Giáo Dục Việt
Hàng năm đúng ngày 5 tháng
9 là ngày khai giảng niên học mới ở toàn thể
Việt Nam gồm cả lớp mầm non và phổ thông ,
dù cho ngày đó là ngày chủ nhật hay thứ bảy (ngày
5/9/2004 là ngày chủ nhật). Theo thống kê của Bột
GD&ĐT, niên học 2005 - 2006 có hơn 22,5 triệu
học sinh và sinh viên, trong đó có 3,2 triệu trẻ em
lớp nhà trẻ và mẫu giáo, 7,6 triệu học sinh
tiểu học, 6,7 học sinh trung học cơ sở, và
3,1 học sinh trung học phổ thông.
So với niên khóa 2004 - 2005,
năm nay sỉ số học sinh bậc tiểu học
giảm 122.000 em mặc dù mức độ dân số
vẫn tăng nhiều trong mấy năm trở lại
đây. Hiện nay, cả nước có khoảng 30
triệu người đi học trong đó khoảng 20
triệu là học sinh phổ thông.
Hệ thống
giáo dục ở Việt
Để có một khái
niệm tổng quát về giáo dục VN chúng tôi xin đan
cử vài nét căn bản trong luật giáo dục mới
nhất được áp dụng ngày 2-9-1998 do quốc
hội VN phê chuẩn số 11/1998/QH10. Luật có những
điểm chính sau đây:
Luật giáo dục quy
định về hệ thống giáo dục quốc dân...
Nền giáo dục VN là
nền giáo dục xă hội chủ nghĩa có tính nhân
dân....lấy chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng
HCM làm nền tảng.
Hệ thống giáo dục
quốc dân nầy được phân chia như sau:
- Giáo
dục mầm non cho nhà trẻ và mẫu giáo;
- Giáo
dục phổ thông gồm bậc tiểu học và trung
học;
- Giáo
dục trung học có hai cầp: trung học cơ sở và
trung học phổ thông;
- Giáo
dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và
trường dạy nghề;
- Giáo
dục đại học đào tại hai tŕnh độ:
cao đẳng và đại học;
- Giáo
dục hậu đại học đào tạo hai tŕnh
độ: thạc sĩ và tiến sĩ.
Ngoài ra c̣n có nhiều hệ
thống giáo dục không trực tiếp nằm trong
quản lư của Bộ GD&ĐT như:
- Giáo
dục không chính quy đă phát triển mạnh trong những
năm gần đây gồm các lớp bổ túc văn hóa,
các chương tŕnh ngoại ngữ, tin học, giáo dục
từ xa v.v...
- Các
trường cao đẳng dạy nghề;
- Các
trường đại học dân lập;
- Và
các trường đại học nối kết với
đại học ngoại quốc, nghĩa là học 2
năm ở trong nước và hoàn thành bậc cử nhân
ơ ngoại quốc.
Bài viết nầy chỉ
chú trọng đến các hệ thống giáo dục chính quy
đặt dưới sự quản lư trực tiếp
của Bộ GD&ĐT mà thôi.
Giáo dục nhà
trẻ và mẫu giáo
Có hơn 3 triệu trẻ
em lớp nhà trẻ và mẫu giáo ở lứa tuổi
từ 3 đến 5 trong niên khóa nầy. Theo các phương pháp giáo
dục căn bản cho lứa tuổi nầy trên thế
giới, đây là thời gian để các em tập làm quen
với bè bạn để có khái niệm về tập
đoàn,và xă hội, cũng như
chơi đùa một số tṛ chơi tập thể
để khai trí. Ở lứa tuồi thứ năm, các em
bắt đầu học đếm và học các mặt
chữ cũng như ráp vầm đơn.
Ngược lại trong
trường hợp VN, các em được thúc
đẩy để đi vào hệ thống giáo
dục chính thức đă được chương tŕnh
của Bộ GD&ĐT ghi nhận. Nhưng trên thực
tế, các em c̣n bị thầy cô ép học thêm
nhiều hơn, và phụ huynh cũng phải ép ḿnh đi theo. Ngoài giờ học chính
thức, c̣n có thêm những giời phụ
đạo hay dạy thêm. Nếu phụ
huynh nào không đóng tiền cho con em học, các em đó
sẽ có :vấn đềà
với thầy cô ngay.
Ở một số không
nhỏ trường mẫu giáo dành cho các bậc
trưởng giả hoặc con cái cán bộ, điều
kiện và môi trường học hỏi khác hẳn, nghĩa
là các em có nhiều dụng cụ học liệu, nhiều
tṛ chơi du nhập từ ngoại quốc dành cho trẻ
con, thậm chí c̣n được dạy thêm sinh ngữ
như Anh hay Pháp nữa. Dĩ nhiên là phụ
huynh phải đóng một số tiền hàng tháng rất
cao, gấp nhiều lần lương một công nhân làm
trong các hảng xưởng có vốn đầu tư
ngoại quốc. Hầu hết các trường
nầy đều cho trẻ em ăn và ngũ
trưa.
Như vậy, đối
với tuổi thơ từ 3 đến 5 tuổi mà
phải bị nhồi ép cả ngày nơi trường
học và xa gia đ́nh hàng 10 giờ, thử hỏi các em
đó có c̣n đủ sức để đi trọn
đường dài trong học đường hay không?
Giáo dục
bậc tiểu học
Tương trự như
chương tŕnh của các em nhà trẻ và mẫu giáo, t́nh
trạng học vấn của các em tiểu học cũng
không khá ǵ hơn. Nhận thức được chương tŕnh giáo
dục rất năng nề và đă được áp
dụng từ năm 2002, niên học năm nay, Bộ
GD&ĐT có yêu cầu giảm tải 14% chương tŕnh
tiểu học. Nhưng măi đến ngày 13 -
2 - 2006, dù niên học đă bắt đầu từ 5/9
năm trước, Bộ mới công bố hướng
dẫn việc dạy và học cho học sinh học
kỳ 2. Do đó cả thầy lẫn tṛ đều
ở trong t́nh trạng dở khóc dở cười. Bộ
đă nh́nh nhận sách giáo khoa hiện tại c̣n nhiều
nội dung nặng nề và khó hiểu, và một số chi
tiết vẫn không được giáo viên khai triển
trong chương tŕnh dạy v́ không đủ thời gian.
Tuy nhiên với chương
tŕnh tiết giảm trong năm nay, chỉ thị c̣n nêu rơ
những phần nào nếu không có điều kiện,
được phép giảm bớt và nếu không
có điều kiện có thể giảm bớt,
nhưng thầy cô phải giảng dạy đầy
đủ các môn tiếng Việt, môn tự nhiên và xă
hội cũng như nghệ thuật, thể dục... Như vậy, căn cứ vào chỉ thị trên,
các goáo viên dù có tinh thần trách nhiệm cao và có lương
tâm cũng không thể nào đáp ứng được yêu
cầu nầy. Và học sinh vẫn phải học
liên tục từ sáng đến 7 - 8 giờ tối mới
được về nhà. Chính v́ vậy
nảy sinh ra vấn đề dạy thêm, học thêm.
Và tệ hại hơn nữa trên bảng tổng kết
hàng năm của lớp, của trường...ai ai
cũng thấy nhiều thành tích qua thống kê
được thổi phồng và hiện tượng
nầy trở thành phổ quát và biến thành một cơn
bịnh trầm kha cho giáo viên và cán bộ quản lư
trường, đó là bịnh thành tích.
Qua nhiều phản ảnh
của thầy cô và phụ huynh, chương tŕnh tiết
giảm năm nay cũng chẳng có ǵ thay đổi v́ trên
thực tế học sinh cũng phải học đủ
lượng bài trong chương tŕnh. Ngay cả những
người chuyên trách ngành giáo dục như ông Lê Ngọc
Diệp, Phó Pḥng GD Sở Tiểu học TpHCM đă phải
phát biểu như sau:Trên thực
tế chương tŕnh vẫn c̣n nặng, bởi có
một số kiến thức trước đây là của
lớp học sau, nay lại dồn xuống cho pớp
dưới, khiến học sinh bắt không kịp. Như
học sinh lớp 1 trước đây chỉ yêu cầu
tính toán cộng trừ nhân chia trong phạm vi
20, với chương tŕnh cải cách th́ lại nâng lên
đến 100.
Tóm lại, chủ
trương giảng dạy cho chương tŕnh tiểu
học quá lớn và cung cách dạy học nặng nề,
dồn ép nhiều kiến thức không cần thiết
cũng như không thích hợp với lứa tuổi ở
bậc tiểu học. Do đó việc thực hiện và hoàn
tất chương tŕnh đối với thầy cô
chỉ là một việc chấp vá mà thôi. Riêng học sinh,
với một chương tŕnh quá tải như trên
chỉ là những con ngổng' được nhồi
nhét thức ăn vào miệng, để có gan to,
đem nhiều lợi ích kinh tế cho người chăn
nuôi; c̣n học sinh VN được học như trên,
quốc gia sẽ hưởng được ǵ nơi
thế hệ học và được dạy như trên?
Giáo dục trung
học
Trong niên học năm nay,
toàn quốc có độ 10 triệu học sinh cơ sở
và phổ thông. Sau khi học hết lớp 5 của
bậc tiểu học, học sinh phải thi tuyển vào
lớp 6; và sau lớp 9, sẽ phải thi tuyển vào
lớp 10.
Giáo dục trung học
được chia làm hai cấp: trung học cơ sở
tương đương với trung học đệ
nhất cầp thời VNCH, và trong học phổ thông,
tương đương với trung học đệ
nhị cấp. Tựu trung, chương tŕnh
vần c̣n quá nặng nề, học sinh c̣n lại phải
cán đán thêm chương tŕnh triết lư Mác-Lênin và tư
tưởng HCM trong những năm cuối của
chương tŕnh phổ thông, cộng thông nhiều giờ
sinh hoạt đoàn thể. Có thể nói
học sinh bị nhiều áp lực nhất là phải
chuẩn bị thi tuyển vào lớp 10 ở giai
đoạn nầy. Để rồi
từ đó học chuyên ngành sửa soạn cho một
cuộc thi tuyển khác vào đại học 3 năm sau
đó. Như vậy trong suốt 7
năm trung học, học sinh phải qua 3 kỳ thi
tuyển vào lớp 6, lớp 10, và vào đại học.
Riêng về giáo dục
nghề nghiệp gồm có trung học chuyên nghiệp và
trường nghề cũng như giáo dục đại
học và hậu đại học, ví chưa đủ
thông tin cho nên không thể bàn luận trong bài viết
nầy.
Tóm tắt lại, qua
những chương tŕnh học nặng nề, học bằng
cách nhồi nhét, từ chương. Giáo viên không có tinh thần
giảng dạy, ngay cả muốn có cũng không thể
làm được v́ sức ép của chương tŕnh
học; do đó việc kích thích được tinh
thần tự chủ, óc t́m ṭi và khơi mào được
sức sáng tạo của học sinh không thể nào có
được trong chương tŕnh giáo dục nầy.
Đứng về phía
phụ huynh, với sức ép của học
đường đè nặng lên con em, cha mẹ bắt
buộc phải thúc giục con đi học sáng, chiều,
tối, trung b́nh 12 giờ một ngày. Từ đó ảnh
hưởng nhiều đến tâm lư học sinh, luôn luôn
bị căng thẳng, ám ảnh về chương tŕnh
học và hiện tượng trầm cảm đă nảy
sinh trong học sinh ngày càng nhiều hơn căn cứ theo Bộ Y tế VN. Đôi khi
v́ quá quẩn trí, nhiều học sinh nghĩ đến
chuyện tự tử như câu chuyện vừa xảy ra
ở Hà Nội qua vụ 5 em học sinh đă quyết
định đi t́m cái chết. Đây
là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho những
người có trách nhiệm cần phải lưu tâm.
Thi tuyển vào
lớp 10
Đối với việc
thi tuyển vào lớp 6, các em phải thi toán và ngữ
văn (làm luận văn). Việc nầy đă được các
quốc gia trên thế giới băi bỏ từ lâu, v́
với số tuổi c̣n non nớt và sự hiểu
biết c̣n hạn chế; do đó quả thật là không
cần thiết để các em phải bắt đầu
một cuộc tranh đua nầy. VNCH đă
chấm dứt cuộc thi tiểu học từ cuối
thập niên 50.
Bước qua cuộc thi
tuyển vào lớp 10. Đây là một cuộc trang
tài gay go thứ nh́ sau cuộc thi tuyển vào đại
học. Học sinh phải bắt đầu
luyện thi từ lớp 9, và qua sự giúp đở
của thầy cô, việc thẩm định năng
khiếu của từng cá nhân, và chuẩn bị việc
chọn ban ngành trong kỳ thi vào đại học là
một việc làm rất cần thiết ở giai
đoạn nầy. Do đó, việc chọn ban ngành ở
lớp 10, cùng những môn học tương ứng
rất quan trọng v́ quyết định nầy sẽ
ảnh hưởng tới tương lai của từng
học sinh khi lên đị học.
Bộ GD&ĐT chia
cuộc thi tuyển vào đại học làm 4 khối: A, B,
C, D, v́ vậy học sinh lớp 9 cũng phải tuân theo cách phân chia nầy để chọn
ngành. Ban Khoa học tự nhiên (KHTN) hay ban A
gồm 4 môn học: Toán, Lư, Hóa, Sinh. Học sinh học ban
nầy sẽ thi tuyển vào khối A và B. C̣n ban Khoa
học xă hội (KHXH) hay ban C có 4 môn học: Ngữ văn,
Lịch sử, Địa lư, Ngoại ngữ; học sinh
ban nầy sẽ thi vào khối C và D. Riêng đối
với ban C, các môn học đă tạo ra khó khăn cho
học sinh khi thi vào đại học. Khối C
đại học yêu cầu thi 3 bộ môn: Văn, Sử,
Địa mà không cần môn ngoại ngữ. Trong lúc đó
khối D yêu cầu thi: Toán, Văn, và Ngoại ngữ; do
đó học sinh của khối nầy phải học thêm
môn toán, và hai môn sử địa sẽ biến thành hai môn
thừa.. không cần
thiết cho yêu cầu đại học. Như vậy,
học sinh lớp 10 của ban C, trong khi chuẩn bị vào
đại học đă phải học những môn
thiếu và thừa.
Thêm nữa, trong một
quyết định riêng rẽ cũa Bộ, kể từ
niên khóa 2004 - 2005 trở đi, học sinh tất cả các
khối khi thi tốt nghiệp trung học phải chọn
một trong hai bộ môn sau đây:
- Thứ
nhất: Triết học Mac-Lenin, Chủ nghĩa xă hội,
Kinh tế chính trị Mac-Lenin, Lịch sử Đảng CS
VN, và Tư tưởng HCM;
- Thứ
hai: Triết học Mac-Lenin, Kinh tế chính trị Mac-Lenin,
Chủ nghĩa xă hội khoa học.
Thiết nghĩ những
môn học nầy hoàn toàn không giúp ích được ǵ trong
suy nghĩ của những chuyên viên tương lai của
đất nước ngơ hầu đóng góp cho công cuộc
phát treỉn chung. (Buộc học sinh
phải học lư thuyết Mac-Lenin trong đó chủ
trương tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân,
cần phải hủy diệt, thử hỏi, nếu
đứng trên quan điểm nầy, đạo
đức và đạo lư học đường chắc
chắn sẽ bị cáo chung mà thôi!).
Tóm lại, cuộc phân ban
và thi tuyển vào lớp 10 vẫn c̣n nhiều điểm
cần phải xét lại, ngay chính Thứ trưởng
Bộ GD&ĐT, Nguyễn Văn Vọng đă từng
nói nguyên nhân điều chỉnh là chủ trương
phân ban chưa mềm dẽo, chưa đáp ứng hết
nguyện vọng, năng lực, sở trường
đa dạng của học sinh. Từ sự phân ban
nầy đă tạo ra nhiều sức ép cho học sinh
ở những năm cuối cùng của hệ thống
trung học phổ thông.
Thi tuyển vào
đại học
Trong hơn 3,1
triệu học sinh trung học chuẩn bị đi vào các
trường đại học, cao đẳng. Tuy không có số liệu thống kê của
tổng số sinh viên được chấp thuận vào
đại học toàn quốc, nhưng chúng tôi vẫn có
thể đi đến kết luận là tổng số
học sinh trúng tuyển vào các bậc đại học
chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với
số học sinh tốt nghiệp toàn quốc.
Nếu lấy Đại
học Quốc gia tp HCM, một đại học lớn
nhất nước làm điển h́nh, trong năm 2006,
đại học nầy chỉ dự kiến tuyển
11.230 sinh viên vào các bậc đại học và cao
đẳng mà thôi. VN chỉ có khoảng 10 trường
đại học có sỉ số tương
đương hay thấp hơn. Như vậy, chúng ta có
thể ước đoán toàn quốc hàng năm có thể
thâu nhận khoảng 100.000 sinh viên, chiếm tỷ lệ
3,3% học sinh được vào đại học. Đây là một tỷ lệ rất thấp so
với các quốc gia trong vùng. Nếu
tính thêm số sinh viên ở các đại học dân
lập, đại học do người ngoại quốc
thiết lập...số sinh viên trong các hệ thống
nầy cũng chỉ ước tính khoảng 20.000
người mà thôi.
Nếu t́nh trạng trên
không được cải thiện trong tương lai,
lực lượng lao động trí óc
của quốc gia được đào tạo không
thể nào cung ứng đủ cho nhu cầu phát triển
kinh tế xă hội trong những ngày tới.
Thêm một vấn
đề trong các kỳ thi tuyển vào đại học
là điểm thưởng. Sở dĩ điểm
nầy có được căn cứ vào thành tích
học sinh giỏi toàn diện, và điểm nầy
sẽ được cộng từ 1 đến 2 điểm
trong kỳ thi tuyển vào đại học. Chínhsách
nầy đă gây ra rất nhiều biểu hiện tiêu
cực ở các trường phổ thông. Những gia
đ́nh của học sinh lớp 12 giàu có thường
đem quà cáp, tiền bạc nhân các dịp lễ lớn,
từ đó thầy cô chủ nhiệm sẽ cho những học
sinh nầy đạt tiêu chuẩn giỏi toàn diện
để có được điểm thưởng. Chính v́ vấn nạn nầy mà trong mỗi kỳ
thi tuyển vào đại học vẫn c̣n đầy
rẩy bất công. Con nhà nghèo, học giỏi vẫn
có thể bị loại, nhường chỗ cho con nhà giàu,
con ông cháu cha, học dốt mà vẫn được thâu
nhận vào đại học.
Sách giáo khoa
Qua phản ảnh của
giáo viên, học sinh, phụ huynh, và nhân viên quản lư giáo
dục, chương tŕnh học từ cấp tiểu
học lẫn trung học rất nặng nề, cũng
như sách giáo khoa không c̣n cập nhật hóa những
tiết mục cần giảng dạy. Do đó, vào
đầu tháng 1/2006 Bộ GD&ĐT đă phân bố
lại chương tŕnh học cho hệ thống trung
học phổ thông và chia làm 3 ban: Ban khoa học tự nhiên,
Ban khoa học xă hội, và Ban cơ sở.
Chỉ trong ṿng một
tháng, nhà xuất bản giáo dục đă hoàn tất tất
cả các sách giáo khoa mới cho 3 ban nầy và đem áp
dụng cho cả nước.. C̣n nhớ cách đây 2 năm qua quyết
định của Thủ tướng và Bộ
GD&ĐT, công cuộc soạn thảo thí
điểm 2 bộ sách giáo khoa đă được
khai triển. Việc khai triển 2 bộ thí
điểm nầy chưa đem vào áp dụng, th́ nay
lại phải tiêu tốn một chi phí quá lớn cho 3
bộ sách theo chương tŕnh mới
trong đó Ban cơ sở là một ban mới thành lập. Và nhà xuất bản giáo dục đă hoàn tất
trong ṿng một tháng. Làm như thế NXB
sách giáo khoa có vội vă lắm không? Và phẩm chất
sách hoàn thành có đạt được tiêu chuẩn theo chương tŕnh đă hoạt
định hay không? Cũng cần nên biết chi phí trong
việc nầy đă lên đến trên 600 tỷ
Đồng. Và cũng cần
nên biết thêm là theo GS TS Nguyễn Xuân Hải, số
tiền bỏ ra để cung ứng cho việc soạn
thảo sách giáo khoa bấy lâu nay, chỉ có ¼ trả cho
phần thù lao biên soạn, ¾ c̣n lại dành hết cho chi phí
quản lư. Trong thành phần giáo sư biên soạn sách giáo
khoa cũng c̣n khá nhiều giáo sư khả kính, nổi
tiếng lấy bài của đồng nghiệp, bài của
sinh viên tốt nghiệp, gộp lại rồi viết lời
tựa và do đó nghiễm nhiên để tên ḿnh thành tác
giả biên soạn. Thậm chí có những giáo
sư lấy tên ḿnh làm tác giả cho những quyển sách
ngoại quốc ông ta dịch ra.
Ngân khoản cho
giáo dục
Chỉ tiêu giáo dục VN cho
năm 2005, theo thống kê của Bộ GD&ĐT chiếm
8,3% tổng sản lượng quốc
dân ( 40 tỷ Mỹ kim) ước tính vào khoảng 322
triệu Mỹ kim. Trong niên học nầy sĩ số
học sinh sinh viên toàn quốc vào khoảng 22,5
triệu, do đó chi phí cho mỗi học sinh là 14,3 Mỹ
kim/năm. Đối với các quốc gia đă phát
triển trên thế giới, trung b́nh người dân
chỉ đóng 20% cho chi phí giáo dục toàn quốc, nhưng
đối với người VN, mỗi người dân
phải chịu 40% chi phí trong đó chưa kể các
phụ phí do nhà trường ấn định riêng rẽ.
Tuy nhiên phẩm chất giáo
dục không biến thiên đồng biến với chi phí
trên v́:
- Học
sinh, sinh viên phải học trong những pḥng ốc quá
tải;
- Thầy
cô không được trả lương đúng mức
để bảo đảm cuộc sống gia đ́nh, do
đó nảy sinh ra nhiều hiện tượng tiêu
cực;
- Chương
tŕnh học c̣n nhiều tiết mục cần bàn căi
nhất là những môn công dân, và triết học Mac-Lênin.
Từ các số liệu
trên đây, chúng ta có thể h́nh dung được tính
bất b́nh thường trong hệ thống giáo dục VN.
Sĩ số sinh viên
hiện tại là 1,9 triệu trên
tổng dân số 83 triệu, tức khoảng 2,2%. Đây
là một con số không nhỏ so với các quốc gia
như Thái Lan ở mức 2,0%, Hoa Kỳ
5,7%. Nhưng số sinh viên VN đa phần chú
trọng vào việc kiếm t́m các cấp bằng
đại học thay v́ học nghề chuyên môn để
phục vụ cho công cuộc phát triển quốc gia trong
t́nh trạng của VN hiện tại. Từ đó,
số sinh viên tốt nghiệp trong các ngành chuyên nghiệp
c̣n thấp, VN chỉ có 14% tổng số học sinh chuyên
nghiệp, trong lúc đó sĩ số trên đă đạt
đến trung b́nh 45% cho các quốc gia trên thế giới.
Học phí cho
học sinh và sinh viên
Hàng năm gần
đến ngày tựu trường, đa số phụ
huynh học sinh đă bắt đầu lo lắng ngày
đêm: nào là ráng chạy cho con được vào
trường điểm, lo cho con được
vào lớp học có thầy cô giỏi, và nhất là lo
tiền để trang trăi tất cả các lệ phí,
phụ phí đầu năm của trường. Tuy nhiên
niên học năm nay qua quyết định 73, nhà
nước lại yêu cầucác trường trích ra 40%
nguồn thu để trả lương hco giáo viên. Do
đó, năm nay phụ huynh lại phải chịu
đựng thêm gánh nặng học phí cộng thêm tiền
đóng góp cơ sở vật chất, tiền đồng
phục, hỗ trợ quỹ đoàn, quỹ đội, tiền
bảo hiểm thân thể, bảo hiểm y tế,
tiền học bán trú, tiền ăn, thậm chí cả
tiền nước uống. Ngoài ra c̣n
những phụ phí học thêm với thầy cô để
hy vọng con em ḿnh được làm học sinh giỏi và
không bị ở lại lớp. Tệ hại hơn
nữa, các em c̣n phải đóng góp cho các quỹ xă hội
như quỹ người mù, quỹ người nghèo,
rồi quỹ ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, hạn hán hay các thiên tai khác.
Đối với các lớp cao hơn c̣n có một số
phụ phí đặc biệt như ở trường
cơ sở Hồng Bàng Sài G̣n như tiền bảo
trợ giáo dục (?) lên đến 5.000 Đồng/tháng,
tiền chất lượng cao, 30.000 Đồng/tháng,
quỹ Hội phụ huynh nhà trường, 30.000
Đồng/năm, và quỹ Hội phụ huynh lớp,
100.000 Đồng/học kỳ.
Để có một khái
niệm tổng quát về học phí, sau đây là học
phí cho các trường ở Hà Nội: - Học sinh mầm
non có cha mẹ làm nghề nông là 10.000 đến 15.000
Đồng/tháng; mẫu giáo 50.000 Đồng/tháng; nhà
trẻ, 70.000 Đồng/tháng; - Tiểu học, không thu
học phí; - Trung học cơ sở, 10 đến 15.000
Đồng/tháng; - Trung học phổ thông, 20 đến
25.000 Đồng/tháng.
Nh́n vào chi phí trên đây chúng
ta có thể giải thích tại sao trong niên học năm
nay, số học sinh bậc tiểu học giảm đi
122 ngàn so với niên học 2004 - 2005, mặc dù mức sinh
sản trong mấy năm trở lại đây vẫn
tăng cao.
Về phía sinh viên, t́nh
trạng chạy đôn chạy đáo để t́m kế
mưu sinh và đóng học phí cùng phụ phí cho đại
học là những câu chuyện thường ngày. Theo thống
kê, chi phí trung b́nh cho một sinh viên đại học là
từ 7 đến 10 triệu mỗi năm. Do đó
có thể nói đại đa số sinh viên Việt
- Nhiều
sinh viên cả nam lẫn nữ phải đi bán máu
thường xuyên ở những trạm bán máu nhân
đạo để sống;
- Nhiều
sinh viên phải đi kiếm sống bằng nghề
học thuê và thi thuêdo nhu cầu cần có bằng
cấp để bảo đảm vị trí đang có
của cán bộ hoặc dùng bằng cấp để
tiến thân thêm;
- Và
dĩ nhiên c̣n rất nhiều nghể đặc biệt
lương thiện hay không lương thiện
người viết không thể viết ra đây
được v́ quá đau ḷng cho sinh viên Việt
Người
thầy xă hội chủ nghĩa
Qua chương tŕnh học
nặng phần lư thuyết và từ chương, qua tinh
thần à tâm lư cùng điều kiện sống của
tuyệt đại đa số sinh viên, học sinh,
người thầy giáo trong chế độ xă hội
chủ nghĩa đă và đang hành xử như thế nào? Theo ghi
nhận của các báo ở VN, người thầy giáo XHCN
hôm nay đang biến thành thợ dạy.
Ở cấp tiểu
học, giáo viên sau những giờ dạy ở lớp
thường đem học tṛ về nhà dạy thêm. Đa phần phụ huynh
hầu như
bị bắt buộc phải gữi
con em đi học thêm để con em đó có thể
được phê là học sinh giỏi, tiên tiến...
Ở bậc trung học,
đa số thầy cô dạy các môn cần thiết cho
những kỳ thi tuyển như toán, lư hóa, văn, sinh
ngữ đều được các trung tâm dạy kèm,
trung tâm luyện thi chú ư đặc biệt. Và
thầy cô nào nổi tiếng có thể dạy mỗi ngày
từ 12 đến 14 tiết học. Và v́ phải chạy trường
do đó h́nh ảnh ông thầy đến lớp trễ và
về sớm làhoạt cảnh xảy ra thường
xuyên. Có thể nói lương tâm chức
nghiệp của người thầy giáo XHCN chỉ
dừng lại nơi sức hút của mức thù
lao mà thôi.
T́nh trạng ở bậc
đại học cũng không khá ǵ hơn. Một thí dụ sau đây
cho thấy một tiến sĩ dạy chuyên ngành kinh
tế ngoại thương đă đạt kỹ lục
giảng dạy tại trường với trên 1000 giờ
một năm, ngoài ra c̣n dạy thêm nhiều trường khác
nữa cũng như hướng dẫn là
luận án, cũng như tiểu luận ra trường. Hai việc sau cùng nầy cũng được
quy thành tiền. Do đó ông giảng viên
nầy có thu nhập hàng tháng trên 20
triệu Đồng. Với công việc làm ra tiền
tất bật như thế, ông giảng viên trên làm sao c̣n
thời gian để làm nghiên cứu khoa học. Theo
số liệu của Hội đồng Chức danh Giáo
sư, một cuộc điều tra đă được
thực hiện trên số 360 giáo sư được
hỏi, kết quả được công bố như sau:
chỉ có 69,7% giáo sư cho biết có xử dụng máy vi
tính, và 41,7% có xữ dụng internet. Như
vậy gần 60% giao sư trưởng bộ môn không có
điều kiện hội nhập vào giới khoa học
quốc tế qua mạng lưới toàn cầu, v́ vậy
không thể tiếp cận hàng ngày những sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật trên thế
giới. Và, v́ không tiếp cận
được với khoa học mới, một số
giao sư vẫn sữa soạn giáo tŕnh qua những thông
tin khoa học lỗi thời. Một giáo sư
dạy chuyên đề về luyện kim
đă dịch một cuốn sách luyện kim xuất
bản ỏ Nga năm 1964 để làm giáo tŕnh giảng
dạy sinh viên cho niên học 2004-2005.
Theo báo cáo hàng năm của
World Investment Report của LHQ dưới tiêu đề
2005 Transnational Corporation & The Internationalization of
R&D công bố vào tháng 9/2005, nhằm mục đích đánh
giá năng lực sáng tạo của một quốc gia qua
chỉ số năng lực sáng tạo I I (innovation index).
Trong 117 quốc gia được thăm ḍ, VN ở
thứ hạng 82 và vẫn bị xếp vào nhóm các quốc
gia c̣n kém về khoa học phát triển, sau hai nhóm quốc
gia có tŕnh độ cao và trung b́nh trên thế giới
gồm 78 nước. Trong thập niên 1995 - 2004, số
nghiên cứu khoa học công nghệ xuất hiện trên
thế giới có tên VN cả trong lẫn ngoài nước
là 3.236 bài nghiên cứu, nhưng trong số nầy có hơn
2.400 báo cáo đứng chung tên với tác giả ngoại
quốc, chỉ c̣n gần 800 bài tên VN thuần túy. Như thế nếu so với thế giới,
hàng năm sản xuất tẩng cộng gần 800 ngàn
nghiên cứu được công bố trên 6 ngàn tạp chí
khoa học quốc tế.
Nếu nói riêng về khu
Thái B́nh Dương, hội nghị PacifiChem 2005 vùa nhóm
họp tại Honolulu vào 15-20/12/2005 đă đúc kết 950
nghiên cứu khoa học của các quốc gia trong vùng liên
quan đến: Nông hóa học, Hóa phân tích, Sinh hóa, Hóa Y, Hóa
Dược, Môi trường và Hóa học Xanh, Hóa hữu
cơ, Hóa lư, Hóa vi phân nano, Hóa đồng phân,, và Hóa lư
thuyết. Thế mà, vẫn không thấy một khoa học
gia ở VN nào tham dự cũng như đăng đàn
một bài nghiên cứu nào, dù dân số VN đứng vào hàng
đông dân thứ 12 trên thế giới. Trên toàn quốc VN
hiện nay, số lượng tiến sĩ các ngành
chỉ có khoảng 30% chuyên về nghiên cứu, c̣n lại
70% thích ngồi ở ghế quản lư mà thôi.
Thi cử và
nạn chạy điểm, chạy bằng
Như những
chương tŕnh học các cấp được mô tả
như trên, cộng thêm tâm khảm của người
thầy XHCN, chúng ta có thể h́nh dung ra chế độ thi
cử và đạo đức nơi trường thi
như thế nào rồi. Nh́n chung các
tệ trạng trong mỗi kỳ thi ngày càng tăng lên
nhiều hơn như: - đánh tráo bài thi, - gian lận bùa
phép trong khi thi, - thi dùm cho người khác, - t́nh trạng mua
điểm chạy điểm, - thậm chí đến
việc không đi thi mà vẫn có tên trong danh sách trúng
tuyển...
Trong một kỳ thi vào
lớp 10 tháng 7/2005 tại Thanh Hóa, hàng ngàn người dân
đă tấn công trường thi sau khi đánh đuổi
giám thị và lực lượng bảo vệ. Lư do là phụ huynh muốn
đem bài giải toán vào cho con em ḿnh. Điều đó c̣n
có nghĩa là đề thi đă bị lộ trước
và đáp án đă được bán cho
phụ huynh.
Một thí dụ khác là do kết
quả của tệ nạn điểm thưởng. Trong kỳ thi tuyển vào đại học 2005 -
2006, gần 300 học sinh tốt nghiệp trung học
phổ thông loại giỏi bị điểm không (0).
Tại nhiềi địa phương, 50% học sinh
giỏi có điểm trung b́nh dưới 15
(phải ít nhất trên 15 điểm mới đủ tiêu
chuẩn vào đại học, và yêu cầu có thể cao
hơn tùy theo trường). Ngay cả
khi những sinh viên giỏi đă đậu vào đại
học, số học sinh có điểm thưởng đă
lập thành tích kỹ lục về thi lại, hay bị
đuổi ra khỏi trường v́ không đạt tiêu
chuẩn thi cử. Đây là kết quả của một
cuộc thống kê trên 50 ngàn học sinh giỏi' do
Tổ công tác và Nghiên cứu của Bộ GD&ĐT.
Ở bậc đại
học cũng không khá ǵ hơn, t́nh trạng chạy
điểm và mua bán điểm là câu chuyện hàng ngày sau
mỗi đợt thi. Tiêu chuẩn đưa ra rất rơ ràng là
50.000 Đồng cho 5 điểm, 60.000 cho 6 điểm,
100.000 th́ được đồng loạt 8 điểm.
Ở Đại học Quốc gia Hà Nội, GS TS
trưởng bộ môn Cơ khí & Thiết kế trong
niên học vừa qua chỉ dạy 6 trên tổnng số 24
tiết học. Trong các đồ án ra
trường, vị GS khả kính nầy hướng
dẫn và sửa chữa đồ án cho sinh viên ra
trường tại nhà. Đôi khi đồ án
chỉ được thầy thông qua trước giờ
đệ tŕnh và bảo vệ chỉ 30 phút mà thôi. Do đó
nhiều cảnh dở khóc dở cười xảy ra.
Theo điều tra, trong quá tŕnh chuẩn bị đến
lúc bảo vệ, một số lớp đă tổ
chức đưa phong b́ cho các GS hướng dẫn và
số lượng SV đến nhà GS hướng dẫn
rất đông gồm cả hệ chính quy và hệ
tại chưc. Họ đă đàm luận công khai và
thỏa thuận số tiền để đồ án được chấp thuận. Có nhiều sinh viên trả hơn 500 ngàn cho một
đồ án.
Câu chuyện không dừng
lại ở GS hướng dẫn bộ môn trên mà c̣n
xảy ra cho một GS dạy môn Thanh toán Quốc tế và
Tín dụng Quốc tế. Theo điều tra, số tiền GS nầy
nhận dudợc từ sinh viên trong vài năm gần đây
có thể cất được một nhà lầu sang
trọng tại thủ đô Hà Nội. Cho đến nay,
chỉ có một câu chuyện sửa điểm của GS
Phan Thị Ngọc Sơn, thạc sĩ tin học ơ3
Liên Sô cũ của Đại học Mỡ tpHCM đă
bị bắt và kết án 3 năm tù về tội đă
nhận gần 11 triệu của sinh viên để sửa
lại bài thi trong một kỳ thi tốt nghiệp.
Trước ṭa, bị can khai v́ thương sinh viên mà làm
như thế. Đây cũng là một trong
những cung cách điển h́nh của nền đạo
đức giáo dục XHCN.
Tệ nạn thi cử
vẫn c̣n đầy rẫy, nhưng sinh viên một khi
tốt nghiệp ra trường th́ sao? Xin thưa,
t́nh trạng cũng không khá ǵ hơn. Hàng
năm có rất nhiều sinh viên tốt nghiệp ra
trường như trường Sư Phạm tp HCM không
đi tiếp nhận nhiệm sở được
bổ nhiệm. V́ với số lương không
đủ sống, các sinh viên thường
chạy ra ngoài làm cho các công ty có vốn
nước ngoài để có đời sống ổn
định hơn, đặc biệt là những sinh viên
học ban sinh ngữ như Anh hay Pháp văn.
Một số sinh viên
tốp nghiệp không
được bổ nhiệm cũng như không xin
được việc như anh Lê Hồng Lĩnh, tốt nghiệp cử nhân ngành sử
học hơn 4 năm, nay viết thư lên những
người cầm quyền xin được vào tù
mặc dù đă chạy chọt 15 triệu
để được vào một cơ quan nhà
nước!
Một thí dụ mới
nhất vừa xảy ra là Khóa đào tạo cao
đẳng của một trường chuyên ngành về
Kiểm soát không lưu. Trong số 62 sinh viên tốp nghiệp năm
2005 đều cúng 4.000 Mỹ kim để
được bổ nhiệm, nhưng vẫn c̣n 8 sinh viên
ngồi chờ v́ không có liên hệ
tốt với các cơ quan tiếp nhận ở các
địa phương!
Bằng cấp
giả & Tiến sĩ giấy giả
Hai bằng cấp cao
nhất củq hệ thống giáo dục Việt
Như đă nói ở
phần trên về tệ nạn chạy điểm
chạy bằng ở hai cấp bực giáo dục cao
nhất nầy, t́nh trạng xảy ra ngày càng nhiều
hơn nữa v́ liên quan đến nhiều cán bộ cao
cấp cần được hợp thức hóa v́ nhu
cầu chức vụ đ̣i hỏi. Do đó chúng ta không ngạc
nhiên khi thấy nhiều nhân vật chưa học hết
lớp 12 mà đă có bằng Tiến sĩ ,
thậm chí c̣n có thêm vài cấp bằng chuyên môn khác nữa.
Tùy theo nhu cầu, giá cả mỗi
bằng từ 5 đến 20 triệu Đồng VN. Thêm
nữa, nạn rao bán bằng giả đă được
mang lên internet như một dịch vụ thương măi
và có rất nhiều cung cách khuyến măi như vừa có
bằng vừa có luận án bảo vệ kèm theo.
Các dĩa CD của những công tŕnh nghiên
cứu khoa học và nhân văn của những bằng
tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ
được rao bán ...dầy đường. GS
Hồ, thuộc Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Nông
nghiệp Hà Nội, một nơi hănh diện v́ đă
đào tạo hàng ngàn tiến sĩ, đătố cáo
những việc sai sót ảnh hưởng đến
nhiều GS và cán bộ cao cấp của Viện nầy. Ngay cả ngài Viện trưởng mới vừa
nhậm chức vào cuối năm 2005 cũng không biết
giải quyết như thế nào nữa.
Ngoài nguyên do chính yếu là
tài chính, c̣n một nguyên do sâu xa khác nữa trong tệ
nạn bằng cấp giả hay tiến sĩ giấy, đó là nguyên do cả nể hay chấp hành
yêu cầu của thượng cấp. Do đó luận án của cán bộ lănh đạo ở các Viện,
Trường, Trung Tâm v.v...đều
được ưu tiên chấm đậu do t́nh trạng
hành chánh hóa các nghiên cứu khoa học.
Hiện tại, theo
thống kế từ sau năm 1975, VN đă đào tạo
8.400 Tiến sĩ, và 39.000 Thạc sĩ, gấp 3 lần
Thái Lan. Hiên đang có kế hoạch đào
tạo 5.000 Tiến sĩ các ngành trong ṿng 2 năm tới
(!). Những số liệu trên đây cho thấy
một sự tiến bộ vượt bực của VN,
nhưng trên thực tế, theo kết luận của
Hội nghị Ban Chấp hành trung ương khóa 9 năm
2002 là Ngày nay, Giáo dục đại học của t
ađang tụt thấp hơn 50 bậc so với
đại học của Thái Lan.
Gần đây nhất,
tại một cuộc họp báo ngày 5/1/2006 tại Hà
Nội, ông Nguyễn Minh Hiển, Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT có thừa nhận rằng:Trong
số 8.400 Tiến sĩ đào tạo từ năm 1976
đến nay th́ đă có 2.500 có tŕnh độ yếu. Bằng cấp đối với nhiều
người chỉ để làm đẹp hồ sơ,
tạo cơ hội cho sự thăng tiến.
Trong lúc đó, GS Đặng Ngọc Danh, Viện
trưởng Viện Nghiên cứu những Vấn
đề Phát triển nhận xét hiện nay VN đang xảy ra t́nh trạng
phủ sóng thạc sĩ trên toàn quốc, có khi
đến anh tống thư văn, cô thủ quỹ
cũng cậy cục sắm cho ḿnh một
tấm bằng thạc sĩ. Thông tin cuối cùng cho
tiết mục nầy là Hội đồng Quốc gia chấm
thi Tiến sĩ của VN trong năm 2004 gồm 7 thành viên
trong đó có 3 thành viên không có bằng tiến sĩ!
Thay lời
kết
Là một người thầy
giáo đă được tháo giày từ
năm 1975, chúng tôi nhận thấy hiện trạng giáo
dục ở VN hiện tại đang đi lần vào
bế tắc, giống như t́nh trạng ô nhiễm môi
trường do phát triển kinh tế-xă hội không cân
bằng với việc bảo vệ môi trường.
Đây là một thực tế quá rơ ràng, từ
chương tŕnh học, tâm cảm và tinh thần của
học sinh, sinh viên, từ chế độ thi cử qua
việc buôn bán, gian lận bằng cấp, thậm chí đến
tinh thần khai tâm mở trí của người
thầy giáo đúng nghĩa cũng không c̣n tồn tại
trên đất nước nầy nữa.
Giáo dục nơi đây
chỉ dạy cho sinh viên, học sinh một cách từ
chương, nghĩa là phải biết nhớ, biết làm
theo và vâng lời. Người
thầy giáo cũng không có quyền nói khác đi những ǵ
ghi trong sách giáo khoa, ngay cả những lầm lẫn trong
sách cũng không được quyền sửa chữa.
Giáo dục nơi đây
đang làm thui chột mọi sáng kiến của tuổi
trẻ VN, và biến họ thành những công cụ do
chế độ đẻ ra cùng một khuôn khổ với
mục đích phục vụ cho đường lối
hoang tưởng của cường quyền.
Do đó, ngày nào c̣n nạn
học giả thi thật v́ chỉ học cho chiếu
lệ c̣n việc thi cử th́ có ông
Ngày nào c̣n có cảnh
học thật thi giảû do có đi học
thật, nhưng có người khác thi dùm. Thậm chí c̣n có
cảnh học giả thi giả nữa là v́ có ghi
tên đi học, nhưng người dự lớp cũng
như người đi thi là do người khác đăm
nhận.
Ngày nào c̣n có vô số
Tiến sĩ giấy nắm quyền lực trong tay, trong mọi lănh vực quốc gia
nhất là giáo dục....
.....Ngày ấy quê
hương Việt
VN đă có đảng
lấy Công Nông làm đầu. Nhưng giờ đây, 75%
nông dân, đặc biệt ở vùng ĐBSCL có tŕnh
độ học vấn ngày càng xuống cấp. 30
năm trước đây người dân ĐBSCL có tŕnh
độ lớp 7,5; năm 2005, tụt
xuống c̣n tŕnh độ lớp 5,0 theo thống kê của
UNESCO. T́nh trạng bỏ học v́ kinh tế
gia đ́nh ngày càng phổ quát. Bước qua giai
cấp công nhân, hiện tại từ Bắc chí
Đảng CSVN có c̣n
nắm lấy ngọn cờ đào đại diện cho
hai giai cấp trên, hay chỉ là đại diện của
một thiểu số lấy sức mạnh của
bạo lực để cai trị một
quốc gia với trên 83 triệu dân số bằng một
chủ nghĩa đă thoái trào?
Mai Thanh Truyết
Cựu Trưởng ban Hóa
học
Đại Học Sư
Phạm Sàig̣n
Orange 3/2006