Clor Trong Đời
Sống: Lợi & Hại - Chlorine in Life: Point &
Counterpoint
Hiện tại có một điều
không thể chối cải là sự hiện diện
của nguyên tố clor ở khắp mọi khía cạnh
trong đời sống của chúng ta. Clor dùng để khử
trùng các hồ tắm cũng như đem lại sự an toàn trong nguồn nước uống v́ tính
khử trùng đặc biệt đối với vi
khuẩn E-coliform.
Nguyên tố clor cũng
rất quan trọng trong kỹ nghệ chất dẽo hay
plastic v́ nhờ đó chúng ta có đủ loại dụng
cụ phục vụ cho nhu cầu đời sống
của con người. Trong kỹ nghệ di chuyển như
xe cộ, máy bay; trong nông nghiệp như
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật...đâu đâu
cũng cần sự có mặt của clor.
Tuy nhiên, ngoài những
lợi điểm trên, clor là một nguy cơ của bao
nhiêu bịnh tật mang đến cho con người. Hiện tại
chúng ta, người Việt
Cũng cần nên biết
mức sản xuất của clor nguyên chất và ở
thể lỏng dưới áp suất là 40 triệu tấn
hàng năm tại Hoa Kỳ. Trong đó 1/3 nằm trong công
nghệ chất dẽo PVC. PVC là chất dẽo căn
bản để chế tạo hầu hết các loại
chất dẽo khác từ bao b́, cho dến những dụng
cụ rắn và cao cấp như vơ, và cánh máy bay v.v... Ngược
lại, PVC khi bị đốt cháy sẽ biến thành
dioxins phát thải vào không khí, nguyên nhân của nhiều
bịnh ung thư cho con người và có
thể tạo ra dị h́nh dị dạng cho trẻ sơ
sinh.
Do đó, vấn đề đặt
ra là làm thế nào để nhận diện và phân biệt được
mức độ lợi và hại của clor trong đời
sống. Đề tài nầy cũng là một tranh căi dai
dẳng giữa hai phương hướng hoàn toàn trái
nghịch nhau: Đó là TS Howlett Jr., Giám đốc điều
hành Hội đồng Hóa học Clor (CCC) và TS Terrence Collins,
GS Đại học Carnegie Mellon và cũng là Giám đốc
Viện Oxid Hóa học Xanh (Institute of Green Oxidation Chemistry).
Đối
thoại 1
Quan niệm của trường
phái Collins căn cứ vào sự tin tưởng là dioxins là
những hóa chất không thể chấp nhận đượcv́
chúng trực tiếp gây nguy hại đến sức
khỏe con người, đặc biệt là phụ
nữ đang mang thai, bào thai trong bụng mẹ, và các
trẻ sơ sinh. Trường phái nầy cũng tin tưởng
rằng những
thuận lợi trong việc xử dụng những
hợp chất chứa clor không thể bù lấp lại được
các di hại của chúng lên con người.
Trong lúc đó quan điểm
của trường phái Howlett ngược lại, biện
minh rằng clor là một nguyên tố cần thiết cho
sự phát triển bền vững của nhân loại
chỉ v́ hai ứng dụng lớn nhất của clor
làkhử trùng trong nguồn nước uống và là hóa
chất cần thiết trong hầu hết tất cả
các công tŕnh tổng hợp dược phẩm. Đó là chưa
kể đến những phát minh gần đây nhất cho
thế kỷ 21 là clor là tác nhân chính góp phần vào sự
h́nh thành công nghệ nano, một thành tựu khoa
học mới nhất của con người ngày hôm nay.
Howlett c̣n đi xa hơn nữa trong việc cổ súy
việc ứng dụng clor trong các công nghệ hóa chất dưới
danh nghĩa của Phó chủ tịch Hội đồng
Hóa học Hoa Kỳ (ACC) và đă gữi đề nghị đến
LHQ về sự đóng góp của nguyên tố clor trong
việc bảo vệ sức khỏe của nhân loại.
Để đối
lại điều nầy, Collins nêu lên những di hại
lâu dài của clor và chứng minh rằng bộ môn hóa
học clor chưa được nghiên cứu kỷ lưỡng
cũng như những nhà làm khoa học hiện đại
chưa định mức và đo lường một cách
chính xác di hại lâu dài của clor. Tuy nhiên, ông vẫn tin tưởng
rằng trong một tương lai không xa, các khoa học gia
sẽ t́m ra phương pháp để ngăn ngừa
sự h́nh thành dioxins trong khi thiêu đốt chất PVC.
Đối
thoại 2
Qua Hội đồng Hóa
học Clor, TS Hewlett đề cao thế chân vạc của
sự phát triển bền vững là: kinh tế, môi trường,
và xă hội, trong đó clor và sút (NaOH) đă đóng góp vào
hàng ngàn cơ chế, quy tŕnh sản xuất sản
phẩm phục vụ cho đời sống con người
trong nhiều lănh vực khác nhau như: sức khỏe, an
toàn thực phẩm, di chuyển và truyền thông... Chính xác hơn nữa là cho nhu cầu nước
sạch. Trên thế giới vẫn c̣n trên 1 tỷ người
chưa có nguồn nước sạch trong đó clor là thành
phần chính trong việc khử trùng trên: 85% clor dự
phần vào công việc điều chế và tổng
hợp dược phẩm, ngay cả thuốc chủng
ngừa độc chất anthrax.
Vào đầu thập niên
90, dưới áp lực của phong trào chống việc
xử dụng clor trong việc khử trùng nguồn nước
uống của dân chúng
Theo thống kê, trước
khi clor được xử dụng cho việc khử
trùng nguồn nước năm 1940, th́ trên thế giới
hàng năm có độ 3 triệu người thiệt
mạng v́ bịnh thương hàn (typhoid). Từ khi công nghệ clor
ra đời sau đó, con số nạn nhân v́ bịnh
nầy đă giảm dần đến 16 ngàn năm 1945 và đến
năm 1950 hầu như không c̣n thấy bịnh thương
hàn trên thế giới nữa có chăng chỉ là những
trường hợp cá biệt, không c̣n là dịch bịnh
nữa. Căn cứ vào Viện Kiểm kê Độc
chất phát thải vào không kgí (TRI) cũng như nhờ vào
công nghệ mới và sạch, các chuyển hóa chất có
clor khi bị đốt cháy lượng dioxins phát thải
giảm dần được ước tính là 77% năm
1995 so với lượng phát thải năm 1987 ở Hoa
Kỳ.
Trở qua quan điểm
ngược lại của trường phái Collins, ông cho
rằng tính toán của cơ quan trên không có những
luận cứ chính xác qua các tính toán về sự phát
thải dioxins
và điều đó chỉ
diễn đạt theo quan điểm của Hoa Kỳ mà
thôi. Việc clor dùng cho việc khử trùng
nguồn nước chỉ chiếm dưới 1% tổng
lượng của clor dùng trong các công nghệ khác. Ông
c̣n tố cáo chính phủ Hoa Kỳ qua việc Ủy hội
Hóa học Clor đă có những thông tin sai lạc và hướng
dẫn dư luận theo quan điểm của chính
quyền về vấn đề nầy. Ông luôn luôn
nhấn mạnh là hiểm họa của dioxins vẫn là
chính và clor là tác nhân căn bản tạo nên hiểm họa
nầy. Nên nhớ lượng dioxin trung b́nh trong máu của
ngưới Hoa Kỳ là từ 3 đến 6 phần
ức (ppt), cao so với mức trung b́nh của mọi dân
tộc trên thế giới là 2 phần ức v́ lượng
dioxin phát thải trong không khí thấp so với Hoa Kỳ.. Sau cùng, ông kết luận
rằng mặc dù clor là nguyên tố làm nền tảng
nhiều ứng dụng cho văn minh nhân loại, nhưng
dioxin vẫn là hiểm họa chính cho tương lai toàn
cầu.
Đối
thoại 3
Để đối
lại với quan điểm trên đây của trường
phái Collins, TS Hewlett đă lập luận bằng những
con số thống kê về mức kết tụ của
dioxins trong trầm tích ở ao hồ, trong cơ thể con
người so với thời gian và mức tăng trưởng
của clor trong công nghệ chế biến PVC từ năm
1950 đến nay. Trong năm nầy, PVC
mới vừa được phát minh, nồng độ
dioxins trung b́nh trong trầm tích của ao hồ là 20 phần
ức. Nồng độ nầy tăng dần theo
tỷ lệ thuận với sự phát triển của PVC
lên đến 37 phần ức năm 1965 và sau đó
giảm dần dến 4 phần ức hiện nay. Trong lúc đó
nồng độ trung b́nh của dioxins trong máu con người
ở mức cao là 89 phần ức năm 1975 và giảm
dần xuống c̣n khoảng 20 phần ức hiện
tại (đây là nồng độ tính chung cả dioxin và
dioxin-tương đương).Trong khi đó, suốt
khoảng thời gian nầy lượng PVC sản
xuất tại Hoa Kỳ tăng lên đến 14 tỷ cân
Anh trong năm 2004. Điều nầy chứng minh rằng,
theo quan điểm của TS Hewlett th́
công nghệ mới đă làm giảm thiểu lượng
dioxins thải hồi vào không khí và nguồn nước dù
mức sản xuất PVC đă tăng vọt quá cao.
Trên đây là những
cuộc tranh luận và biện giải của hai trường
phaí thuận và chống trong việc áp dụng clor vào đời
sống của chúng ta. Nếu nghiêng hẳn về quan điểm
của Hội đồng Hóa học Clor, thêá giới
sẽ đôái mặt với một vấn nạn trầm
trọng là số nạn nhân của bịnh ung thư do
sự hiện diện của hầu hết hợp
chất chứa clor trong sinh hoạt hàng ngày của con người,
sẽ tăng lên nhanh chóng trong các thế hệ sắp đến.
Ngược lại, nếu chúng ta áp dụng
triệt để quan điểm Collins, toàn cầu sẽ
trực diện với cuộc khủng hoảng kinh
tế v́ công nghệ fluor dùng để thay thế clor chưa
đủ phát triển nhanh trong các ứng dụngcủa
nguyên tố sau cùng nầy.
Từ việc khủng
hoảng kinh tế có thể đưa đến nạn đói
ở nhiều vùng, ở các quôc gia đang phát triển v́
nông phẩm sẽ bị giảm thiểu v́ không đủ
phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Đứng trước
viễn ảnh giữa hai đối cực, sự
chọn lựa hợp lư nhất có thể là chấp
nhận những công nghệ clor nào gây ra ảnh hưởng
lên môi trường và lên sức khỏe tương đối
ít nhất.
Việc áp dụng hóa học xanh vào những công nghệ
clor có thể gây di hại nặng nề đến toàn
cầu cần phải được cân nhắc kỷ lưỡng.
Đặc biệt là công nghệ hóa chất bảo vệ
thực vật cần phải được các quốc
gia trên thế giới nghiêm chỉnh thi hành như trường
hợp của 12 hóa chất dơ bẩn hay hóa chất
hữu cơ không bị hủy diệt như DDT, PCBs,
Furans, Lindane, Chlordane, Endrin... đă được LHQ
loại trừ hẳn trong sản xuất và ứng
dụng qua Nghị quyết Stockhlom, Thụy Điển vào
năm 2002.
Làm như thế, chúng ta
sẽ không làm xáo trộn tiến tŕnh toàn cầu hóa của
thế giới và giữ được cân bằng giữa
phát triển và bảo vệ môi trường.
Mai Thanh Truyết
Hội KH&KTVN (VAST)