Kỹ
Nghệ Giấy: Nhà máy Băi Bằng
Dự án Nhà máy làm bột giấy và giấy Băi Bằng
đă có từ năm 1974, được dư định
xây cất tại Vĩnh Phú với số vốn đầu
tư là 170 triệu Mỹ kim thời bấy giờ do chính
phủ Thuỵ Điển tài trợ 100%. Nhưng khi đưa
vào hoạt động phí tổn đă lên đến hơn
1 tỷ Mỹ kim để có
được một nhà máy hoàn chỉnh với công suất
55 ngàn tấn giấy năm 2006.
Đây là một
công tŕnh viện trợ dài nhất so với các công tŕnh viện
trợ của Thuỵ Điển. Trong thời
gian chiến tranh Mỹ-Việt, vào thập niên 1960, Thủ
tướng Thụy Điển thời bấy giờ Olof
Palme cùng với dư luận Thuỵ Điển phản đối
sự tham dự vào chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ.
Ông cho rằng hành động viện trợ cho Việt Nam
thể hiện sự phản đối của Thuỵ
Điển đối với Hoa Kỳ. Rolf Ekeus, phát ngôn
viên của Đảng Dân chủ Xă hội đă phát biểu:”Tây
phương đă dội bom nước nghèo (Viêt Nam) để
biến nước nầy trở thành thời kỳ đồ
đá, ít nhất, chúng ta cần làm là giúp họ xây dựng
lại”.
Trong giai đoạn
đầu, Thuỵ Điển dư định gíup đỡ
trong ṿng 3 năm về nguồn tài trợ để: - trợ
giúp kỹ thuật và tài chính trong việc trồng rừng
vùng đồi núi, - Xây dựng nhà máy làm bột giấy, -
Xây dựng nhà máy làm bàn ghế, - Cung cấp phương tiện
vận chuyển như xe cộ, tàu bè…, - Khai triển bến
băi, - Xây dựng nhà máy phát điện với công xuất
350 MW, - Và sau cùng giúp đở để xuất cảng. Chính phủ Thuỵ Điển thuê công ty tư vấn
SIDA để thực hiện dự án.
Đến năm
1977, chi phí dự án đă lên đến 263,75 triệu Mỹ
kim và không ai có thể kiểm soát được mức chi
tiêu cho dự án trong lúc nầy,
và Băi Bằng trở thành một “Trại Thuỵ Điển”
v́ đă chứa hơn 600 kỹ sư, công nhân, và gia đ́nh,
đại đa số là người Thuỵ Điển,
và nơi nầy đă từng được các nhà quan sát
ngoại quốc chế diễu là một “trại hè” hơn
là một công trường xây dựng nhà máy!
Có thể nói hơn
40% chi phí tiêu xài trong thời gian xây dựng đă vào tay các
nhà tư vấn (consultants) cũng như dụng cụ, máy
móc và hầu hết dịch vụ đều do Thuỵ
Điển cung cấp chiếm hơn 80% phí tổn của
dự án. Trong 3 năm đầu của dự
án, các nhà tư vấn hoàn toàn không có kinh nghiệm thực tế
nào về xây dựng một nhà máy giấy. Sau đó
SIDA phải thuê cty tư vấn Brazil và thiết kế theo tiêu chuẩn của các nhà máy giấy của
xứ nầy.
Sau cùng, nhà máy giấy
I hoàn thành vào tháng 12/1980, nhà máy giấy II vào tháng 3/1982 và nhà
máy làm bột giấy
tháng 9/1982. Những năm đầu
tiên nhà máy hoạt động quả thật là một sự
thất bại hoàn toàn v́, Việt Nam không có đủ chuyên
viên và thợ chuyên môn để điều hành nhà máy. Thêm nhiều vấn nạn khác liên tục xảy
ra như không có các bộ phận trong máy cần phải
thay thế cũng như thiếu hoá chất cần nhập
cảng. Chính v́ các lư do trên mà nhà máy vận hành không điều
hoà và thường xuyên.
Về nguyên liệu,
nhà máy quy hoạch vào diện tích tre nứa có trong vùng, nhưng
v́ hệ thống đường xá và chuyên chở không
thích ứng với nhu cầu vận chuyển. Đây cũng
là một trong nhiều lư do làm cho nhà máy bị ngưng trệ.
Đứng trước
t́nh thế đó, SIDA lại có dịp mời gọi thêm
“chuyên viên quốc tế” vào giúp đở, v́ vậy chi phí
cho chuyên gia ngày càng tăng thêm. Về mặt sản
xuất, hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế. Ở
thời điểm nầy, trong Nam, Ông Vơ Văn Kiệt đang
có ảnh hưởng lớn về việc “tái sử
dụng" những chuyên viên cũ của VNCH, ông đă
thành lập nhóm khoa học & kỹ thuật về sau lấy tên ”Nhóm Nghiên cứu
Kinh tế Thứ Sáu”, hiện vẫn c̣n hoạt động
cho đến ngày nay.
Nhóm đă bắt
đầu tham gia vào dự án Băi Bằng
bằng cách ra tận nơi quan sát, điều nghiên và sau
cùng góp ư trong việc quản lư và điều hành nhà máy. Cũng
vào thời điểm nầy, SISA đă bổ nhiệm
Sigvard Bahrke làm Giám đốc công tŕnh năm 1984 và đề
nghị chính phủ Thụỵ Điển gữi chuyên
viên và công nhân sang Việt Nam để điều hành nhà
máy, nhưng yêu cầu sau cùng không được chấp
thuận. Nhà máy cần phải có chuyên viên và
công nhân Việt Nam. Từ đó vai tṛ của
Nhóm Thứ Sáu ngày càng quan trọng đối với nhà máy.
Tuy nhiên, đại đa số thành viên của Nhóm đều
là cựu tù nhân cải tạo, không rập khuôn theo khuôn sáo
“hồng hơn chuyên” như GS Nguyễn Ngọc Trân trong dự
án nhà máy giấy Hậu Giang hiện nay, nên các phân tích khoa học
của họ không được chấp nhận hoàn ṭan;
và do đó mới tạo nên những tác hại “lỡ khóc
lỡ cười” trong các dự án nghiên cứu phát triển!
Mốt vấn đề
then chốt khác nữa là nguyên liệu dùng để sản
xuất.
Theo quy hoạch, nhà máy căn cứ vào 100.000 mẫu rừng
tre trong vùng và xem đây là nguồn nguyên liệu chính. Điều
nầy ngay từ đầu (1974), cố vấn Jaakko Poyry đă
khuyến cáo là nguồn nguyên liệu nầy không đủ
tính khả thi v́ con số trên chỉ là văn bản trên bản
đồ: diện tích đất th́ có, nhưng rừng tre
bao phủ th́ không! Điều nầy đă được
kiểm chứng khi nhà máy bắt đẩu vận hành vào đẩu
năm 1983. Rừng tre bị
chặt đốn lúc đầu, cây trồng lại không đủ
thời gian để cho tre non mọc kịp thời, cho
nên vào thời vụ 1986-1987, nhà máy không c̣n nguyên liệu để
sản xuất ra bột giấy nữa.
Nguồn nguyên liệu
vốn đă thiếu, cộng thêm kỹ thuật chặt đốn
tre, gỗ thiếu kinh nghiệm, cho nên lượng tre thất
thoát trong di chuyển chiếm đến 45% thể tích v́
không thích hợp với đặc tính của gỗ cần
thiết cho nhà máy. Một lư do khác nữa giải thích cho sự
thất thoát là gỗ bị “rút tỉa” để chở về
Hà Nội bán (fuelwood) để chụm lửa đun bếp
cho việc nấu nướng. Điều nầy theo chuyên gia Ohlsson, số lượng thất
thoát có thể lên đến 80%.
Từ những
nguyên nhân trên, Việt Nam lại tăng thêm diện diện
tích quy hoạch là 200.000 mẫu rừng vùng Hà Tuyên và sau đó
vùng Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, và Vĩnh Phú chiếm thêm 1,2 triệu mẫu nữa, trong đó việc
trồng rừng, đặc biệt là cây khuynh diệp và
cây me keo (acacia) được cổ suư rộng răi như
là hai loại cây mọc nhanh nhất. Vào năm
1990 có 6.500 mẫu dùng làm thí điểm để trồng
hai loại cây nầy.
Sau đây là báo
cáo sau 14 năm hoạt động của nhà máy Băi Bằng
(1994):” Nhà máy Băi Bằng đă
hoạt động 14 năm, và chỉ hoạt động
theo từng giai đoạn và không dùng
hết công suất của nhà máy. Nhà máy vẫn bị
lỗ lă, vẫn c̣n tiếp tục nhận tài trợ
cũa Thuỵ Điển và chính phủ Việt Nam. Trong
thời gian nầy, phải tốn 310 triệu Mỹ kim để trồng 45.000 mẫu rừng.
Nhà máy chỉ có một lợi thế duy nhất để
tiêu thụ lượng giấy sản xuất mặc dù
giá cao và luật cấm nhập cảng giấy trong giai
đoạn nầy”(theo
Chris Lang).
Vào năm 2000,
nhà máy huy động 3.500 công nhân và chuyên viên kỹ thuật. Năm 2001, nhà
máy sản xuất được 72.840 tấn giấy nhờ
nhập cảng trên 80% nhu cầu bột giấy với giá
rẻ. Tuy nhiên giá thành của giấy vẫn
cao hơn độ 20% so với giá giấy trên thế giới.
Vào năm 2001,
nhà máy mở rộng và dự kiến tăng công suất từ
55 ngàn lên 100 ngàn tấn giấy với phí tổn 50 triệu
Mỹ kim.
Mặc dù có sự
tài trợ hoàn toàn của Thuỵ Điển, nhà máy Băi Bằng
cho đến ngày nay vẫn chưa hoạt động độc
lập hoàn toàn. Nguồn nguyên liệu vẫn căn cứ
vào bột giấy nhập cảng. Hàng năm
nhà máy nhập khoảng 25 đến 30% bột giấy
(20.000 tấn bột giấy năm 2006).
Vào năm 2003,
nhà máy đă xây dựng thêm một nhà máy làm bột giấy ở
Phú Thọ với công suất 250 ngàn tấn/năm và phí tổn là 289 triệu Mỹ
kim.
Qua những thông
tin liệt kê ở phần trên, nhiều kinh nghiệm cần
được rút tỉa sau đây:
-
Nhà
máy đă được h́nh thành gần 30 năm, nhưng
cho đến ngày nay vẫn c̣n được bao cấp và
tài trợ. Điều nầy chứng tỏ rằng nhà
máy không được quản lư theo một cơ chế tự
do;
-
Về
mặt quy hoạch, nguồn nguyên liệu là một yếu
tố huyết mạch của nhà máy, nhưng vẫn c̣n nằm
trong t́nh trạng lệ thuộc vào nguyên liệu nhập cảng
dù diện tích trồng rừng quy hoạch đă tăng từ
100 ngàn mẫu lúc ban đầu lên đến 1,5 triệu mẫu
hiện tại nhưng vẫn tiếp tục nhập cảng
bột giầy cho nhu cầu sản xuất;
-
Nhà
máy không được nghiên cứu tác động môi trường
từ khởi thủy, mà chỉ căn cứ vào “sự hiện
diện” của một nhà máy ở Thuỵ Điển, sau
đó đổi qua mô h́nh của một nhà máy ở Ba Tây
(Brazil). V́ vậy tác động và ảnh hưởng lên
môi trường và hệ sinh thái trong vùng rất lớn.
Hàng chục triệu m3 nước thải độc hại
hàng năm vẫn tiếp tục đổ vào các sông ng̣i
trong vùng huỷ diệt hầu như hoàn toàn nguồn thủy
sản trong vùng, cũng như ṭanbộ hệ sinh thái bị
thay đổi do việc phá rừng và gia tăng dân số.
Đây là một
bài học lớn cho những người có trách nhiệm về
quy hoạch phát triển quốc gia. Và bài học nầy
vẫn c̣n tiếp diễn khi lễ đặt viên đá đầu
tiên cho nhà máy giấy Hậu Giang, nhà máy lớn nhất nước
với công suất dự kiến là 570 ngàn tấn giấy/năm
trên chi phí 1,2 tỷ Mỹ kim ban đầu
và có thể lên đến 1,7 tỷ khi hoàn thành! (Xem bài viết về nhà máy giấy Hậu Giang).
Mai Thanh Truyết
West Covina 10/2007