DIOXIN:
Từ Trận Giặc Báo Chí Sàig̣n Đến
Báo Cáo Hatfield
Vấn
đề dioxin-chất da cam đă được dư
luận thế giới và Hoa kỳ lưu ư ngay từ sau
khi có những yêu cầu đ̣i hỏi chính phủ Mỹ
phải bồi thường và cung cấp bảo hiểm y
tế cho các cựu quân nhân Hoa kỳ đă từng tham
chiến tại Việt Nam. Về phía
Việt
Nhưng
từ khi báo cáo 4/2000 của Cty Hatfield và Ủy ban 10-80 ra
đời, và mới nhất là báo cáo của Arnold Schecter, giáo
sư đại học Texas, trường Y tế Công
cộng (School of Public Health) ở Dallas ( J. Occup. Environ. Med., 43, 101 (2001)) gần đây, th́ hiện
tượng trăm hoa đua nở về vấn
đề dioxin-chất da cam lại nở rộ khắp
nơi. Báo chí trên thế giới, các
hảng thông tấn...lấn lượt chuyển những
tin nóng sốt từ Việt
Huyền thoại
dioxin
Trong
những tháng gần đây, người viết xin lần
lược trích dẫn một số các bài phóng sự trên
để người đọc có thêm khái niệm của
vấn đề cũng như t́m hiểu thêm ư niệm
cùng những ư đồ về chính sách của
chính quyền trong việc đánh động và giải
quyết vấn nạn dioxin.
Trước
hết, trên báo Lao Động, trong mục Phóng sự ngày
19-3-2001, Nguyễn Quang Vinh, người đă từng hạch
tội thằng trời nhân vụ lụt miền Trung
năm 1999, bắt đầu hát Nam ai qua tựa
đề Cam Lộ - Nỗi đau dioxin như
sau: Tôi t́m về một mănh làng nhỏ về phía Tây
tỉnh Quảng Trị, vùng đất bị quân Mỹ
rải chất độc hóa học nhiều lần và
chứng kiến những cảnh tượng đau ḷng do
chất dioxin tác hại lên mạng sống của bao
người, trong đó, đau ḷng nhất là số
phận của các cháu bé được sinh ra từ sau
chiến tranh.. Sau đó anh mô tả quang cảnh
điêu tàn của vùng Cùa troót mứt (vùng có
nhiều mật ong trước kia), phỏng vấn gia
đ́nh có con cái dị h́nh dị dạng:
Bà con trong làng xả nói với nhau, chừ biết làm
răng, rủi ro nhà nào sinh con ra bị phải chất
độc ấy th́ cắn răng chịu, không có
thuốc chi chửa trị được. Để
rồi, cuối cùng Vinh kết luận:
Dấu hỏi gieo vào giữa trời đất, gieo vào
biết bao thân phận ở làng và khóc nghẹn đợi
măi câu trả lời...
Cũng
trên báo Lao Động, mục Quốc tế, ngày 27-4-2001,
Vĩnh Nguyên, dựa theo bản tin của Reuters, đă
chạy hàng tít lớnCon cái cựu chiến binh Mỹ
bị ảnh hưởng chất độc màu da cam.
Bản tin nêu ra một báo cáo của Viện Y học Hoa
kỳ (Institute of Medicine) nói về mối liên quan giữa
người lính Mỹ từng tiếp xúc với
chất da cam ở Việt Nam
và bịnh bạch cầu cột sống cấp tính (acute
myelogenous leukemia - AML) ở con cái họ. Bản tin cũng
đăng tải trường hợp của 50.000 cựu
chiến binh Úc, cho biết bịnh AML cao từ ba
đến sáu lần ở con cái họ so với những
đứa trẻ mà bố không tham chiến ở Việt
Nam. (Tin tức nầy đă được
Bộ Y tế Úc cải chính ngay sau đó và tuyên bố
chưa hề công bố báo cáo liên quan đến bịnh
AML và cựu chiến binh Úc). Tuy nhiên, tác giả bài
phóng sự đă khẳng định như sau: Kết luận nầy (của Viện
Y học) sẽ mở đường cho một quá tŕnh
thủ tục(?) cần thiết để chính phủ
Mỹ trả tiền chăm sóc con cái những cựu
chiến binh bị mắc bịnh (ngầm hiểu là
gồm luôn cả cưụ chiến binh Việt Nam và thân
nhân). Trong lúc đó, cũng trong bản tin trên bằng
tiếng Anh (không có ghi trong bản tiếng Việt trên báo),
có thêm đọan: Anthony Principi, Bộ trưởng Bộ
Cựu chiến binh Hoa kỳ đă cực lực công
bố không có bằng cớ chắc chắn xác
nhận mối liên hệ giữa trẻ con (mắc
bịnh AML) và các bố là cựu quân nhân đă từng tham
chiến tại Việt Nam hay Camdodia.
Ngày
9-5-2001, báo Lao Động trong mục Phóng sự lại phản
ánh hậu quả chất độc da cam đối
với người dân ở quanh khu vực sân bay Biên Ḥa và
cho biết đă phát hiện thấy lượng dioxin cao
gấp 135 lần so với người sống ở Hà
Nội. Và điều đáng lưu ư là
số người bị nhiễm độc lại không
phải là người đă từng sống tại Biên Ḥa
trong những năm chiến tranh. (lời
người viết, tin trên dựa theo báo cáo của
Schecter). Lê Thanh Huyền mô tả h́nh ảnh nhân từ và bác
ái của Bs Lê Cao Đài dưới tựa đề Người
đi t́m dioxin: Ông có một nổi đam mê khác
hơn mọi người, nơi đâu có nhiều sản
phụ sinh con quái thai, dị dạng là
ông quyết t́m đến bằng mọi giá. Ông đi là
để bộ sưu tập về những
nạn nhân chất độc da cam ngày một phong phú
hơn, đủ bằng chứng để ông tố cáo
trước dư luận về một tội ác tày
trời do cuộc chiến tranh hóa học của quân đội
Mỹ gây nên ở chiến trường Việt
Ngày
18-5-2001, cũng trên báo Lao Động, nhưng dưới
mục Thời sự, Diên Hy đă chạy hàng tít: Các
nhà khoa học Mỹ công nhận hậu quả chất
độc da cam gây ra ở Việt Nam . Diên Hy kết
luận:Chất độc màu da cam
vẫn tiết tục là di sản chiến tranh thảm
khốc không thể bỏ qua được.
Ngày
24-6-2001, Bác sĩ Lê Cao Đài lại được
đặc phái viên Hùynh văn Mỹ ca ngợi trên cùng
một mặt báo dưới tựa đề Người
bạn của những nạn nhân da cam với lời
giới thiệu thật cảm động:Với
giáo sư bác sĩ Lê Cao Đài, chỉ tính riêng những
đoạn đường ông đa ơṛng ră hơn 20 năm
nay lo việc nghiên cứu, kiếm t́m giải pháp
đối phó với những hậu quả nguy hại
của chất da cam cũng như t́m cách làm giảm
nỗi đau của cả triệu nạn nhân loại
chất độc ghê khiếp nầy... là quả một
quảng đường dài kỷ lục. Lần
nầy giáo sư đi t́m dioxin từ Thừa Thiên , Huế, Đà
Nẳng, Quảng
Chiến
dịch dioxin lại xuất hiện trên Lao Động ngày
6-7-2001, với bản tin TTXVN dưới tiêu đề Ủng
hộ nạn chân chất độc màu da cam. Bản
tin cho biết rằng Phú Thọ đă vận động
hơn 800 triệu đồng (Việt
Tin
tức nhận được ngày 13-7-2001, Lê Huân đă
đi bài: Qui Nhơn tẩy
độc dioxin. Sau vùng bị nhiễm độc
nặng dioxin ở khu vực sân bay Biên Ḥa được
công bố, một vùng đất nữa cũng đang
bị dioxin đe dọa vừa được phát
hiện và cũng là hầm chứa dioxin đầu tiên
được tẩy độc. Với
quyết tâm của lănh đạo tỉnh, để các
thế hệ sau chiến tranh khỏi bị nhiễm
chất độc da cam, chúng ta phải cứu ngay từ
gốc. Để sau cùnh lănh đạo
tỉnh kết luận đă quyết định
tẩy độc ngay vùng đất bị nhiễm
chất độc da cam nguy hiểm nhất (nhưng
vẫn không cho biết biện pháp xử lư như thế
nào cũng như làm sao xác định được đó
là chất độc màu da cam? (lời
người viết)).
Ngày
25-7-2001, trên mục Phóng sự của báo An Ninh Thế
Giới, lại chính Huỳnh Văn Mỹ dưới
tựa đề: Những Bà Mẹ Da Cam đă nói
lên nỗi đau khổ triền miên cuả
những bà mẹ ở Quế Phong, Điện Bàn với
chị Nguyễn thị Hoa cùng với đứa con gái
tật nguyền với đôi mắt không hồn, đă 20
tuổi mà có dóc dáng như trẻ thơ... v́ bị nhiễm
chất độc da cam. Ở Tân Phước, chị
Lê thị Cúc v́ muốn có chút con để bồng ẵm,
để mai nầy có chỗ cậy dựa...chị
liều tự túc một mụn con bằng cách
trao thân cho một người công nhân địa chất.
Để rồi 15 năm sau đó chị có một
đứa con khẳng khiu như cành củi đét do
bị nhiễm chất độc da cam! Và c̣n nhiều
trường hợp bà mẹ da cam được Huỳnh
Văn Mỹ kể lễ cặn kẽ mà người ghi
lại nơi đây cũng không thể hiểu
được đâu là nguyên nhân, đâu là cội nguồn
của những của những chứng bịnh mà tác
giả khẳng định là do chất màu da cam!
Và
sau cùng trên báo Lao Động ngày 9-8-2001, Lê Thanh Huyền
dưới tựa đề Lời cảnh báo từ
môi trường đă làm một phóng sự về Trung
tâm Trung ương Bướu thành phố Hồ chí Minh,
khoa Nội 3. Nơi đây đă có hàng trăm cháu nhỏ
nằm...chờ chết v́ hậu quả của dioxin...!
Ông kết luận: Tôi không khỏi giật ḿnh khi
những con số về hậu quả chất độc
hóa học đă xử dụng trong chiến tranh Việt
Nam đă được xới lại nóng hổi
với những con số lo ngại. Trong thiên nhiên, Việt
...
Sự tồn lưu trong đất của dioxin ở các
địa phương phía Nam vĩ tuyến 17 c̣n kéo dài th́
t́nh h́nh bệnh tật, dị tật bẩm sinh của các
thế hệ con cháu ở các nạn nhân bị nhiễm
chất da cam có thể c̣n kéo dài đến những năm
40 hay 50 của thế kỷ XXI.
Trên
đây là những trích đọan của các báo Việt
Vấn
đề nơi đây không phải là việc tranh cải
về sự hiện diện của dioxin trong chất màu
da cam, mà cần phải t́m hiểu thêm ở đến
mức độ nào dioxin (hay 2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin,
hay TCDD, hay T4CDD) có thể ảnh hưởng lên sức
khỏe của con người. Thêm nữa, nếu xét
về mặt định lượng, dioxin có trong hổn
hợp 50/50 giữa 2,4-D và 2,4,5-T, hay chất màu da cam, là
một phế phẩm có trong quy tŕnh sản xuất 2,4,5-T,
do đó chiếm tỷ lệ rất thấp, ước
tính khoảng 2 ppm trong dung dịch. Hổn hợp nầy
được pha lơang từ 10 đến 20 lần trong
xăng hoặc dầu trước khi được phung
xịt vào các vùng núi non, rừng rậm, những vùng không
hoặc thưa dân cư....như một loại thuốc
khai quang trong chiến tranh Việt Nam. Việc
tính tóan hàng triệu gallons được phung xịt trong
suốt mười năm chiến tranh, và từ đó quy
ra một lượng khổng lồ của chất dioxin
hiện diện trên lănh thổ Việt
Báo Cáo Hatfield
Bài
viết nầy dựa trên các tư liệu trích từ hai
báo cáo của Hatfield Consultants Ltd (
Mục
tiêu của bài viết là cố gắng làm sáng tỏ hay
phơi biện những nghi vấn cùng các luận cứ
không đủ sức thuyết phục, hoặc thiếu
cơ sở khoa học, hoặc vô t́nh hay cố ư đánh
lạc hướng dư luận...của các kết
luận và đề nghị của Cty Hatfield và Ủy ban
10-80.
Cty
Hatfield đă chọn thung lũng A
Lưới, cách Huế 65 Km về hướng đông
để làm địa điểm nghiên cứu. A Lưới đă từng nổi tiếng
một thời dưới danh hiệu Ngọn đồi
937 (Hill 937) hay Hamburger Hill. Căn cứ nầy đă bị
quân đội Hoa kỳ bỏ hoang vào tháng 5/1969. A So hay A
Shau hay Đồng Sơn (tên đặt sau 1975) là một
căn cứ không quân nhỏ của quân đội Hoa
kỳ nằm phía nam của thung lũng,; căn cứ
đă bị bỏ hoang từ 8/12/1965. Tại
hai nơi nầy, chất khai quang màu da cam đă
được phung xịt nhiều nhất trong suốt
thời gian từ 1965 đến 1970. Có tất cả
224 phi vụ trên tổng số 606 phi vụ của vùng
Thừa Thiên được răi xuống A Lưới trong
khoảng thời gian nầy.
Các
mẩu đất, máu, sữa mẹ, và thực
động vật lấy từ thung lũng tương
đối không nhiều do chi phí phân tích quá cao (khỏang US$
1.000/mẩu). Có 28 mẩu được phân
tích trong năm 1996 cho vùng A
Lưới, và 22 mẩu cho A So trong năm 1997. Các mẩu
được phân tích tại AXYS Analytical Services Ltd, Canada
và đây là một trong 26 pḥng thí nghiệm được
cơ quan Y tế thế
giới (WHO)
chọn
lựa để phân tích.
Sau
đây là kết quả các cuộc phân tích trích ra từ báo
cáo trên:
Đất
A
So:- (sâu từ 0 - 10 cm) 110 ppt (một
phần ức - 10 -12 ) 1/1996; 898 ppt (11/97); 220 (3/99)
(sâu từ 10 - 30 cm) 32 ppt (1996); Ngoài A So: từ
ND* - 1,7 ppt (1996) (ND = not
detected);
Đáy
hồ A So:
6,9 ppt (1996), 1,8 - 8,5 ppt
(1997), 6,9 (1998);
A
Lưới: 1,1 - 0,9 ppt (1997);
Đáy
sông A Sap, A Lưới: 0,8 - 1,2 ppt (1996);
Đáy
hồ A Lưới: 5,3 ppt (1997);
Rễ
khoai ḿ: ND (1996), ND (1997).
Cá chép
Mô
mở/ A So: 51 ppt (1/96), 6,1 - 34 ppt (11/97),
1,9 - 21 ppt (1999);
Gan/A
So: 2,4 ppt (1/96),
1,1 ppt (1999);
Thịt/A
So: 0,4 ppt (1999);
Gan/A
Lưới: 1,0 ppt (1999).
Gia súc
Gan
vịt/A So: 1,4 ppt (1/96);
Gan
vịt/A Lưới: ND (1996);
Mở
vịt/A So: 6,1 ppt (1997);
Gan
heo/A So: ND (1996),
ND (1999).
Máu/ A So
Đàn
ông: - (lớn hơn 25 tuổi) 31 ppt (1997), 41 ppt (1999);
- ( từ
12 - 25 tuổi) 21 ppt (1997), 31
ppt (1999);
Đàn bà : - (lớn hơn 25 tuổi) 25 ppt
(1997), 16 ppt
(1999);
- (từ 12 - 25 tuổi) 12 ppt
(1996), 14 ppt (1999);
Sữa mẹ/ A So:
1,4 - 16 ppt (1999).
Các kết luận
sau đây được ghi nhận trong báo cáo 1998:
· Dây chuyền thực
phẩm (food-chain) có chỉ dấu nhiễm độc
dioxin trong đất, đáy hồ, cá, vịt
, và người ở gần căn cứ A So.
· Ở những vùng khác
của thung lũng A Lưới lượng dioxin ở
dưới mức tác hại căn cứ theo
định mức Tây phương.
· Lượng dioxin
tương đối cao được t́m thấy trong
máu cư dân sống quanh căn cứ A So. Trẻ
em sinh sản sau chiến tranh cũng có lượng dioxin
cao trong máu chứng tỏ rằng dioxin đă xâm nhập vào
dây chuyền thực phẩm.
· Số lượng phân tích
cho thấy có sự liên hệ trực tiếp giữa chất
màu da cam và môi trường có ảnh hưởng lên sức
khỏe con người.Tuy nhiên báo cáo cũng đề
nghị cần phải có những khảo sát sâu rộng
hơn nữa cùng với sự tham gia của các tổ
chức đa quốc gia gồm những chuyên viên chuyên môn
về dioxin để thẩm định lại những
mối liến hệ trên.
Nh́n
chung các kết luận và đề
nghị trong báo cáo sơ khởi nầy tương
đối khách quan và trung thực dựa theo các số
liệu thu thập được. Qua
đến báo cáo 4/2000, và cũng là báo cáo tổng kết,
sự việc ḥan ṭan trái ngược hẳn. Cáo
số liệu trong báo cáo trước đă được
xử dụng lại cộng thêm một số kết
quả phân tích mới trong năm 1997,ø
1998, và 1999.
Về Đất.
Trước hết, theo kết luận
của Hatfield, căn cứ theo kết quả thu thập
năm 1996, 1997 th́ vùng đất đă bị ô nhiễm
dioxin phải được tuyên bố là vùng ô
nhiễm (contaminated site) (trang 2 trong báo cáo) căn cứ
theo quy định Tây phương (western juridictions). Theo
luật Canada, đất nông nghiệp và đất xây
cất nhà ở (residential) th́ tiêu chuẩn dioxin có thể
ảnh hưởng lên sức khỏe người dân không
được vượt quá 350 ppt. Trong lúc đó, US EPA
đă thẩm định và tái thẩm định liên
tục tác hại của dioxin để định
mức tiêu chuẩn chấp nhận được hơn
10 năm nay mà vẫn chưa có kết luận chắc
chắn , và định mức chấp nhận sự
hiện diện của dioxins trong đất hiện
tại là 1.000 ppb (phần tỷ - 10 -9 ). Đối với
những chất dioxin tương đương (dioxin-like
compounds) như các hợp chất hữu cơ có chứa
chlor, có trong hầu hết các thuốc diệt cỏ
dại hiện đang được xử dụng hàng
loạt ở Việt Nam, định mức của US EPA
c̣n thấp hơn so với dioxin, như DDE, DDD, DDT là 87 ppb,
Dieldrin, Endrin, 130 ppb, Aldrin, Lindane, 86 ppb, BHC, 66 ppb. Đây là định mức tối đa
để xử lư các chất phế thải rắn
độc hại thuộc nhóm lọai F039 của US EPA.
Nếu chất phế thải hay đất
được phân tích và cho kết quả dưới các
định mức trên th́ được di chuyển vào các
băi rác an ṭan không cần qua khâu xử lư
(Code of Federal Regulations - CFR EPA 40 Parts 260).
Về máu
người. Kết
quả phân tích và suy diễn hàm lượng dioxin trong máu
của cư dân sống tại A So đă được
tŕnh bày trên đây cho thấy có hiện tượng không
b́nh thường. Để có khaí niệm về hàm
lượng dioxin trong máu người dân sống ở các
nước Tây phương, các số liệu sau cho
thấy lượng dioxin trung b́nh trong máu người dân
sống chung quanh các cơ sở hay nhà
máy sản xuất có nguy cơ phóng thích ra dioxin trong quy tŕnh
sản xuất:
· Hoa kỳ (Dân chúng sống
chung quanh nhà máy giấy): 8,6 ppt dioxin;
·
· Hoa kỳ, Âu châu (Các nhà hóa
học phân tích): 8,6 ppt;
· Nga sô (Nhân viên văn pḥng
ở nhà máy hóa chất nông nghiệp): 23,5
ppt;
· Đức (nhà máy sản
xuất 2,4,5-T): 331,8 ppt và 125,6 ppt ở hai thành phố
sản xuất khác nhau;
· Nga sô (Nhà máy sản xuất
2,4,5-T) 168 ppt (đàn ông), 202 ppt (đàn
bà).
Cũng
xin nói thêm là 2,4,5-T (tên thương
mại là Silvex) đă bị cấm xử dụng và
sản xuất từ năm 1985 tại Hoa kỳ.
Đối
với tai nạn PCBs ở Bỉ năm 1999, Mattias Uberg
đă đo đạc được nồng độ
dioxin trong mô mở của gà từ 500 - 1000 pg/g
(lượng dioxin b́nh thường trong mở của gà là
0,6 pg/g) (pg/g = ppt).
Về
tai nạn tại Seveso ở Ư, Micheal
Petty tại Dioxin Conference (7/1/1999) công bố rằng thú
vật sống chung quanh nhà máy bị chết sau vài ngày
đến vài tuần và không có người chết nào
cả ngoại trừ ông Giám đốc nhà máy bị
Vệ binh Đỏ (Red Brigades) giết! Và thống kê
từ năm 1976 đến 1996 cho thấy tỷ lệ
về t́nh trạng hư thai, thai nhi thiếu cân
lượng, hay khuyết tật bẩm sinh (congenital
malformations) không thay đổi nơi vùng xảy ra tai
nạn ước tính khoảng 30 Kg dioxin thất thoát ra
ngoài...
Tiến
sĩ Bruce Ames, nhà độc tố học nổi tiếng
trên thế giới nhận định và so sánh rằng,
lượng dioxin mà con người hấp thụ trong thực
phẩm hàng ngày khoảng 1pg/Kg/ngày sẽ làm tăng sác
xuất ung thư thấp hơn việc uống một lon
bia/ngày trong 125 năm, và khả năng sinh con dị h́nh
dị dạng thấp hơn việc uống bia trong 3000
năm!
Trong
lúc đó, Greenpeace International công bố ngày 21/4/1997 rằng,
ba phần tư lănh thổ Nga Sô bị ô nhiễm dioxin.
Lư do chính yếu là do việc sản xuất PVC
(polyvinylchloride) trong thời gian từ thời Staline
đến ngày nay. Với 1 kg PVC được thiêu
hủy sẽ sinh ra môt lượng dioxin đủ
để giết sạch 50.000 chuột! Tại
thành phố Dzerzhinsk, cách Moscova 320 Km, lượng dioxin cao
gấp 50 lần định mức b́nh thường.
T́nh trạng tương tự như ở
Ở
những nơi có hàm lượng dioxin cao trong máu như
một vài vùng ở Đức, Nga sô, măi cho đến nay,
vẫn chưa thấy có báo cáo chính thức nào về các
hiện tượng dị h́nh dị dạng cũng
như các chứng ung thư xảy ra cho cư dân sống
chunh quanh vùng bị ô nhiễm.
Về
sữa mẹ. Báo cáo cung cấp lượng
dioxin t́m thấy trong sữa mẹ ở vùng A So trong năm
1999 thay đổi từ 1,9 đến 19 ppt cho 16 mẩu
thử nghiệm (trung b́nh là 14.6 ppt). Trong lúc đó, ở các
quốc gia Tây phương lượng dioxin trung b́nh trong
sữa mẹ được ghi nhận như sau:
Đức (526 mẩu thử nghiệm)ï 3,2 ppt (số
liệu của Cty Hatfield); Kazakhstan (vùng nông thôn ở Nga sô,
8 mẩu) 46,5 ppt (số liệu của Hatfield) ; Los Angeles
(21 mẩu) 3,1 ppt; Birmingham (Anh quốc, 1 mẩu) 6,5 ppt;
Thuỵ điển (10 mẩu) 3,3 ppt; Ḥa lan (nông thôn, 1
mẩu) 5,2 ppt; và Bỉ (vùng kỹ nghệ, 1 mẩu) 10,2
ppt. Theo báo cáo nghiên cứu của Kim Hooper et al. (Environmental
Health Perspectives Volume 107, Number 6, June/1999) th́ mức
độ ô nhiễm ở vùng nông nghiệp phía Nam tỉnh
Kazakhstan (Nga Sô) rất cao. Lượng dioxin
trong sữa mẹ đă lên đến 208pg/g (hay ppt)
(phần ức) qua 64 mẩu thử nghiệm, vùng nầy
là một vùng trồng bông vải và đă xử dụng
thuốc diệt cỏ dại có chứa TCDD.
Người viết đă trực tiếp hỏi Tiến sĩ Hooper
về t́nh trạng sức khỏe ở vùng nầy
nhưng được cho biết là không có báo cáo về
vấn đề nầy.
Sau
tai nạn PCBs tại Bỉ,
lượng dioxin trong sữa mẹ tăng gấp 10
lần so với sữa ḅ. Tuy nhiên, các nhóm trẻ em từ 3 tháng , 7
tháng, và 18 tháng được Ferdinand O. Engelbeen so sánh và theo
dơi bằng cách cho uống sữa mẹ và sữa ḅ trong
một thời gian. Nhưng cuối cùng, t́nh
trạng sức khỏe giữa các nhóm kễ trên không có ǵ
thay đổi.
Karl
Heinz Wilm (OurFood (c) 1998 - 2000) đă làm thống kê và dựa
theo báo cáo của WHO th́ lượng dioxin trung b́nh trong
sữa mẹ của người Đức 29,6 ppt vào năm 1985. Từ sau năm
nầy, chính phủ Đức phát động chương
tŕnh khuyến cáo các bà mẹ bớt ăn
thịt gia súc có nhiều mỡ v́ dioxin đă tích tụ
nhiều nhất nơi đây. Và kết quả là cho
đến năm 1994, lượng dioxin trung b́nh trong
sữa mẹ đă giăm xuống c̣n 15,9 ppt. Nếu so
với lượng dioxin đo đạc được
của Cty Hatfield th́ các bà mẹ Đức cưu mang trong
người lượng dioxin nhiều hơn so với các
bà mẹ A So!!! Và thế hệ trẻ của
Đức quốc vẫn c̣n khỏe mạnh và chưa có
báo hiệu bị nhiễm độc dioxin và phải
chịu nhiều hậu quả như ở A So.
Tóm
lại, các số liệu và dữ kiện trên đây là những
bằng cớ xác định sự hiện diện
của dioxin trong máu và sữa mẹ của cư dân
sống ở vùng A So, nơi bị phung xịt rất
nhiều chất da cam, và những nơi trên thế
giới đă xảy ra tai nạn hay nhiễm độc
dioxins. Kết quả so sánh cho thấy
nồng độ trong máu giữa các nơi kễ trên
cũng không sai biệt bao nhiêu, và tại những nơi
nầy cũng chưa thấy có chỉ dấu bất
thường nào cả.
B́nh
luận về báo cáo 4/2000
Ngay
trong phần mở đầu của phần kết
luận trong báo cáo 4/2000, Cty Hatfield đă khẳng
định như sau : Cho
đến ngày nay, với mức độ của dioxin
hiện diện trong môi trường và trong máu cư dân
sống quanh thung lũng A Lưới và nếu
trường hợp trên xảy ra ở những nơi
như Hoa kỳ, Canada, hay Âu châu, th́ một kế hoạch
bảo vệ sức khoẻ người dân sẽ
được khai triển tức khắc để
hạn chế hay giải quyết vấn đề.
Theo sự ghi
nhận của người viết, tại Hoa kỳ,
vấn đề giải quyết và xử lư ô nhiễm
dioxin chỉ xảy ra trong một trường hợp duy
nhất ở thị trấn Times Beach (Missouri), và quyết
định của chính quyền sở tại là phải di
chuyển 1.400 cư dân trong thành phố nầy và tiêu
hủy một số lượng lớn xà bần đă
bị ô nhiễm. Cũng tại Hoa kỳ, có rất
nhiều nhà máy sản xuất giấy tập trung ở
tiểu bang Wisconsin, là nơi sản xuất giấy và các
sản phẩm về giấy lớn nhất thế
giới; các cơ sở nầy thải hồi vô số
chất phế thải rắn và lỏng trong quy tŕnh
sản xuất có chứa dioxin....nhưng cho đếùn nay
vẫn chưa có báo cáo về ảnh hưởng của
hóa chất trên lên cư dân hay công nhân làm việc trong vùng.
Trong
phần kết luận về đất, Cty Hatfield lại
khẳng định thêm: Phần lớn
đất ô nhiễm đă liên đới một cách rơ ràng
(clearly) với 2,3,7,8-T4CDD chất da cam
chứ không phải phát xuất từ các nguồn kỹ
nghệ nào khác của dioxin. Nói như thế, tức
là khẳng định một cách vô căn cứ,
ḥan ṭan không dựa theo một căn
bản khoa học nào cả. Trong lúc đó các thuốc
diệt cỏ dại, thuốc trừ sâu rầy đan
cử ở phần trên đă được xử
dụng hàng loạt trong canh tác kễ từ sau chiến
tranh mà nồng độ t́m thấy cao hơn nhiều so
với nồng độ dioxin hiện diện, và các
thuốc nầy cũng là những hóa chất nầy
được xem như là hợp chất tương
đương dioxin . Hậu quả và mức tác hại
của những chất trên đă được chứng
minh và xác định một cách rơ ràng ảnh
hưởng lên sức khỏe con người như: ung thư, dị h́nh dị dạng nơi
trẻ sơ sinh...giống như đă được gán
cho dioxin.
Thêm
nữa, hàm lượng dioxin được t́m thấy
ở thung lũng A Lưới như Hatfield đă công
bố vẫn c̣n thấp so với nhiều nơi trên
thế giới, và tại những nơi nầy vẫn
chưa hề có những báo cáo để đánh
động dư luận và lương tâm thế giới
như ở A Lưới. Theo ước tính
của Arthur Westing (Nature, London, 298, 114, 8-7-1982) trong báo cáo
nơi Đại hội Quốc tế về Thuốc Khai
Quang và Diệt cỏ tại
Sàigon tháng 1/1983, trong số 57 triệu Kg chất da cam
xịt xuống miền Nam Việt Nam trên một diện
tích độ 38.000 Km2, tổng cộng có khoảng
độ 170 Kg Dioxin . Và cũng theo báo cáo trên, sự bán
hủy (half life) của dioxin là mười năm, thử
hỏi, sau hơn 30 năm, những vết tích của
dioxin có c̣n bao nhiêu nữa không?
Trong
số 128 thành viên tham dự Đại hôị đó có
sự hiện diện của một số khoa học gia
trước 1975 như Phạm Hoàng Hộ, Phạm Biểu
Tâm (đă qua đời), Bùi Thị Lạng, Lê Văn
Thới (đă qua đời) và Phùng Trung Ngân. Tiếc
rằng quan điểm của họ không có hoặc không
được công bố ?! . Bác sĩ-Tiếùn sĩ Lê Cao Đài là một thành
viên tích cực trong việc đi t́m dioxin từ
hơn hai thập niên qua, nhưng không hiểu tại sao
không tham dự trong kỳ Đại hội Quốc tế
nầy? Ông đă tham dự Đại hội Dioxin
2000 tại Monterey (Hoa kỳ), nhưng cũng không hiểu
tại sao ông không tố cáo trước dư
luận... về nạn nhiễm độc dioxin....mà
phải đợi đến khoảng sáu tháng trở
lại đây mới công bố hàng loạt kết quả
nghiên cứu về dioxin mà các mẩu đất và máu đă
được lấy từ những năm đầu 90 ?
Thêm
nữa, TS Nguyễn Khắc Viện có công bố trong
Đại hội Dioxin tại Saigon năm 1983 rằng, sau
1971, việc phung xịt thuốc màu da cam đă do Quân
lực VNCH đăm nhiệm cho đến khi chấm dứt
chiến tranh. Điều nầy có đúng
như lời tố cáo không? Xin quư
vị có thẩm quyền trong quân đội thời
bấy giờ lên tiếng.
Về
máu, Cty Hatfield lại khẳng định: Các
thử nghiệm năm 1999 xác nhận mức độ cao
của dioxin-chất da cam (AO dioxin) trong máu cư dân A So so
với kết quả năm 1997. Kết luận
nầy lại mâu thuẩn với những số liệu
đo đạc và lời b́nh (comments) của tác
giả. Đối với đàn ông, nồng
độ trong máu tăng từ 31 ppt (1997) lên 41 ppt (1999), và
đàn bà giảm từ 25 ppt (1997) xuống c̣n 16 ppt (1999).
Các số liệu trên
đă nói lên tính cách suy luận có định
kiến sẳn của báo cáo rồi. Và với kết
quả trên, làm sao giải thích được dioxin đă
xâm nhập vào dây chuyền thực phẩm qua gia súc và tôm cá... Hơn
nữa, ở một phần khác báo cáo giải thích
rằng, đàn ông ở A Lưới v́
thường xuyên đi làm việc ở xa thung lũng,
rất ít xử dụng lương thực có
được ở A Lưới...cho nên ít bị ảnh
hưởng của dioxin qua thức ăn hơn. Nếu nhận định như thế th́ làm sao
giải thích được lượng dioxin trong máu cao
nơi đàn ông? Và
nếu kết quả đo đạc là một xác tín, có
phải chăng các nam nhân nầy đă bị nhiễm do
các hoá chất diệt cỏ dại, thuốc diệt trùng
trong khi lao động ngoài đồng?
Ở
phần kết luận về thuốc diệt cỏ
dại, báo cáo ghi nhận: Việc
xử dụng các thuốc diệt cỏ dại thực
hiện ở mức độ thấp ở thung lũng,
do đó hàm lượng các chất trên c̣n ở mức
độ thấp trong ḷng đất và sữa mẹ.
Và trong một bảng ghi kết quả, tổng
lượng DDT, DDE, và DDD trong sữa mẹ được
ghi nhận là 10.611 ppt trong năm 1999 !?
Tại
sao Cty Hatfield và Ủy ban 10-80 lại chọn thung lũng A Lưới, một nơi hoang dă và
rất khó khăn đi lại làm điểm thí nghiệm?
Có thể có nhiều lư do trong đó:
· A Lưới đă nổi
danh dưới tên Hamburger Hill là nơi quân đội Hoa
kỳ với căn cứ không quân A So và có kho chứa
chất màu da cam;
· Hoặc dựa theo báo cáo của Hội Cựu quân nhân Hoa
kỳ trong việc đ̣i bồi thường về
những hậu quả mà họ và con cháu mắc phải;
· Hoặc đây là một
điểm nóng có thể đạt được
dương tính ngay trong khi phân tích mẩu;
Tại
sao phải đợi măi đến tháng 11/1996 mới
bắt đầu lấy mẩu trong khi Ủy ban 10-80
đă được thành lập từ tháng 10/1980?
· Có lẽ theo ước tính
của Ủy ban, thời điểm thuận lợi cho
việc la làng không thích hợp với thời gian
trước đây, và năm 1996 là thời gian thuận
lợi nhất ngay sau khi có được bang giao chính
thức với Hoa kỳ;
· Hoặc v́ chưa kết
hợp với một đối tác đồng thuận
như Cty Hatfield trước đo,ù
cũng như chưa nhận được nguồn tài
trợ trong thời gian đầu.
Cuối
cùng, sự mâu thuẩn trong số liệu về các mẩu
thử nghiệm làm cho báo cáo Hatfield có thêm nhiều nghi
vấn! Trong phần đầu của báo cáo
có ghi tổng số mẩu đă được phân tích là
50 mẩu v́ chi phí phân tích quá cao. Nhưng trong Figure 2.12
th́ tổng số mẩu tính riêng cho việc phân tích máu mà
thôi (không kễ việc phân tích đất, cây cối và súc
vật) đă lên đến 790 mẩu! Điều nầy
cho thấy tính tiền hậu bất nhất và thiếu
tính trong sáng trong nghiên cứu khoa học.
Thay lời kết
Như
đă tŕnh bày ở phần trên, chiến dịch hâm nóng
lại vấn đề chất da cam dioxin đă nở
rộ từ hơn sáu tháng trở lại đây trên
truyền thông, qua báo chí khắp nơi trên thế giới,
đặc biệt là ở Việt
Thử
hỏi, trong tất cả các kư giả, biên tập viên,
chuyên viên...có bao nhiêu người đă nghiên cứu ṭan
bộ số liệu ghi trong báo cáo, hay chỉ dựa theo
những đúc kết ngắn gọn và không có số
liệu chứng minh của Cty Hatfield tương tự như
báo cáo đă đăng trên tạp chí Ottawa Citizen tháng 4,2000 ở Canada.
Những
lời b́nh luận ở phần trên dựa trên căn
bản của các số liệu công bố trong báo cáo, và
được xem như là những dữ kiện
thật và đúng, mặc dù dựa theo kinh nghiệm
chuyên môn, vấn đề đo đạc dioxin vẫn c̣n
là một vấn đề cần phải thẩm
định lại nhiều nơn nữa về cách
lấy mẩu, xử lư mẩu (tách ly - extraction), và các
định chuẩn cần thiết cho việc phân tích
chính xác tới một phần ức (ppt ).
Dư
luận chỉ được biết qua báo chí và các
phương tiện truyền thông khác...và báo chí cũng
như truyền thông thường chạy theo
khuynh hướng công bố những ǵ có lợi cho chế
độ hiện hành hay tuân thủ theo những lư do chính
trị hay kinh tế chỉ định sẳn. Do đó,
các thông tin kễ trên thường mất đi tính khách quan
của tinh thần khoa học, nhất là tại các
quốc gia đang mở mang. Hơn nữa,
Cty Hatfield và Ủy ban 10-80 lại vô t́nh hay cố ư tạo
ra những báo cáo không trung thực, và đôi khi mâu thuẩn
với những khám phá đo đạc của chính công ty
ấy. Cty Hatfield đă thẩm
định và suy diễn một cách có dụng ư từ
những con số phân tích để đưa ra
những kết luận có thể làm sai lệch sự
thật.
Làm
như thế, Hatfield đă đánh lạc hướng
dư luận quần chúng trên thế giới, nhất là
quần chúng Việt Nam có thể hiểu một cách sai
lạc về vấn đề chất da cam - dioxin do quân
đội Hoa kỳ phung xịt xuống Miền Nam
Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong giai
đoạn chiến tranh vừa qua.
Làm
như thế, Cty Hatfield có dụng tâm ǵ khác hơn là hy
vọng có được một hợp đồng béo
bở cho việc xử lư vùng ô nhiễm?
Làm
như thế, Việt Nam hy vọng được ǵ ng̣ai
việc đánh động lương tâm thế giới,
mong t́m được số tiền bồi thường
khổng lồ từ phía chính phủ Hoa kỳ, mong
được thêm tài trợ từ các cơ quan từ
thiện trên thế giới, hay thầm kín hơn nữa,
mong giải thích cho đồng bào cùng khổ ở Việt
Nam biết được rằng v́ hậu quả
chiến tranh triền miên mà không thể phát triển
đất nước như mong muốn để cho dân giàu
nước mạnh được?!
Nên
nhớ, hiện tại chính phủ Hoa kỳ chấp
nhận tài trợ chi phí y tế cho cựu quân nhân Hoa
kỳ và con cháu, không phải v́ công nhận hậu quả
của dioxins, nhưng là một hành động thuần túy
nhân đạo và chính trị để trấn an dư
luận của Hội Cựu Chiến binh Hoa kỳ.
Vấn
đề dioxin hiện diện trong chất màu da cam là
một thực tế không cần phải bàn cải thêm
nữa. Nhưng vấn đề ở
đây là làm thế nào xác định được
một cách chính xác và có căn bản về mức độ nhiễm
độc của dioxin lên con người. Hậu
quả của dioxin phải được chứng minh
bằng khoa học và thử nghiệm đứng
đắn. Những nơi có đông dân cư và là
những điểm nóng trong thờùi gian quân đội Hoa
kỳ hiện diện ở Việt
Làm
như thế, may ra mới có được sự
tiếp tay của thế giới v́ nhân
đạo.
Làm
sao chất
da cam dioxin có thể lên tận Phú Thọ, Thái Nguyên ?
Ghi
chú: Trong buổi nói chuyện tại Houston ngày 12/8/2001
về Hiện trạng ô nhiễm ở Việt Nam,
người viết có hân hạnh được tiếp
xúc với cựu Đại tá Phạm Bá Hoa, cựu Tham
mưu trưởng Tổng cục tíêp vận và
được cho biết Đại tá là thành viên trong
Ủy ban 202. Ủy ban nầy đặc trách liên lạc và
phối hợp hành quân trong chiến dịch phung xịt
chất da cam ở Việt
Khi
về lại, người viết đă liên lạc
với cựu Đại tá Huỳnh Công Chức, Chỉ
huy trưởng tíếp vận tại Biên Ḥa, hiện
ngụ tại Fresno và cũng được Đại tá xác
nhận là không có việc quân đội VNCH hành quân phung
xịt tiếp theo chiến dịch Ranch Hand như lời
của TS Nguyễn Khắc Viện tố cáo trong
Đại hội thế giới về Dioxin năm 1983.
Mai
Thanh Truyết