NHẬN XÉT VỀ BUỔI
ĐIỀU TRẦN “TRÁCH NHIỆM BỎ QUÊN CỦA CHÚNG TA:
CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM G̀
ĐỂ GIÚP NẠN NHÂN CHẤT DA CAM?” Ở HẠ VIỆN HOA
KỲ NGÀY 15 THÁNG 5 NĂM 2008
Nguyễn
Minh Quang - Mai Thanh Truyết
Tháng
6 năm 2008

Toàn cảnh
buổi điều trần (Ảnh: VAORRC)
MỞ
ĐẦU
Vào ngày 15 tháng 5
năm 2008, một buổi điều trần công khai (open
hearing) với chủ đề “Trách nhiệm Bỏ quên
của Chúng ta: Chúng ta Có thể Làm ǵ để Giúp Nạn
nhân Chất da cam? (Our Forgotten Responsibility: What Can We Do to Help
Victims of Agent Orange?)” đă được Tiểu ban Á Châu,
Thái B́nh Dương, và Môi trường Toàn cầu
(Subcommittee on
Tiểu ban, trực
thuộc Ủy ban Ngoại giao Hạ viện (House Committee
on Foreign Affairs), gồm có 13 thành viên do Dân biểu (DB) Eni
Faleomavaega (Dân chủ, Samoa) và Gregory Meeks (Dân chủ, New York)
làm Chủ tịch và Phó chủ tịch. Có 3 thành viên của Tiểu ban
từ California, đó là DB Dana Rohrabacher và Ed Royce (Cộng
ḥa) của Orange County và Diane Watson (Dân chủ) của Los
Angeles County. Thẩm quyền quan
trọng nhất của Tiểu ban bao gồm những
vấn đề có ảnh hưởng đến quan
hệ chánh trị giữa Hoa Kỳ và vùng hoặc quốc
gia, làm luật về trợ giúp thiên tai, làm luật và giám
sát liên quan đến việc thực thi nhân quyền ở
một số quốc gia, giám sát chánh sách môi trường
quốc tế và tiến bộ khoa học có ảnh
hưởng đến chánh sách ngoại giao [1].
Theo thông báo,
được soạn theo chỉ thị của Chủ
tịch Tiểu ban, phần thuyết tŕnh trong buổi
điều trần sẽ do hai nhóm phụ trách. Nhóm thứ nhứt chỉ có
Phụ tá Ngoại trưởng (PTNT) Scot Marciel, Văn pḥng
Đông Á và Thái B́nh Dương của Bộ Ngoại giao. Nhóm thứ hai gồm có Bác sĩ (BS)
Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Tổng giám
đốc Bệnh viện Ngọc Tâm-Sài G̣n, thành viên
của Nhóm Đối thoại Mỹ-Việt về Chất da
cam/Dioxin (The US-Vietnam Dialogue on Agent Orange/Dioxin) (Nhóm Đối
thoại); Giáo sư (GS) Catharin E. Dalpino, GS Thỉnh giảng
Đại học Georgetown-Washington DC, Giám đốc Dự án Chất
da cam của Viện Aspen; Tiến sĩ (TS) Vaughan C. Turekian,
Chánh văn pḥng Quốc tế của Hiệp hội Hoa
Kỳ v́ Tiến bộ Khoa học (American Association for the
Advancement Sciences (AAAS)), thành viên của Nhóm Đối thoại;
ông Rick Weidman, Giám đốc Điều hành về Chánh sách và Liên
lạc với Chánh phủ của Cựu chiến binh Hoa
Kỳ Tham chiến tại Việt Nam (Vietnam Veterans of America
(VVA)); và Luật sư (LS) Jeanne Mirer, Tổng thơ kư
của Hội Luật sư Dân chủ Quốc tế
(International Association of Democratic Lawyers) [2].
BUỔI
ĐIỀU TRẦN
Trong lời
khai mạc buổi điều trần, DB Chủ tịch
Tiểu ban Faleomavaega, một cựu chiến binh tham
chiến ở Việt Nam, mô tả sự tiếp đăi
nồng hậu của chánh quyền Việt Nam, từ trung
ương đến địa phương, nhân
chuyến viếng thăm của ông vào tháng 11 năm
ngoái. Ông ca ngợi Viện
Aspen và Ford Foundation đă thành lập Nhóm Đối thoại và
hài ḷng v́ nhóm nầy “có can đảm” hiện diện ngày
hôm nay để bàn về phương cách mà Quốc
hội có thể giúp cho nạn nhân chất da cam. DB Faleomavaega đă trích dẫn và
đệ nạp nghiên cứu của Công ty Hatfield Consultants
về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin
đối với sức khỏe con người và môi
trường ở Việt

DB Faleomavaega
(Ảnh: VAORRC)
Thuyết
tŕnh trước Tiểu ban
Mở
đầu phần thuyết tŕnh, PTNT Marciel cho biết
chất da cam là một vấn đề nhạy cảm
của cả hai nước v́ sự bất đồng
quan điểm về ảnh hưởng lâu dài của
chiến dịch khai quang ở Việt
Từ năm 2001,
hai chánh phủ Việt-Mỹ đă hợp tác hỗn
hợp về vấn đề ô nhiễm dioxin. Chánh phủ Hoa Kỳ trợ giúp
trong tinh thần hợp tác nhằm mục đích tăng
cường khả năng khoa học và hạ tầng
cơ sở của các cơ quan nghiên cứu Việt Nam,
cải thiện khả năng của chánh phủ Việt
Nam trong việc bảo vệ môi trường và khuyến
khích việc chăm sóc y tế công cộng cho thế
hệ tương lai. Các công
tác đang tiến hành gồm có việc thành lập Ủy
ban Cố vấn Hỗn hợp (Joint Advisory Committee) gồm
có viên chức chánh quyền và chuyên viên Việt-Mỹ
để duyệt xét các hoạt động hỗn
hợp như hợp tác khoa học, trợ giúp kỹ
thuật, và tẩy xóa ô nhiễm; tổ chức các buổi
hội thảo hỗn hợp giữa hai Bộ Quốc
pḥng để chia sẻ kinh nghiệm về tẩy xóa ô
nhiễm và cung cấp dữ kiện về việc tàng
trữ và chuyển chất da cam lên máy bay ở Việt Nam;
một dự án 5 năm có trị giá 2 triệu đô la
Mỹ do Cơ quan Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (U.S.
Environmental Protection Agency (EPA)) phụ trách để giúp
Việt Nam phân tích dioxin và các hóa chất liên hệ; và
một ngân khoản trị giá 400.000 đô la Mỹ để
hỗ trợ việc soạn thảo kế hoạch
tẩy xóa ô nhiễm ở Đà Nẳng.

PTNT Scott Marciel
(Ảnh: VAORRC)
Trong tài khóa
2007, Quốc hội Hoa Kỳ cũng hỗ trợ sự
hợp tác qua việc chuẩn chi ngân khoản 3 triệu
đô la Mỹ dành cho các hoạt động y tế và
tẩy xóa ô nhiễm các điểm nóng ở Việt
Nam. Cơ quan USAID Mission
vừa mới được thành lập sẽ phụ
trách việc phân phối ngân khoản nầy. USAID Mission đă đồng ư dùng
1 triệu đô la Mỹ để mướn một
điều hợp viên và chi tiêu cho các hoạt động y
tế và phục hồi ở Đà Nẳng. Số c̣n lại sẽ
được dùng cho các hoạt động y tế và môi
trường.
PTNT Marciel
cũng cho biết là chánh phủ Hoa Kỳ sẽ cố
gắng tiếp tục hỗ trợ chánh phủ Việt
Trong phần
tŕnh bày về hậu quả của chất da cam/dioxin trong
chiến tranh Việt Nam và hoạt động để
khắc phục những hậu quả nầy; ngoài
những kết quả nghiên cứu đă được
Việt Nam phổ biến trước đây như nghiên
cứu của BS Lê Cao Đài, BS Arnold Schecter, TS Jean Stellman, và
Công ty Hatfield Consultants; BS Phượng có đưa ra
một số chi tiết đáng chú ư về việc tẩy
xóa và phục hồi những vùng mà Việt Nam cho là bị
ô nhiễm chất da cam/dioxin. BS
Phượng nói: “Trong thập
niên 1990, Bộ Quốc pḥng Việt
BS
Phượng kết luận rằng trong cuộc chiến
chất da cam/dioxin ở Việt Nam, Hoa Kỳ đă sử
dụng một số lượng hóa chất nhiều
nhất trong lịch sử nhân loại; và nhiều nghiên
cứu của Việt Nam và ngoại quốc đă xác
định hậu quả nghiêm trọng của việc
sử dụng chất da cam/dioxin đối với môi
trường và nhiều thế hệ con người
ở Việt Nam. Do đó, “chánh phủ Hoa Kỳ phải có
trách nhiệm giúp Việt
GS Dalpino phát
biểu với tư cách cá nhân và tập chú đến
ảnh hưởng của chất da cam đối với
quan hệ Việt-Mỹ. Bà
nói rằng các khoa học gia và chuyên viên trong nhóm có thể
xác định chính xác ảnh hưởng đối
với sức khỏe con người và môi trường mà
dioxin đă và đang tiếp tục gây ra ở Việt Nam;
nhưng bà “…đă đứng
trên phi đạo (runway) của phi trường Đà Nẳng
và chứng kiến tận mắt thuốc khai quang
đổ tháo ở đó trong thời chiến đă tàn phá
mặt phi đạo (tarmac) như thế nào [sic]… Đối với người b́nh
thường, sự tàn phá của chất da cam đă rơ ràng”
[6].
Theo GS Dalpino,
Hoa Kỳ bắt buộc phải hợp tác với Việt
Nam để giảm thiểu hậu quả của
chất da cam v́ (1) tầm quan trọng ngày càng tăng
của mối quan hệ Việt-Mỹ trong chánh sách Đông Á
của Hoa Kỳ, (2) sự cần thiết trong việc
củng cố ḷng tin giữa hai nước trong khi mở rộng
mối quan hệ, và (3) sức mạnh của dư
luận về chất da cam ngày càng tăng ở Việt
Nam. Sau cùng, GS Dalipno đề
nghị (1) hành pháp cần phải có một bộ phận
mạnh hơn cho vấn đề chất da cam, (2)
lập pháp nên cứu xét một dự luật riêng rẽ
để cung cấp viện trợ nhân đạo và
kỹ thuật về vấn đề chất da cam cho
Việt Nam, (3) các nhóm ủng hộ và giáo dục cần
phải tích cực hơn để gây sự chú ư trong
giới lănh đạo và quần chúng Mỹ, (4) trợ giúp
cho người Việt Nam thống khổ v́ chất da cam phải
tương xứng hơn lời hứa với cựu
chiến binh Hoa Kỳ, (5) cố gắng xác định
ảnh hưởng của chất da cam đối với
người Mỹ gốc Việt, và (6) các biện pháp khắc
phục chất da cam có hiệu quả nhất ở
Việt Nam cần được cứu xét ở Lào và
Cambodia cùng với những trợ giúp thích đáng.
TS Turekian, phát
biểu với tư cách thành viên của Nhóm Đối
thoại, cho rằng những vấn đề dai dẳng liên
quan đến chất da cam vẫn c̣n là một trong các di
sản gây nhiều tranh căi nhất của cuộc chiến
Việt Nam, dẫn đến căng thẳng song
phương giữa hai chánh phủ Việt-Mỹ. Theo TS Turekian, chất da cam là
một loại thuốc diệt cỏ độc hại
(toxic) được chế tạo bằng cách pha hai
hợp chất ít độc hại hơn. Chất
2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin, thường được
gọi tắt là dioxin hay TCDD, một phó phẩm cực
kỳ độc hại (extremely toxic) được h́nh
thành do việc pha chế cẩu thả (faulty) của các
công ty hóa chất. Ông lập
lại các chứng bệnh được Viện Y khoa Hoa
Kỳ (Institute of Medicine (IOM)) cho là có liên hệ tới
việc tiếp xúc với chất da cam. Ông cũng nhắc lại
ước tính của chánh phủ Việt Nam về con
số 3 triệu người dân Việt Nam đang mang
bệnh tật v́ việc phun chất da cam mà Việt Nam
không đủ khả năng tài chánh để săn sóc
họ. Ông cũng cho biết
dioxins (số nhiều) nằm trong nhóm “hóa chất hữu
cơ dai dẳng” nên có khả năng tồn tại trong
môi trường, và riêng chi phí tẩy xóa dioxins (số
nhiều) ở Đà Nẳng đă lên đến 15 triệu
đô la Mỹ. Ông kết
luận rằng: “… di sản
của chất da cam vẫn ảnh hưởng đến
sức khỏe, môi trường, và quan hệ ngoại
giao… Hoa Kỳ phải bắt
đầu thực hiện bổn phận của một người
dân toàn cầu có trách nhiệm bằng cách giúp cô lập các
điểm nóng dioxin và cung cấp viện trợ nhân
đạo cần thiết cho những người bị
ảnh hưởng.” [7]
Trong phần
thuyết tŕnh của ḿnh, ông Weidman, tóm tắt những
hoạt động của VVA ở Việt Nam kể
từ tháng 12 năm 1981 cho đến nay trong hai lănh vực
POW/MIA và ảnh hưởng của việc sử dụng
thuốc khai quang trong cuộc chiến Việt Nam. Ông cho biết, sau khi kư kết Biên
bản Ghi nhớ trong Hội nghị Quốc tế về
Chất da cam ở Hà Nội vào tháng 3 năm 2002, công tác
khảo sát hệ sinh thái của EPA có vài tiến triển,
c̣n công tác nghiên cứu dịch tễ học của Viện
Khoa học Y tế Môi trường Quốc gia (National
Institute of Environmental Health Sciences (NIEHS)) dường như
không đi đến đâu. Ông
nói: “Việc từ bỏ nghiên
cứu dịch tễ học ở Việt
Người
thua thiệt chính là các cựu chiến binh Hoa Kỳ v́
họ không được hưởng lợi qua các nghiên
cứu có thể áp dụng trực tiếp cho họ, thí
dụ như dị tật bẩm sinh (birth defects) không
những con mà c̣n cho cháu và chắt của họ. Thật là nhẹ dạ nếu
cho rằng tất cả chỉ là sự t́nh cờ.
Hiện
nay, không có một cơ quan nào; từ Viện Y tế
Quốc gia (National Institute of Health), Bộ Quốc pḥng,
Cơ quan Cựu chiến binh (Veterans Administration) cho
đến EPA; tài trợ nghiên cứu ảnh hưởng
tai hại của chất da cam.
Từ nhiều tháng nay, VA cũng chưa cho biết ư
kiến về những khám phá mới nhất của IOM
về Luật da cam 1991. Ngay
cả ngân khoản 1,5 triệu đô la dành cho Cơ quan Theo
dơi Y tế (Medical Follow-up Agency) của IOM trong việc duy
tŕ và phổ biến dữ kiện của “Nghiên cứu
Ranch Hand” đến cộng đồng khoa học cũng
đă bí mật biến mất trong ngân sách của VA.
Cựu
chiến binh Hoa Kỳ vẫn chưa có câu trả lời thỏa
đáng. Chúng tôi luôn cầu chúc
nhân dân Việt Nam được nhiều may mắn trong
vấn đề chất da cam, nhưng trên thực tế,
các cựu chiến binh Hoa Kỳ và gia đ́nh của họ
đang bị gạt qua một bên v́ những sự
việc xảy ra từ 7 năm nay.” [8]

BS
Phượng, GS Dalpino, TS Turekian,
ông Reidman, và LS
Mirer (Ảnh: VAORRC)
Sau cùng, LS Mirer,
một luật sư của phía Việt
Bà kết
luận rằng, v́ Hoa Kỳ đă phạm pháp khi quyết
định dùng các loại thuốc khai quang ở Việt
Nam và v́ chi phí khắc phục ô nhiểm quá cao (khoảng 60
triệu đô la Mỹ để tẩy xóa ô nhiểm
ở các điểm nóng, trong đó có 14 triệu đô la
cho phi trường Đà Nẳng), Hoa Kỳ phải có bổn
phận trợ giúp cho người Việt Nam (the United
States has an obligation to provide assistance to the Vietnamese) [9].
Đóng
góp Ư kiến qua Văn thư
Ngoài phần
thuyết tŕnh trước Tiểu ban ngày 15 tháng 5 năm
2008, buổi điều trần c̣n nhận được
một số ư kiến qua văn thư. Một trong những ư kiến
đóng góp sớm nhất là của Hội Nạn nhân
Chất độc Da cam/Dioxin ViệtNam (HNNCDDCVN), gởi
đến Tiểu ban vào ngày 1 tháng 5 năm 2008.
Sau khi tự
giới thiệu và mô tả những hoạt động
gần đây, HNNCDDCVN cho biết: “Nỗi khổ đau của nạn nhân chất da
cam Việt

Lănh đạo
của HNNCDDCVN (Ảnh: VAVA)
HNNCDDCVN kết
luận rằng nhu cầu của nạn nhân chất da cam
Việt
BS Arnold Schecter,
GS của Trường Y tế thuộc Đại học
Texas, một chuyên viên nghiên cứu về chất da cam và
dioxins (số nhiều) ở Việt Nam, Cambodia, và Lào
từ năm 1984 cho biết, mặc dù nghiên cứu y khoa
hoặc dịch tễ học của Việt Nam về ung
thư và dị tật bẩm sinh không được khoa
học gia Tây phương công nhận, các nghiên cứu khác
cho thấy dioxins th́ độc hại và có thể gây ra
một số bệnh như ung thư, khiếm khuyết
miễn nhiễm, và hư hại hệ thần kinh. BS Schecter cũng cho biết “Chúng tôi đă ghi nhận mức
độ rất cao của dioxins ở Việt Nam trong
hơn 100 bài viết đăng trong nhiều tạp chí khoa
học Tây phương, hầu hết qua sự hợp tác với
các đồng nghiệp khoa học Việt Nam chẳng
hạn như BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng
của Bệnh viện Từ Dũ, BS Lê Cao Đài (đă qua
đời), BS Hoàng Trọng Quỳnh, và nhiều
người khác.” [11]
Vào ngày 14 tháng 5
năm 2008, Kỹ sư (KS) Nguyễn Minh Quang, Hội
trưởng Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt
Ông
có thể được thông báo rằng có hàng triệu
nạn nhân chất da cam ở Việt Nam, nhưng ông có
thể không biết rằng họ chưa bao giờ bị
chất da cam tác hại.
Thật vậy, theo BS Nguyễn Thị Ngọc
Phượng, họ có thể được xác nhận là
nạn nhân chất da cam mà không cần xét nghiệm y khoa
[sic]. Hơn nữa, có rất
nhiều nguồn ô nhiễm không do chất da cam nhưng có
chứa những hợp chất cùng họ dioxin (dioxins) ở
mức độ rất cao được t́m thấy khắp
nơi ở Việt
V́
những lư do đó, việc đầu tiên có thể làm là
trợ giúp việc xác nhận những nạn nhân chất da
cam thật sự và t́nh trạng của họ. Hoa Kỳ không thể trợ giúp
nạn nhân chất da cam một cách có trách nhiệm và
hiệu quả nếu không biết họ là ai.” [12]

BS Schecter
với BS Phượng (Ảnh: Phụ Nữ)
Ông Walter
Isaacson, Viện trưởng kiêm Giám đốc Điều hành
của Viện Aspen, nói rằng: “Chúng
ta có thể không bao giờ xác định được
cái giá về sức khỏe con người và môi
trường mà Việt Nam phải trả cho chiến
dịch trong thời chiến nầy [chiến dịch Ranch
Hand]. Tuy nhiên, chúng ta có thể
trông thấy hậu quả của nó qua những con số
báo động về dị tật bẩm sinh, ung thư và
t́nh trạng sức khỏe bất b́nh thường
được cho là có liên hệ đến dioxin của
cựu chiến binh Việt Nam và con cái của họ
cũng như người dân sống trong vùng tàng trữ
hoặc bị phun chất da cam.
Chánh phủ Việt
Sau khi mô tả
về chủ trương và hoạt động của
Nhóm Đối thoại, mà ông là Đồng chủ tịch
(co-chair) với GS Tôn Nữ Thị Ninh của Việt Nam, ông
Isaacson kết luận rằng: “Mặc
dù Hoa Kỳ có trách nhiệm trong việc gây ô nhiễm các
căn cứ quân sự cũ, vấn đề sức
khỏe con người th́ không thể xác định
một cách rơ rệt như vậy.
Trong lănh vực đó, trợ giúp cho người tàn
tật phải được cứu xét trên nền
tảng nhân đạo. Sau
cùng, chúng ta không nên quên rằng cựu chiến binh Hoa
Kỳ tham chiến ở Việt

Ông Isaacson
(Ảnh: Wikipedia)
Ông Isaacson hy
vọng rằng buổi điều trần sẽ
đưa đến một dự luật riêng biệt và
các biện pháp chánh thức để bảo đảm
rằng người Việt sẽ không c̣n bị ô
nhiễm triền miên bởi các hóa chất mà Hoa Kỳ sử
dụng trong cuộc chiến, và những người tàn
tật suốt đời do tiếp nhiễm trong quá
khứ sẽ được hưởng phúc lợi
của viện trợ nhân đạo.
NHẬN
XÉT
Qua chủ
đề và thành phần của nhóm thuyết tŕnh, “phía”
Việt Nam dường như đă thành công trong việc
thuyết phục DB Chủ tịch Faleomavaega và DB Don Manzullo
(Cộng Ḥa, Illinois), Niên trưởng Khối thiểu
số (ranking member), bằng cách nầy hay cách khác, tạo cơ
hội cho họ và những người ủng hộ mù
quáng mở một “mặt trận” mới trong “cuộc
chiến da cam/dioxin” mà chánh quyền Việt Nam đang
đeo đuổi. Đó là
mặt trận lập pháp.

DB Manzullo
(Ảnh: Internet)
Mặt
trận nầy nhắm vào những nhà làm luật ở
Quốc hội để họ thông qua những
đạo luật “bồi thường” cho nạn nhân da
cam ở Việt Nam, cũng như họ đă thông qua
những đạo luật “bồi thường” cho
cựu chiến binh Hoa Kỳ tham chiến ở Việt
Nam, nếu họ mang những chứng bệnh
được cho là do chất da cam/dioxin gây ra. Do đó, không có ǵ phải ngạc
nhiên khi DB Manzullo chỉ trích PTNT Marciel là đă sử
dụng “tiêu chuẩn đôi (double standards)” đối
với người dân Việt Nam khi PTNT tuyên bố
rằng phía Hoa Kỳ không công nhận bất cứ trách
nhiệm pháp lư nào liên quan đến thiệt hại
được cho là do chất da cam gây ra mà không có bằng
chứng dựa trên
nghiên cứu khoa học đáng tin cậy theo tiêu chuẩn
quốc tế [14].
Mặt
trận lập pháp dường như đă bị thất
bại thê thảm như mặt trận hành pháp, mặt
trận khuấy động dư luận quần chúng, và
mặt trận tư pháp. Thứ
nhứt, không có một thành viên nào khác, ngoài BD Faleomavaega và Manzullo,
trong tổng số 13 thành viên của Tiểu ban tham dự,
chứng tỏ đa số nhà làm luật ở Hạ viện
hiện nay không “quan tâm” đến vấn đề như
phía Việt Nam mong đợi.
Thứ hai, số người tham dự dường
như ít hơn số thuyết tŕnh viên, với một
cử tọa không quá 30 người (!), chứng tỏ
dư luận Hoa Kỳ không “quan tâm” đến vấn
đề Việt Nam như trong thời chiến. Và sau cùng, nhưng có lẽ quan
trọng nhất, đó là đa số thuyết tŕnh viên, kể
cả thuyết tŕnh viên của “ta” cũng chỉ cổ
xúy “viện trợ nhân đạo” và ngay cả DB Faleomavaega
cũng phải tuyên bố sau buổi điều trần
rằng: “Da cam là vấn
đề nhân đạo!” [14]
Tạm xếp
qua một bên những yêu sách của nhà cầm quyền
Việt Nam hiện nay, không ai có thể phủ nhận
thiện chí của chánh phủ Hoa Kỳ trong việc giúp
đở cái gọi là “nạn nhân chất da cam/dioxin
Việt Nam” mặc dù gặp rất nhiều trở
ngại từ phía Việt Nam.
Qua phần thuyết tŕnh của PTNT Marciel, chánh
phủ Hoa Kỳ đă, đang, và sẽ tiếp tục
giúp đở Việt Nam giải quyết “vấn
đề da cam” theo những phương cách mà chánh phủ
Hoa Kỳ cho là có hiệu quả, công bằng, và có lợi
nhất cho Việt Nam. Quan
trọng nhất là giúp khoa học gia và chuyên viên y tế Việt Nam nâng cao khả năng
để có thể xác định nguồn ô nhiễm, xác nhận nạn nhân chất
da cam bằng y học và khoa
học đáng tin cậy theo tiêu chuẩn quốc tế, bảo
vệ môi trường, và pḥng ngừa dị tật
bẩm sinh qua việc chăm sóc tiền sản. Nhưng phía Việt Nam và những
người “nhắm mắt” ủng hộ, kể cả
DB Manzullo, dường như không thấy cái “cần câu Made
in USA” mà chánh phủ và nhân dân Hoa Kỳ có nhă ư tặng cho
nhân dân Việt Nam. Họ tiếp
tục “đ̣i hỏi” Hoa Kỳ “bồi thường” cho
họ số cá mà họ ấn định! Thật là một hành động nông
cạn và thiếu khôn ngoan.
Trong phần
thuyết tŕnh của ḿnh, BS Phượng lập đi
lập lại những “điệp khúc cũ rích” mà phía
Việt Nam đă sáng tác từ thập niên 1960, chẳng
hạn như Hoa Kỳ đă tiến hành một cuộc
chiến tranh hóa học ở Việt Nam với số
lượng hóa chất nhiều nhất trong lịch
sử, mà hậu quả khủng khiếp đối
với môi trường và nhiều thế hệ con
người Việt Nam đă được xác
định qua nhiều nghiên cứu của các khoa học
gia Việt Nam và quốc tế, trong đó có BS Schecter, TS
Jean Stellman, và Hatfield Consultants.
Nhưng BS Phượng không thể chứng minh
rằng những nghiên cứu nầy là những bằng
chứng y khoa học có giá trị để khẳng
định rằng bệnh tật của người dân
được chánh quyền Việt
Là một thành
viên của Nhóm Đối thoại, BS Phượng phản ánh
một phần quan điểm của nhóm (v́ bà không
đề cập đến khía cạnh nhân đạo),
đó là sự trợ giúp của Hoa Kỳ cho Việt Nam
trong vấn đề da cam là một yếu tố quan
trọng để tăng cường mối quan hệ
giữa hai nước. Là
một thành viên của HNNCDDCVN, BS Phượng bày tỏ
“mối quan tâm sâu sắc” đối với “nạn nhân chất
da cam Việt Nam hiện sinh sống ở Mỹ” v́ họ
không được ai chú ư đến trong nhiều thập
niên qua [!?]. Không biết BS
Phượng có “rơi nước mắt” để xót
thương cho những “khúc ruột ngàn dậm” nầy hay
không; nhưng chắc là không có bao nhiêu người cảm
ơn sự quan tâm nầy, bởi v́ có rất nhiều
người Mỹ gốc Việt đă từng “lặn
lội” trong những vùng bị khai quang, chẳng hạn
như BS Kiều Quang Chẩn và Đoàn Nam, cho biết rằng
cá nhân và con cái của họ vẫn khỏe mạnh và b́nh
thường cho đến ngày hôm nay.
Ngoài những
điểm vừa nêu, BS Phượng c̣n cho biết
một chi tiết rất mới, đó là những hoạt
động của Bộ Quốc pḥng Việt Nam trong
thập niên 1990 để tẩy xóa và phục hồi
những “điểm nóng” dioxin ở phi trường Đà
Nẳng, Biên Ḥa, và Phù Cát và hiện đang tiến hành
dự án trị giá 5 triệu đô la Mỹ để cô
lập và chôn lấp một vùng ô nhiễm dioxin rất cao ở
phi trường Biên Ḥa. Chi
tiết nầy có lẽ chỉ tạo thêm hoài nghi về
thiện chí của phía Việt
Cả GS Dalpino
và TS Turekian đều kêu gọi “viện trợ nhân
đạo” cho Việt

Hai trẻ em dị
tật ở Cà Mau được công nhận
là “nạn nhân
chất da cam” (Ảnh: VAORRC)
Nhưng GS
Dalpino cũng nên biết “dư luận quần chúng
thật sự” đối với chất da cam ở
Việt Nam như thế nào qua một nhóm sinh viên ở Hà
Nội, trong đó có sinh viên Trần Hiền Thảo và Hà
Thị Đông Xuân: “… Vào thập
niên 60 và 70 chúng tôi chưa sinh ra, nhưng đă có 8 vị
trong số cha hoặc mẹ chúng tôi có mặt ở
miền Nam và hứng chịu chất da cam (từ miền
Bắc, họ “xung phong vào Nam đánh Mỹ”). Hiện nay, họ đương
nhiên là hội viên của Hội nạn nhân,
được hưởng phụ cấp hàng tháng
(cộng vào lương).
Điều may mắn là họ sinh ra 17 người
con đều lành lặn, phát triển b́nh thường (có
6 bạn tham gia nhóm chúng tôi đây).
Khi đem tiền và quà tới một trại trẻ
khuyết tật, chúng tôi biết thêm rằng: có nhiều
cháu chẳng liên quan ǵ tới chất da cam cả. Như vậy, cha mẹ thật
sự tiếp xúc với chất da cam vẫn có thể sinh
con b́nh thường, và cha mẹ không nhiễm chất da cam
vẫn có thể sinh con dị tật. Liệu các hoá chất gây ô
nhiễm môi trường suốt 30 năm sử dụng bừa
băi - sau khi chiến tranh kết thúc – có thể có vai tṛ ǵ
không? Có người nói: nhà máy
hoá chất Lâm Thao gây ung thư cho dân các xă sở tại là
điều “rành rành như ban ngày” mà các cuộc
“điều tra” đều không dám kết luận, chỉ
v́ kết luận như vậy sẽ bất lợi cho
vụ kiện chất da cam.
Liệu nói thế có đúng không? Và đúng đến
đâu?” [17]
Có một
điểm không thể hiểu nỗi là làm thế nào mà
một người b́nh thường như GS Dalpino,
bằng mắt thường, có thể quả quyết
rằng những “ổ gà” trên mặt phi đạo của
phi trường Đà Nẳng là do… thuốc khai quang đổ
tháo trong thời chiến cách đây hơn 38 năm gây ra!?

Chất da cam
đổ tháo ở Tân cảng Sài G̣n v́ đạn pháo kích.
Trách nhiệm của
ai? (Ảnh: allanfurtado.com)
Riêng TS Turekian,
có lẽ sợ không ai biết ḿnh, nên đă đính kèm theo
bản phát biểu một “résumé” rất dài để
“nổ” rằng: “TS Turekian
được Đại học
Qua phần
thuyết tŕnh của ông Weidman, cựu chiến binh Hoa
Kỳ tham chiến tại Việt Nam có vẻ “trách móc” quốc
hội và chánh phủ Hoa Kỳ đă không “quan tâm”
đến họ “đúng mức” v́ NIEHS từ bỏ một
nghiên cứu dịch tễ học ở Việt Nam, mà theo
ông, các cựu chiến binh Hoa Kỳ có thể được
hưởng lợi v́ họ có “bằng chứng”
để chứng minh rằng chất da cam có thể gây
dị tật bẩm sinh cho con, cháu, và chắt của
họ. Ông trách móc là phải
bởi v́ ông “không nhẹ dạ” để tin vào “thiện
chí” của chánh phủ Việt Nam trong việc hợp tác nghiên
cứu chất da cam ở Việt Nam với chánh phủ
Hoa Kỳ sau hội nghị ở Hà Nội vào tháng 3 năm
2002, và ông cũng “không nhẹ dạ” để tin vào “kết
quả nghiên cứu” của khoa học gia Việt Nam, trong
đó có BS Phượng, cho rằng chất da cam đích
thực là tác nhân của dị tật bẩm sinh ở
thế hệ thứ ba, và có thể ở nhiều thế
hệ kế tiếp!?
Nhưng ông Weidman
đă quên rằng NIEHS tài trợ toàn thể việc nghiên
cứu qua Đại học Tiểu
bang
Nhiều
cố gắng đă được thực hiện
để dự án của UAlbany được Việt Nam
chấp thuận, trong đó có buổi họp giữa
Đại sứ Marine và Bộ trưởng Y tế Trần
Thị Trung Chiến vào ngày 14 tháng 1 năm 2005. Đến ngày 4 tháng 2 năm 2005, NIEHS
họp với UAlbany và đồng ư rằng mặc dù hai
cơ quan đă nổ lực để thực hiện
dự án, công tác cho năm 2004 vẫn chưa
được hoàn tất trong khi chưa có dấu hiệu
nào cho thấy sự hợp tác của Việt Nam. Do đó, NIEHS và UAlbany mới chấm
dứt dự án.
C̣n kết
quả nghiên cứu của các khoa học gia Việt
Có lẽ
nghĩ rằng buổi điều trần của Tiểu
ban là một phiên ṭa, nên LS Mirer mới lên tiếng tố cáo
“tội ác của đế quốc Mỹ đối
với nhân dân Việt Nam,” kết tội Hoa Kỳ đă
“phạm pháp khi quyết định dùng các loại
thuốc khai quang ở Việt Nam,” rồi tuyên án “... Hoa
Kỳ phải có bổn phận trợ giúp cho người
Việt
Trong phần
đóng góp ư kiến qua văn thư, HNNCDDCVN ca ngợi
truyền thống nhân đạo của nhân dân Mỹ và
“tha thiết hy vọng” quốc hội và chánh phủ Hoa
Kỳ trợ giúp cho hơn 3 triệu nạn nhân chất da
cam Việt Nam v́ “họ không c̣n bao nhiêu thời gian!” Quả thật ḷng nhân đạo
của nhân dân, quốc hội, và chánh phủ Hoa Kỳ
rất to lớn, nhưng chắc chắn ḷng nhân
đạo đó không thể được đánh
động hay nẩy nở qua cung cách hành xử của
HNNCDDCVN kể từ ngày được thành lập cho
đến nay. Cho nên, việc
đầu tiên mà HNNCDDCVN có thể làm để giúp cho
hội viên của ḿnh là phải từ bỏ cái cung cách
hành xử đó. Từ nay,
mục tiêu “đi t́m ḷng nhân đạo” phải thay cho
mục tiêu “đi t́m công lư.” Vụ
kiện chất da cam cũng như câu chuyện da cam/dioxin
cần phải được kết thúc ngay lập
tức để dành trọn tài nguyên hiếm hoi hiện có
cho việc chăm sóc nạn nhân không phân biệt nguyên nhân và
lư lịch, cũng như để kiến tạo một
môi trường thân thiện cho ḷng nhân đạo đó được
nẩy nở. Và sau cùng, chân
thành hợp tác và tạo mọi điều kiện dễ
dàng để giúp các khoa học gia và chuyên viên quốc
tế, trong đó có Hoa Kỳ, sớm t́m ra nguồn ô
nhiễm, xác định nạn nhân thật sự của
chúng và t́nh trạng bệnh tật, và t́m hiểu nhu cầu
của họ. Việc trợ
giúp sẽ vô hiệu quả và thiếu trách nhiệm
nếu không có các dữ kiện nầy.
Ư kiến của BS Schecter tuy ngắn, nhưng lại có một vài điểm quan trọng đáng chú ư. Có lẽ đây là lần đầu tiên BS Schecter cho biết: “Nghiên cứu của tôi hầu hết chuyên về dioxins là những chất ô nhiễm độc hại trong chất da cam