Hoá
Chất và Dược Phẩm Trung Quốc: Nỗi lo chung
Trung Quốc (TQ)
đang trên đà phát triển vượt bực nhất là
trong những năm gần đây. Hiện tại, TQ là quốc
gia thứ hai chỉ đứng sau Hoa Kỳ về thành phẩm
sản xuất cho nhu cầu của con người trên thế
giới. Hàng hoá TQ tràn ngập khắp nơi. Nhưng chỉ
trong ṿng ba năm trở lại đây, kỹ nghệ hoá chất
và dược phẩm TQ đă có những bước tiến
nhảy vọt, từ đó nảy sinh ra một số lo
ngại về phẩm chất (quality), v́ quốc gia nầy
thể hiện nhiều cung cách “làm ăn” đôi khi vượt
qua tiêu chuẩn cho phép của các định chế quốc
tế áp dụng cho ngành hóa chất, sinh hoá, và dược
phẩm và chi lo chú trọng vào lượng (quantity) mà thôi.
Nếu chúng ta đến Thượng
Hải cách đây khoảng bốn năm, thành phố nầy
chỉ có một số nhỏ pḥng thí nghiệm nghiêm cứu,
cơ sở sản xuất dược phẩm của một
vài công ty ngoại quốc. Nhưng hiện tại, Thượng
Hải trở thành một trung tâm nghiên cứu và sản xuất
có thể nói đứng vào những hàng đầu trên thế
giới. Và c̣n nữa, Bắc Kinh, Suzhou, và một số
thành phố lớn cũng phát triển không ngừng công kỹ
nghệ nầy. Có thể nói hiện tại, TQ đang đi
dần đến sự sản xuất hàng loạt dược
phẩm tiêu dùng cho thế giới.
Chúng ta cũng thừa
biết là qua lịch sử, TQ không có tâm lư dùng hoá chất để
trị bịnh mà có thói quen chỉ dùng dược thảo để
trị liệu. Tuy nhiên, chỉ trong vài năm trở lại
đây, rất nhiều công ty nghiên cứu hoá chất và dược
phẩm ngoại quốc đầu tư ồ ạt vào đất
nước nầy nhất là những công ty Hoa Kỳ và Nhật
Bản. Điển h́nh là công ty BioDuro (California) ước
tính giảm thiểu được 1 tỷ Mỹ kim về
chi phí sản xuất dược phẩm ở TQ cho thị
trường Hoa Kỳ. Do đó ngành sinh-công nghệ
(biotechnology) hiện đang phát triển rất nhanh ở nơi
đây.
Bài viết nầy
có mục đích mô tả công nghệ dược phẩm
và sự phát triển trong việc trị liệu cùng những
hệ luỵ của sự phát triển quá nhanh của quốc
gia nầy.
Ngành dược
phẩm Trung Quốc
Lịch sử
ngành dược khoa TQ khởi đầu bằng hàng trăm
hàng ngàn cây cỏ đủ loại để từ đó
pha trộn với cây cỏ khác, hoá chất vô cơ trong
thiên nhiên, thậm chí trộn lẫn xác khô của một số
động vật để làm dược phẩm. Từ
đó khai mở ra ngành y khoa cổ điển TQ.
Ngành dược
phẩm TQ bao gồm những hoạt động như
sau: 1- Điều chế và tiêu chuẩn hoá các dược
phẩm, 2- Tổng hợp hoá chất hay trồng dược
thảo để chế tạo ra dược phẩm, 3-
Phân tích các dược liệu áp dụng trong việc chữa
trị, 4- Phụ trách việc phân phối. Do đó, ngành dược
khoa TQ chia ra hai hướng chính, y khoa cổ truyền chuyên
dùng dược thảo và y khoa hiện đại. Bịnh
viện TQ cũng cung cấp hai phương cách trị liệu
trên.
Trên toàn quốc,
hiện có khoảng 50 đại học dược khoa
trong đó mỗi ngành chiếm độ phân nữa. Thời
gian học là 4 năm với khả năng có thêm vài năm
chuyên môn hóa. Đa số sinh viên tốt nghiệp làm trong các
dược pḥng, hay lớn hơn nữa trong các bịnh việc
dược khoa.
Kể từ khi
có cuộc cải cách kinh tế vào thập niện 1980 ở
TQ, ngành dược TQ đă phát triển không ngừng và chuyển
hướng qua sự xâm nhập của ngành dược hiện
đại cùng nhiều phương cách trị liệu hữu
hiệu hơn cho một số bịnh. Từ đó, người
dược sĩ lần làn có khuynh hướng về
nghiên cứu dược phẩm nhiều hơn thay v́ làm những
việc hàng ngày trong việc pha chế cho đúng cân lượng
theo toa bác sĩ nữa.
Trong nghiên cứu,
sự tổng hợp và tinh chế hoá (purification), cô lập
hoá (isolation) các hoá chất hữu cơ dùng trong việc sản
xuất dược phẩm được chú trọng đến
nhiều hơn. Sau đó, đi sâu hơn nữa trong việc
ổn định (stabilization) hoá chất, phương pháp
thử nghiêm, và sau cùng tiêu chuẩn hoá hoá chất
(standardization). Một trong những ngành nghiên cứu mới
nữa là nghiên cứu tính chấp nhận (tạm dịch
từ danh từ “availability”) của cơ thể dưới
nhiều dạng khác nhau của dược liệu; đề
từ đó quyết định cân lượng của dược
liệu áp dụng cho cơ thể. Ngành tổng hợp
protein và sản xuất vitamin hiện nay của TQ cũng
là một thách thức lớn cho thế giới.
Ở Trung Quốc,
từ năm 1907, Hội Dược khoa TQ (Chinese
Pharmaceutical Association- CPA) là một
hiệp hội lớn nhất cho ngành nầy quy tụ trên
3.000 cá nhân và nhóm nghiên cứu. Qua các nhóm nghiên cứu có thể
kể thêm trên 105.000 thành viên.
TQ cũng có nhiều
đại công ty phân phối dược phẩm trên toàn quốc,
như công ty Sanjiu Enterprise Group có đến gần 10.000 địa
điểm, với doanh số 157 triệu Mỹ kim; công ty
China Nepstar với 5.000 địa điểm đạt
doanh số 124 triệu.
Mức tăng
trưởng hàng năm cho ngành nầy vào khoảng 16,7%
trong ṿng ba năm trở lại đây. Chính nhờ việc gia nhập vào
WTO từ năm 2001, TQ mới chính thức mở cử cho
những nhà đầu tư ngoại quốc vào cũng như
thu hút thêm nhiều khoa học gia, nghiên cứu gia tiếp cận
thị trường dược phẩm, trong đó có thể
nói có mức tiêu thụ lớn nhất thế giới.
Đứng về
phương diện chính quyền, Cơ quan Quốc gia về
Thực phẩm và Dược phẩm (SFDA) quản trị
và kiểm soát hoàn toàn ngành dược của TQ. Trước
năm 1999, chính phủ TQ ngăn cấm việc sản xuất
dược phẩm do tư nhân hay kư hợp dồng với
công ty ngoại quốc. Măi đến tháng 10, 1999, SFDA mới
điều chỉnh luật trên và thiết lập bộ
luật vê dược phẩm vào năm 2001, ngay sau khi gia nhập
vào WTO. Từ đó ngành nầy mới phát triển nhan chóng
phi mă. Tính đến nay, TQ đă đầu tư gần 19
tỷ Mỹ kim cho việc xây dựng và nâng cấp các cơ
sở nghiên cứu và sản xuất. Mức thu nhập
ṛng trong năm 1999 cho kỹ nghệ nầy là 24 tỷ Mỹ
kim, và năm 2004 là 56 tỷ.
Một loại
dược phẩm khác, nói đúng hơn là các loại
vitamin chúng ta thường dùng hiện đang là một đề
tài lớn cho TQ. Gần như là, mỗi lần chúng ta ngậm
một viên Vitamin C chẳng hạn, đa phần nơi sản
xuất là TQ. Trong ṿng chưa đầy một thập
niên, TQ cung cấp 90% thị trường Vit C ở Hoa Kỳ.
Kỹ nghệ Vitamin của TQ gồm trên 5.000 công ty sản
xuất với 2 triệu dịch vụ thương mài đạt
2,5 tỷ Mỹ kim thương vụ trên thế giới năm
2006. Dĩ nhiên, với một mức phát triển và sản
xuất như trên, tệ nạn kém phẩm chất, chai lọ
không xuất xứ, thiếu bảng phân tích hoá chất và sử
dụng xảy ra nhiều hơn.
Một sản
phẩm không kém quan trọng nữa ở TQ là thuốc làm
giảm cân đă được quảng cáo và bày bán khắp
thế giới. Người tiêu thụ không thể nào phân
biệt được thuốc thật hay thuốc giả
cùng sản xuất từ TQ và đă có nhiều vụ kiện
tập thể (class action) về các loại thuốc nầy
ở Hoa Kỳ.
Hiện nay, hầu
hết các quốc gia trên thế giới đều nhập
cảng thuốc trụ sinh hoặc kháng sinh, diếu tố
(enzymes), và nhiều loại amono acid dưới dạng
nguyên thuỷ (primary). TQ sản xuất 70% penicillin, 50%
aspirin, 35% acetaminophen (Tylenol là tên thương hiệu của
hoá chất nầy) cung cấp cho nhân loại toàn cầu.
Kiểm
phẩm hoá chất và dược phẩm Trung Quốc
Trong ṿng hai năm
trở lại đây, TQ đă làm cho quốc tế e ngại
về tính an toàn của sản phẩm sản xuất từ
nước nầy. Qua quá nhiều “sự cố” trong quá khứ
về mức an toàn của thực phẩm và dược
phẩm TQ xảy ra hầu như thường xuyên hơn,
từ vụ thức ăn gia súc TQ bị nhiễm độc
vào 4/2007, kem đánh răng có chứa dimethylglycol sau đó,
và gần đây nhất thức ăn “há cảo” (2008) TQ sản
xuất qua Nhật Bản chứa nhiều dư lượng
hoá chất bảo vệ thực vật v. v… vấn đề
an toàn sản phẩm đă được thế giới nêu
lên ngày càng gay gắt hơn. (xin xem bài viết “Hội chứng
Trung Quốc” của cùng tác giả trên www.vastvietnam.org).
Mặc dù hiện
tại chính quyền TQ đang đặt trọng tâm nhiều
hơn về việc kiểm soát an toàn sản phẩm để
có thể đạt được tiêu chuẩn quốc tế,
nhưng trên thực tế, vấn đề càng trở nên
phức tạp hơn qua nhiều yếu tố: 1- ư thức về an toàn phẩm
chất và an toàn vệ sinh chưa được đánh
giá đúng mức cả về phía người sản
xuất lẫn tiêu thụ, 2- tâm lư chạy theo lợi
nhuận, quên đi các yếu tố an toàn vệ sinh và tiêu
chuẩn cần có của sản phẩm của những
nhà sản xuất, 3- và quan trọng hơn cả là năo
trạng của nhà cầm quyền hầu như “nhắm
mắt” để cho những
tệ trạng trên xảy ra. Có thể nói, cứu cánh
duy nhất của nhà cầm quyền TQ hiện nay là tạo
ra của cải vật chất dưới bất cứ
giá nào, và nạn nhân nếu có, dù là người dân trong nước
hay người nước ngoài cũng không thể làm suy suyển
năo trạng trên. Đây mới
chính thực là nỗi lo chung của nhân loại ngày hôm nay.
Chúng ta c̣n nhớ
cách đây hai năm, TQ đă tử h́nh Giám đốc Cơ
quan Quốc gia Thực phẩm và Dược phẩm qua vụ
hối lộ 832.000 Mỹ kim của các nhà sản xuất để
xuất cảng một số
hoá chất và dược phẩm không an ṭan ra thị trường
ngoại quốc. Việc nầy có mục đích duy nhất
là làm xoa dịu mức phản đối của thế giới
hơn là giải quyết một cách rốt ráo các tệ trạng
trong sản xuất của TQ, v́ các “x́ căn đan” vẫn
tiếp tục diễn ra với nhịp độ cao hơn
và tinh vi hơn.
Kỹ nghệ
thực phẩm và dược phẩm của TQ dưới
mắt của những nhà quan sát quốc tế như Peter
Kovacs, Cố vấn thực phẩm ở Nevada đă được
phân chia thành 3 thành phần: 1- thành phần có sự tham dự
và cố vấn cùng đầu tư ngoại quốc th́ đạt
được tiêu chuẩn quốc tế là Good Laboratory
Practice (GLP); 2- c̣n lại thành phần sản xuất thứ
hai và thứ ba hoặc không dựa theo tiêu chuẩn nào cả,
hoặc do móc ngoặc với chính quyền hay thanh tra để
tung ra thị trường sản phẩm chẳng những
không đạt tiêu chuẩn mà c̣n có nguy cơ ảnh hưởng
lên sức khoẻ của người tiêu dùng nữa.
Thái
độ của người tiêu dùng
Như đă nói ở
phần trên, chúng ta, người tiêu thụ sản phẩm
TQ hiện tại, từ đồ chơi cho trẻ em, đến
hầu hết các dụng cụ dùng trong nhà bếp hay dụng
cụ trang trí, từ một thức ăn tươi, khô đơn
giản đến những thức ăn “cao cấp” như
yến, sâm nhung chẳng hạn, từ viên thuốc cảm
cúm cho đến các loại thuốc trị liệu nhiều
bịnh rất phức tạp…tất cả những sản
phẩm trên có thể mang đến nguy cơ bất ngờ
và bất cứ lúc nào cũng có thể xày đến cho
chúng ta. Mọi đề pḥng hầu như bất lực,
ngoại trừ chúng ta hoàn toàn tẩy chay không sử dụng
sản phẩm có mang nhản hiệu “made in China”, nhưng điều
đó không thể xảy ra được. Nhưng cũng
không hẳn chúng ta hoàn toàn “miễn mhiểm” hội chứng
TQ đâu, v́ c̣n biết bao nhiêu hàng nhái, hàng giả không nhản
hiệu hay có nhản hiệu dưới một thương
hiệu khả kính như Colgate (trong vụ kem đánh răng
giả), tất cả đều có xuất xứ từ
Trung Quốc!
Thế giới
đă biết và biết rất rơ năo trạng cùng cung cách
làm ăn của TQ. Thế mà vẫn chấp thuận cho quốc
gia nầy gia nhập vào WTO từ năm 2001 mặc dù TQ
không hội đủ tiêu chuẩn về nhân quyền, hệ
thống kinh tế c̣n khép kín dưới h́nh thức quốc
doanh, chưa có sự trong sáng trong nhiều quyền căn
bản của người dân theo tiêu chuẩn của Liên
Hiệp Quốc. Điều sau cùng dưới đây đă
chấp cánh thêm cho TQ, có thể ngang nhiên vi phạm những
điều đă hứa và phê chuẩn khi gia nhập, mà đă
thế th́ chớ, họ c̣n ngang nhiên an nhiên tự tại hơn
nữa nhờ chiếc ghế đặc quyền phủ
quyết trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Trong một phát
biểu mới nhất ngày 21/2/2008, Bà Đường Vân
Hoa thuộc Văn pḥng An toàn Thực phẩm Bắc kinh nói
rằng:”TQ tuyên bố với
công đồng quốc tế rằng thức ăn
tại Olympic Bắc Kinh sẽ an toàn và các đội
tuyển không cần phải tự đưa thức
ăn tới TQ”. Tuy công bố như trên, nhưng Uỷ
ban Thế vận Hoa Kỳ cũng sẽ cho chở sang TQ 15.000
Kg thịt ḅ, gà, heo cho vận động viên của ḿnh.
Hiện tại
công cuộc vận động và quảng bá Thế vận
Hội vào tháng 8 sắp tới đây của TQ đang diễn
ra quyết liệt để gây thêm uy tín của nước
nầy trước thế giới.
Nhưng ngày
14/2/2008, nhà đạo diễn đă từng đoạt giải
Oscar Steven Spielberg tuyên bố từ chức vụ Cố vấn
quảng cáo cho Thế vận Bắc Kinh. Tin tức nầy
công thêm hàng loạt những sự kiện bất lợi
cho TQ trong khoảng thời gian trên như: 1- Nga tố cáo xe
Geely của TQ không an toàn ngày 3/2, 2- Ngày 12/2, Hoa Kỳ bắt
giữ 4 gián điệp TQ, 3- Ngày 12/2, Liên Hiệp Âu châu đang
dự định khởi tố TQ lên WTO, 4- Ngày 13/2, Nhật
Bản phát hiện thuốc bảo vệ thực vật
trong hắc cảo TQ; 5- Ngày 19/2, Nhật Bản lại phát
hiện thuốc trừ sâu trong cá thu đông lạnh chế
biến tại TQ.
Tất cả những
những sự kiện mới vừa xảy trên có thể
cho chúng ta liên tưởng đến thái độ và phản
ảnh cung cách ứng xử của thế giới trước
những vi phạm về an toàn hoá chất và dược phẩm
cùng hàng nhái hàng giả của TQ trong thời gian gần đây
chăng?
Kinh
nghiệm cho Việt Nam
Hẳn chúng ta c̣n
nhớ, Việt Nam cũng đă trăi qua quá nhiều kinh nghiệm
trong quá khứ về vấn nạn hoá chất và dược
phẩm TQ rồi. Xin nhắc lại một vài sự kiện
“thương đau”:
1-
Năm
2005, TS Nguyễn Quốc Tuấn đă phân tích và khám phá các
loại hoá chất dưới dạng bột bảo quản
và tăng trưởng được bày bán tự do ở
Hà Nội, sau đó, hoá chất trên tràn ngập Sài G̣n. Đó
chính là hoá chất 2,4,5-T, thành phần chính trong chất Da Cam
có chứa Dioxin. Khám phá nầy đă làm cho TS Tuấn mất
chức Trưởng Pḥng Phân tích Môi trường và không biết
đă bị thuyên chuyển đi nơi khác hay mất tích?
2-
Phẩm
màu Sudan TQ đă gây hậu quả không nhỏ qua các vụ
nhiễm độc tập thể ở Việt Nam năm
2005;
3-
Thức
ăn có trộn lẩn hoá chất làm tăng cân và béo ph́ ở
một số trường mẫu giáo cũng đă làm náo
loạn dư luận một thời năm 2006;
4-
Và
những vụ nhiễm độc trong các quán ăn tập
thể hay trong căn tin hầu như xảy ra hàng ngày ở
khắp nơi do thức ăn bị nhiễm độc,
do rau đậu đă được trồng bằng những
loại hoá chất “không tên” bày bán đầy rẩy khắp
nơi, rất hữu hiệu, bảo đảm tăng một
vài cm trong một đêm!
5-
Về
dược phẩm, qua kinh nghiệm bịnh SARS đă được
phát hiện đầu tiên ở Thượng Hải,TQ đă
được dấu kín măi đến khi có người
chết ở đây và tràn lây sang Việt Nam, TQ mới chịu
cho nhân viên LHQuốc vào điều tra;
6-
Biết
bao hoá chất bảo quản thực vật, động vật
không tên sản xuất từ TQ được bày bán ngang
nhiên từ bao năm nay đă được báo chí trong nước
kêu gào nhưng Việt Nam vẫn không có một phản ứng
nào để ngăn chặn cả, hay nếu có chỉ làm
cho có lệ mà thôi. Các hoá chất trên hầu hết là những
hoá chất đă bị cấm dùng trong thực phẩm hay
sử dụng với một vi lượng nhỏ và hoá chất
phải có độ tinh khiết là 99,9999%. Điều nầy
TQ đă không làm. Một thí dụ điển h́nh là trong quá
tŕnh điều chế hoá chất bảo quản sodium
benzoate, vẫn c̣n tồn đọng dư lượng
phenol, một hoá chất độc hại ảnh hưởng
lên thần kinh của trẻ em, làm chậm phát triển; do
đó, cần phải tinh chế để loại trừ
hoá chất sau cùng nầy. TQ đă không làm, v́ vậy giá thành
của hoá chất bảo quản trên rất rẻ so với
hoá chất nhập cảng từ Tây phương.
7-
Rốt
ráo hơn nữa, qua nhiều bịnh lạ xảy ra cho trẻ
em, hoặc học sinh cấp I ở nhiều nơi từ
Bắc chí Nam, ở những vùng nông thôn xa các khu công nghiệp
hoá chất đă được một số quan sát viên,
bác sĩ và b́nh luận gia đặt nghi vấn, v́ chưa
từng xảy ra trong lịch sử y khoa. Và nghi vấn đó
có thể là một loại vũ khí sinh học phát xuất
từ TQ để thử nghiệm vũ khí giết người
hàng loạt?
Tứ những
sự kiện đan kể trên đây, chúng ta có thể nhận
định và đề cao cảnh giác rằng Trung Quốc
không những là mối nguy về chính trị, về việc
xâm chiếm lănh thổ, về kinh tế….mà mối nguy nguy hiễm nhất là mối nguy làm cho
người Việt không c̣n khả năng đề kháng
trước đàn anh nước lớn, cũng như trí
tuệ của thanh thiều niên trong tương lai sẽ bị
huỷ diệt không c̣n đủ thông minh để phát
triển và khai mở Đất và Nước Việt Nam
nữa. Điều cảnh báo trên thiết nghĩ sẽ
làm động năo những người đang quản đất
nước hiện tại.
Hy vọng những
nhận định trên đây sẽ không xảy ra cho tuổi
trẻ tương lai Việt Nam
Mai Thanh Truyết
Rằm Tháng Giêng
Mậu Tư- 2008