Năng
Lượng Thực Vật Cho Tương Lai: Cây Jatropha
Curcas
Đứng trước
viễn ảnh khủng hoảng năng lượng trong tương
lai nhất là năng lượng dùng cho việc di chuyển,
nhiều nhà khoa học trên thế giới từ hơn hai
thập niện qua đă tập trung trí tuệ vào việc
nghiên cứu và truy t́m nguồn năng lượng thay thế
mới. Hiện tại, các nguồn năng lượng sau
đây đă được ứng dụng ngoài xă hội
như năng lượng mặt trời, năng lượng
gió, thuỷ triều, khí biomass, và nhiều nguồn năng
lượng tái sinh khác.
Theo Hội Năng
lượng Quốc tế (International Energy Association), việc
dùng dầu như dầu cặn (diesel) cho di chuyển sẽ
tăng gấp đôi trong ṿng 25 năm tới và hiệu ứng
nhà kính cùng hiện tượng hâm nóng toàn cầu cũng tăng
đồng biến với việc sử dụng xăng dầu.
Âu Châu đă có chính sách dùng dầu
hỗn hợp (xăng + dầu) cho di chuyển, theo đó,
năng lượng sinh vật (gồm thực vật và vi
sinh) phải được gia tăng theo tỷ lệ
5,75% cho năm 2010 và 20% năm 2020. Dầu hỗn hợp hiện
tại gồm rượu ethylic (ethanol) và dầu sinh vật
ước tính tăng lên 10 tỷ lít cho vùng Âu châu vào năm
2010.
Tại Hoa Kỳ,
Bộ Năng lượng và Bộ Nông nghiệp đă xác định
hỗn hợp dầu sinh vật B 100 (100% dầu Jatropha) hoàn
toàn không phát thải khí carbonic CO2 vào không khí, cũng
như giảm thiểu 30% hạt bụi và carbon monoxide
(CO), từ đó có thể giảm 50% ảnh hưởng
lên sức khoẻ của người dân.
Đối với
các quốc gia đang phát triển, dầu sinh vật c̣n mở
thêm ra một sinh lộ mới v́ loại dầu nầy có
thể thay thế được nguồn ngân khoản chi
tiêu cho việc nhập cảng xăng dầu, và chủ động
hơn trong việc ổn định nguồn năng lượng
tại bản địa. Thêm nữa, căn cứ theo NĐT
Kyoto, các quốc gia trồng loại cây tạo ra dầu có
thể được hưởng tín dụng (credit) từ
những quốc gia phát triển, nơi tạo ra nguồn
ô nhiễm không khí, v́ đă góp phần vào sự bảo vệ
nguổn không khí sạch trong việc trồng thêm rừng
(hấp thụ khí CO2).
Từ những
lợi thế trên của suy nghĩ về dầu sinh vật,
một số nhà khoa học đă chuyển hướng
nghiên cứu qua việc truy t́m nguồn năng lượng
từ thực vật hay từ đất dưới khẩu
hiệu “Đất biến thành Dầu” (“Soil to oil”). Và cây
Jatropha có nguồn gốc từ Mexico, hiện nay đang được
các quốc gia Á Châu và nhất là Ấn Độ chiếu cố
rất nhiều. Ấn Độ đă biến công cuộc
nghiện cứu nầy thành một chính sách quốc gia. Trường
đại học nộng nghiệp Tamil Nadu và Hội Sáng
kiến Nộng nghiệp cho việc Cổ súy nguồn Thực
vật (Society for Rural Initiatives for Promotion of Herbals) ở quốc
gia nầy là hai nơi đẩy mạnh việc trồng
tỉa và sản xuất dầu từ cây Jatropha đem lại
một nguồn lợi không nhỏ cho ngân sách của nước
nầy và nhất là giải quyết công ăn việc làm
cho hàng triệu nông dân và công nhân.
Về
cây Jatropha

Cây Jatropha thuộc
họ Euphorbiaceae. Tên thông thường tiến Anh là Physic
nut hay Purging nut, tiếng Ấn Độ là Ratanjyot Jangli
erandi, tiếng Malaysia là Katamanak, tiếng Sanskrit là Kanana
randa.
Trước
hết, cây Jatropha curcas là một loại cây có nhiều đặc
điểm như: 1- chịu đựng được thời
tiết khô, 2- tăng trưởng b́nh thường ngay trên
vùng đất xấu, 3- tăng trưởng nhanh và thời
gian thu hoạch là 50 năm, 4- không cần nhu cầu phân bón.
Đây là một
loại cây nhỏ cao tử 3 đến 5 mét, thường
được trồng xen kẽ với những loại
cây cao hơn. Tàng lá rộng. Cây cho hoa nhiều đợt
trong suốt mùa có đất ẩm ướt. Hột có thể
thu hoạch sau mùa hoa 3 tháng. Trung b́nh một cây Jatropha cho 3,5
Kg hột một năm tuỳ theo khí hậu từng vùng trồng
cây. Nếu trồng 2.200 cây trên một mẩu (hecta), mức
thu hoạch trong một năm trung b́nh 7 tấn hột, và
có thế trích ra được 3.000 lít dầu thực vật.
Hột cây cho ra
một lượng dầu cao hơn tất cả các cây
sinh dầu nhất hiện tại với tỷ lệ trọng
lượng là 37%. Dầu Jatropha có thể làm nguyên liệu để
chạy xe trực tiếp, không qua giai đoạn chế
biến và không phát thải khói như các lạoi xe diesel hiện
tại. Thêm một lợi thế không nhỏ nữa là bă dầu
sau khi ép là một nguồn phân bón và là thuốc sát trùng cho
cây trồng quan trọng trong nông nghiệp. Bă dầu sau khi
ester-hoá bằng rượu methanol và xút caustic sẽ cho ra
glycerin dùng trong kỹ nghệ làm đẹp. Về phương
diện y khoa, cây Jatropha có thể chửa trị một số
bịnh ung thư, bịnh tê liệt (paralysis), bị rắn
cắn…
Về nguồn
gốc của cây, có thể nói từ nguyên thuỷ cây được
t́m thấy ở Mexico và Trung Mỹ. Cây được truyến
giống sang Phi Châu và Á Châu.
Sự
phát triển cây Jatropha
Với những
lợi thế kể trên, việc trồng cây Jatropha phát triển
nhanh chóng. Liên Hiệp Âu Châu đă hợp tác với các quốc
gia đang phát triển và đầu tư vào 6 triệu mẫu
(gấp đôi diện tích nước Bỉ) để thu
hoạch khoảng 18 tỷ lít hàng năm. Diện tích đầu
tư ở Nam Phi, Ấn Độ và Nam Phi.
Do sự trích ly
dầu tương đối giản dị cho nên những
“nhà máy dầu” (refinery) di dộng có thể được
di chuyển đến tận nơi thu hoạch hột, rất
tiện lợi cho việc khai thác dầu. Diện tích trồng
cây Jatropha có thể trồng xen kẽ với cây vanilla cùng
có điều kiện phát triển tương tự.
Nếu so sánh giá
thành của các loại dầu thực vật đă được
trích ly và mức thu hoạch trên mỗi mẫu cây trồng,
cây Jatropha có lợi thế cao nhất với 3000 lít tưong
đương với giá $43 Mỹ kim/barrel; dầu đậu
nành chỉ cho 375 lít và $73/barrel, dầu rapeseed cho 1.000 lít với
giá thành 78 Mỹ kim/barrel.
Cây
Jatropha và Ấn Độ
Vào tháng tư năm
2003, Hội đồng Kế họach Quốc gia Ân Độ
thiết lập Uỷ ban Phát triển dầu sinh vật
(bio-fuel) và đưa ra chương tŕnh thay thế 20% lượng
dầu dùng cho di chuyển trong toàn quốc. Kế hoạch
cho năm 2013 là pha trộn 13 triệu tấn dầu cây
Jatropha với xăng dầu nhập cảng, nghĩa là gấp
1.000 lần mức sản xuất dầu Jatropha hiện tại
(2006) của xứ nầy.
Kế hoạch sử
dụng 11 triệu hecta đất cằn cỗi không c̣n
dùng trong nông nghiệp thực phẩm được nữa.
Từ sau đó, Ấn Độ tiếp tục trồng
khoảng 3 tới 400.000 hecta hàng năm trên tám tiểu bang
có nhiều đất không c̣n sử dụng. Dây là một kế
hoạch quốc gia với sự tham dự trực tiếp
của Bộ Môi trường, Nông nghiệp, Dầu khí, và
Bộ cải thiện đời sống.
Tính đến đầu
năm 2007, các nông trại, công trường sản xuất
lần lần bắt đầu trả nợ và thoát khỏi
chính sách bao cấp (sudsidy) của chính phủ. Chi phí cho việc
trồng 400.000 hecta cây Jatropha là 300 triệu Mỹ kim.
Ấn Độ
là quốc gia đứng thứ sáu trong việc tiêu thụ
dầu hoả hay 3,5% lượng dầu sản xuất
trên thế giới. Mức tiêu thụ tăng dần khoảng
5,6% mỗi năm. Nước nầy phải nhập 80% dầu
từ ngoại quốc. Do đó việc đẩy mạnh
năng lượng thực vật qua cây Jatropha là một
chính sách quốc gia nhằm giải quyết việc khủng
hoảng năng lượng trong tương lai và cải
thiện nạn nghèo đói ở nông thôn. Việc làm nầy
đă tạo ra kỷ nguyên mới cho những vùng có đất
cằn cỗi, tái sử dụng diện tích đất tạo
ra do nạn phá rừng và bảo vệ sự thoái hóa của
đất.
Lợi
điểm của năng lượng thực vật
Ngày nay có thể
nói, năng lượng thực vật là một loại năng
lượng có giá trị cao nhất so với tất cả
các loại năng lượng tái tạo hiện đang được
áp dụng, v́ loại năng lượng nầy có thể
dùng để chạy xe ngay sau khi ép hột để lấy
dầu mà không cần phải cải tiến máy xe. Ngoài ra
c̣n có những lợi thế khác sau đây tăng cường
thêm sức thuyết phục trong việc phát triển cây
Jatropha đối với những quốc gia đang phát triển
như sau:
-
Sự
độc lập về năng lượng: H́nh dung giá dầu
thô trên thế giới hiện nay tăng lên 80 Mỹ
kim/thùng, điều nầy là một vấn nạn lớn
cho những nước nghèo; do đó, việc khai triển
năng lượng dầu sinh vật từ cây Jatropha là một
giải pháp cấp bách phải làm;
-
Thay
v́ dùng nguyên liệu dầu hoả từ các quốc gia khác
xuất cảng dầu, các nước nghèo có thể sử
dụng tài nguyên nội địa. Điều nầy sẽ
làm giảm bớt thâm thủng ngân sách quốc gia qua việc
nhập cảng. Ngân sách dôi ra sẽ được dùng
trong việc cải thiện ngành y tế công cộng, giáo dục
và nhiều phúc lợi khác cho quốc gia;
-
Dầu
thực vật tạo ra một thị trường mới
cho sản xuất nông nghiệp và kích thích việc phát triển
nông thôn do mức sản xuất dầu tăng dần từ
những vùng nầy. Điều trên giúp nông dân cải thiện
được đời sống của họ v́ năng suất
và giá trị thị trường của dầu cao gấp
nhiều lần hơn trị giá các nông phẩm cổ điển.
Từ đó, cuộc sống gia đ́nh được nâng
cao và con cái nông dân có điều kiện tiến thân và trong
tương lai sẽ thoát khỏi cảnh “con sải nhà
chùa vẫn quét lá đa” ;
-
Đứng
về phương diện môi sinh, dầu sinh vật c̣n có
thêm một lợi thế là một loại dầu sạch
so với xăng và dầu diesel. Sử dụng dầu nầy
trong di chuyển sẽ giảm bớt sự phát tán khí
carbon monoxide (CO), hạt bụi (particulates) lững lơ
trong không khí, và một số khí độc khác ảnh hưởng
lên sức khoẻ người dân sống trong các thành phố
lớn cũng như giảm thiểu được một
lượng không nhỏ nguy cơ trẻ em bị chết
non v́ không khí ô nhiễm;
-
Đối
với hiệu ứng lồng kính và sự hâm nóng toàn cầu,
dầu cây Jatropha đă hấp thụ carbon trong không khí và đất,
trong lúc các loại năng lượng khác như dầu hoả
hay than đá cung cấp một khối lượng khổng
lồ carbon dioxide (CO2) vào môi trường. Các cuộc
nghiên cứu gần đây cho thấy, dầu thực vật
dùng trong việc di chuyển làm giảm sự phát thải
CO2 (80% ít hơn xăng hay dầu diesel) và không phóng
thích ra Sulfur dioxide (SO2), và trong vài loại xe chạy
dầu, không c̣n phát thải CO2 nữa. Lợi thế
nầy làm giảm được 90% nguy cơ ung thư,
theo ước tính của nhiều nhà chuyên môn trên thế giới;
-
Dầu
thực vật từ cây Jatropha có thể dùng trực tiếp
hay pha trộn vơi các loại xăng dầu cổ điển,
nhưng hổn hợp cho hiệu năng tối ưu nằm
trong khoảng từ 5 đến 20%;
-
Việc
chế biến dầu nếu không dùng trực tiếp tương
đối đơn giản. Và sau khi chế biến c̣n có
được glycerin, một hoá chất có rất nhiều
ứng dụng trong công kỹ nghệ;
-
Sau
cùng gía thành của loại năng lượng nầy quá rẻ
so với các loại năng lượng đang dùng. Tuỳ
theo địa phương và vùng trồng tỉa, giá thành
có thể di động từ 0,30 đến 0,40 Mỹ
kim/lít.
Kết
luận
Chúng ta hăy h́nh
dung khuôn mặt thế gíới hiện tại. Mặc dù
các quốc gia giàu trên thế giới luôn cổ suư việc
giúp đở những nước nghèo và đang phát triển,
cũng như đă hứa là trích 7% ngân sách quốc gia hàng
năm để giúp dở các nước nghèo, nhưng t́nh
trạng của những nước nầy ngày càng tệ
hơn nữa v́ lời đă hứa không được
tôn trọng và sự trợ giúp nằm trong mục tiêu đầy
tính toán của các nước giàu hơn là thuần tuư nhân đạo.
Do đó sự trợ giúp hoàn toán không hữu hiệu. Trên
thế giới hiện có thêm 45 quốc gia nghèo hơn so với
15 năm trước. Có thể nói hiện tại phân nửa
dân số trên thế giới (trên 3 tỷ người) sống
với lợi tức dưới 2 Mỹ kim/ngày.
Về mặt năng
lượng nhất là lượng xăng dầu dùng cho việc
di chuyển, các quốc gia nghèo phải chịu trả một
chí phí gần gấp bốn lần so với giá xăng dầu
tại Hoa Kỳ và hầu hết đều lệ thuộc
vào việc nhập cảng từ bên ngoài.
Thêm nữa, hiện
tượng hâm nóng toàn cầu ảnh hưởng rất
nhiều lên mức sản xuất của các quốc gia đang
phát triển. Sản xuất nông nghiệp tại Phi Châu giảm
độ 20% v́ ảnh hưởng trên. Nếu so với
Hoa Kỳ người dân sống ở những nơi nầy
tiêu tốn từ 60 đến 80% lợi tức dành cho ăn
uống so với 10% của người HK. Do đó, đối với các quốc gia
đang phát triển, sự thay đổi thời tiết
và chi phí năng lượng tăng cao c̣n có nghĩa là càng
ngày càng nghèo thêm, càng bịnh hoạn thêm, và người dân
càng đau khổ thêm.
V́ vậy, việc
trồng cây Jatropha có thể là một cứu cánh tuyệt vời
cho những nước nghèo, sống nhờ vào nông nghiệp
và phẩm chất đất ngày càng thoái hoá v́ đất đă
bị tận dụng. Hai phần ba dân số của những
quốc gia đang phát triển trên thế giới đặt
trọn vẹn nguồn lợi vào đất đai; v́ vậy
đây có thể là một hoá giải thoát khỏi cảnh
nghèo đói qua việc khai triển cây Jatropha. Việc làm nầy,
trên b́nh diện địa phương sẽ gíup nông dân tăng
thêm nguồn lợi tức và cải thiện đời sống.
Trên b́nh diện quốc gia,
việc sản xuất nguồn dầu thực vật
nầy sẽ làm tăng trưởng kỹ nghệ, nhà
nước có khả năng đầu tư thêm công
nghệ mới, tạo thêm công ăn việc làm cho
người dân và phát triển thêm phúc lợi cho xă hội
cũng như giảm thiểu ngoại tệ dùng cho
việc nhập cảng xăng dầu trong dịch vụ
chuyên chở.
Trên thế giới
hiện tại, nếu trồng 30 triệu hecta đất
cằn cỗi vẫn không ảnh hưởng đến
việc sản xuất nông phẩm, nhưng việc nầy
có thể cải thiện được hàng tỷ nhân khẩu
hiện đang phải sống trong cảnh nghèo đói triền
miên. Đối với
những quốc gia đang c̣n ḍ dẫm từng
bước đi trong phát triển trong đó có Việt Nam,
việc đem cây Jatropha lên làm kế hoạch quốc gia
sẽ là một giải pháp hữu hiệu và hợp lư nhất
trong lúc nầy.
Mai Thanh Truyết
West Covina 10/2007