trước đây
chúng tôi cứ tưởng hai là một. Nhập
giấy phế liệu để tái chế, nhiều
người băn khoăn phải chăng ta nhập rác.
Các dự án nhà máy giấy ở Hoà B́nh, Bắc Kạn,
Kontum không khai triển được la do
thiếu vùng nguyên liệu. Nhà máy giấy
Hậu Giang có công suất vượt nhà máy Băi Bằng. Vùng
nguyên liệu chúng ta phải tính đến yếu tố
ổn định. Nội dung dự án chỉ ghi
mấy ḍng thu gom gỗ là chưa đủ sức
thuyết phục..”
Trong lúc đó,
ông Nguyễn Ngọc B́nh, Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp nêu ư kiến:” Đến
thời điểm nầy (dự án đă khởi công)
Cục Lâm nghiệp chưa nhận được thông tin
chính thức hoặc tài liệu nào liên quan đến
dự án nhà máy giấy và bột giấy ở Hậu Giang.
Với công suất nhàấmáy 570 ngàn
tấn/năm, nguồn nguyên liệu từ gỗ rừng
trong khu vực ĐBSCL chắc chắn chỉ đáp
ứng dưới 20% công suất. Theo công nghệ
sản xuất giầy và bột giấy cần 50 Kg xút làm
chất tẩy cho một tấn giấy, cũng có
nghĩa là mỗi năm có 28.500 tấn xút đổ ra môi
trường…”
Để đối
lại, Ông Bí thư tỉnh Hậu Giang Nguyễn Phong Quang
phát biểu:”Dự án nầy
không dừng ở 1,2 tỷ Mỹ kim mà
sẽ là 1,6 – 1,7 tỷ. Vùng nguyên liệu
rồi đây sẽ tiếp tục quy hoạch. Tôi yêu cầu Bộ Nông nghiệp- Phát triển Nông
thôn phải xem lại quy tŕnh làm việc của ḿnh.
Các đồng chí nói không nghe, không biết ǵ về dự án là không thể chấp nhận
được. Bột Công thương cho nhập nguyên liệu
chúng tôi mới dám triển khai. Chúng tôi đâu
hốt rác đổ về nhà.”
Và Phó chủ tịch
thường trực Nguyễn Văn Thắng tiếp lời:”Về chủ trương
đầu tư, tỉnh đă tuận thủ đúng quy
tŕnh và thủ tục cấp giấy chứng nhận
đầu tư cho 2 dự án. Địa
phương gữi hồ sơ đến nhiều Bộ
để thẩm tra và đă được các Bộ
thống nhất rất cao”. Và ông nói tiếp:” Do
đây lại là một dự án quá
lớn, lần đầu tiên tỉnh tiếp nạh6n
nên…quá “hớp”. Những ǵ thực hiện
chưa đúng chúng tôi sẽ điều chỉnh”.
Sau cùng ư kiến
của ông Vũ Ngọc Bảo, Tổng thư
kư Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam có ư
kiến rằng:”Dự án
phải nhanh chóng có báo có tác động môi trường
như luật định”.
Trong lúc đó ông
Vũ Văn Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Công
nghiệp tiêu dùng thuộc Bộ Công nghiệp phản pháo lại
ư kiến trên là:”Dự án nầy
thực hiện đúng Luật Môi trường nên Bộ
Công thương chấp thuận”.
Ư kiến của
ông Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban
Đối ngoại quốc hội đă được
ghi nhận trong bài viết Tản Mạn về Dự án
nhà máy giấy Hậu Giang của cùng người viết
v́ tính cách quan trọng của vấn đề và người
quyết định dự án.
Qua những phát
biểu kiểu trống đánh xuôi kèn thổi ngược,
thiết nghĩ có ba vấn đề chính yếu của dự
án dư luận chuyên môn rất quan tâm là: 1- Dự án không có
nghiên cứu tác động môi trường do đó vi phạm
Luật Môi trường và Luật Đầu tư, 2- Nguồn
nguyên liệu dự trù cho sản xuất quy hoạch rất
mơ hồ, 3- Phương án xử lư phế thải chỉ
ghi chú trong ṿng vài trang giấy trong hồ sơ dự án,
không có kế hoạch và thiết kế chi tiết, cùng công
tác xây dựng nhà máy xử lư cũng không được nêu
ra.
Từ đây
chúng ta có thể kết luận rằng dự án đă được
quyết định một cách vội vă do sự “chỉ đạo”
trực tiếp của Phó Thủ tướng Nguyễn
Sinh Hùng, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường.
Điều nầy nói lên một thủ tục
điều hành “công việc quôc gia” một cách tuỳ tiện,
không tuân thủ những quy định mà chính người
quyết định đă đề ra.
Theo Luật Đầu
tư, lănh đạo địa phương (cấp tỉnh
uỷ) chỉ chấp thuận và cấp giấy phép xây dựng
khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đă duyệt. Bộ
có trách nhiệm giải thích và thông báo đến các cơ
quan liên hệ trong hàng Bộ trưởng. Giấy phép chỉ là bước đầu cho Dự
án. Sau đó, nhà đầu tư phải nộp toàn bộ
chi tiết dự án cùng những bản
thiết kế công tŕnh của dự án và bản dồ dự
án có tỷ lệ 1:500. Sau đó, nhà đầu tư phải
tŕnh bày lên liên bộ liên quan đến dụ án những vấn
nạn môi trường có thể xảy ra qua biên bản
nghiên cứu tác động môi trường.
Ngay cả khi các
thủ tục trên đă được hoàn tất theo luật định, dự án cũng có thể
bị đ́nh chỉ khi cảnh sát môi trường khám phá
ra những vi phạm môi trường hay dự án tạo ra
ô nhiễm môi trường. Điều nầy chắc chắn
không thể xảy ra dưới chế độ XHCN Việt
Nam!
Dự án nhà máy
giấy Hậu Giang chỉ được thông qua một
cách vội vă giữa lănh đạo tập đoàn
Lee&Man Paper và lănh đạo chính trị Việt Nam mà
thôi, do đó đă được xúc tiến một cách mau
mắn, ngay cả Ông Trần Quốc Thanh, Chủ tịch
Hội đồng quản trị khu Công nghiệp Hậu
Giang, nơi xây cất nhà máy chỉ được thông báo
một thời gian ngắn trước khi khởi công mà
thôi. Cũng cần biết thêm là 26% dân chúng
vùng ĐBSCL vẩn chưa có được nguồn nước
sạch mặc dù sông ng̣i chằn chịt. Và dự án
dự trù sẽ tiêu thụ 4,5 triệu
m3 nước hàng năm.
Thay
lời kết
Mặc dù Việt
Nam vẫn c̣n phải nhập cảng 700 ngàn tấn giấy
/năm (mức tiêu thụ giấy của Việt Nam hiện
tại là 1,8 triệu tấn giấy cho
năm 2006, và dự kiến tăng lên 5,1 cho năm 2015), điều
đó không có nghĩa là phải thiết lập thêm nhà máy giấy
càng sớm cáng tốt mà không cần thông qua nghiên cứu tác
động môi trường cũng như quy hoạch nguồn
nguyên liệu.
Qua kinh nghiệm
lịch sử các nhà máy giấy nhất là kinh nghiệm nơi
nhà máy Băi Bằng, trải qua gần 30 năm hoạt động
vẫn c̣n nhiếu vấn nạn môi trường hầu
như không giải quyết được và nguyên liệu
cần phải nhập cảng đến 20%, mặc dù đă
quy hoạch việc trồng rừng trên diện tích 1,2 triệu mẫu, nhà máy cũng vẫn chưa
chạy hết công suất. Nhà máy Hậu Giang
chỉ quy họạch từng phần trong 200 mẫu rừng
cho một công suất sản xuất gấp 10 lần hơn
nhà máy Băi Bằng. Điều
nầy có nghĩa là việc quyết định thực hiện
nhà máy Hậu Giang hoàn toàn không dựa theo
một tiêu chuẩn nào cả. Theo những thăm ḍ vừa
nhận được, Việt Nam đă tham khảo để
thu mua bột giấy ở hai quốc
gia là Úc Châu và Nam Dương (Indonesia) cho nhà máy hậu Giang
nhưng điều được hai nơi nầy trả
lời không thể kư hợp đồng trước năm
2015(!)
Lịch sử cũng
cho thấy ở Việt Nam hiện tại có nhiều nhà
máy giấy và làm bột giấy không thể đi vào hoạt
động được với phí tổn tổng cộng
hàng tỷ Mỹ kim đầu tư và hàng triệu triệu
công lao động, làm tiêu hao công quỹ và nội lực của
dân tộc một cách vô ích.
Điều trên
chứng tỏ rằng:
-
Lănh
đạo trung ương khi quyết định chấp
thuận môt dự án phát triển quốc gia hoàn toàn không nắm
vững những thông tin kỹ thuật cũng như các ảnh
hưởng lên mội trường khi xây dựng và khi nhà
máy đi vào sản xuất;
-
Lănh
đạo địa phương (nơi xây dựng nhà
máy) tiếp nhận dự án đầu tư vào tỉnh
nhà theo chỉ thị của cấp trên
và cũng hoàn ṭan không thông hiểu về quy tŕnh sản xuất
cùng những điều kiện địa phương có
thích hợp với việc lấp đặt nhà máy hay
không?
Đây là hai điều
căn bản đă xảy ra trong suốt thời gian quản
lư Đất và Nước từ sau 1975 trở đi, Hai điều
căn bản trên tiếp tục được lập đi
lập lại như một âm bản giống nhau như đúc
mặc dù đất nước được lănh đạo
bởi nhiều lănh tụ khác nhau theo chiều dài lịch sử.
Đây mới
chính là một nguy cơ “măn tính” cho dân tộc trong công cuộc
phát triển quốc gia.
Mai Thanh Truyết
West Covina 10/2007